Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh ngân hàng Đầu tư và phát triển Hai Bà Trưng - Pdf 21

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt trong số các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; đó là loại hình kinh doanh tiền tệ và các
dịch vụ tài chính có liên quan. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh trong hoạt động ngân
hàng là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, bởi vì hoạt động ngân hàng là một
trong số các loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mà cạnh
tranh là một đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh trong nền kinh tế
thị trường hiện nay, có thể thấy qua việc hàng loạt các ngân hàng đang tích cực tăng
thêm số lượng các chi nhánh: ngân hàng ACB và các ngân hàng mới được cấp phép
hoạt động đang đẩy mạnh thành lập các chi nhánh và phòng giao dịch mới, nhiều
ngân hàng thương mại cổ phần khác sau một thời gian dài “im hơi, lặng tiếng”, thì
nay đang thành lập thêm các chi nhánh và phòng giao dịch mới như: Ngân hàng Đại
Á, Ngân hàng Bắc Á, Ngân hàng Sài Gòn, Ngân hàng Phương Nam. Rõ ràng, sự cạnh
tranh trong lĩnh vực NH đang diễn ra hết sực sôi động và quyết liệt.
Ngân hàng đầu tư và phát triển là một trong nhưng ngân hàng lớn trong hệ
thống NHTM ở Việt Nam, được thành lập từ năm 1957 ngân hàng có một hệ thống
các chi nhánh trên toàn quốc. Và mới đây ngân hàng mở thêm chi nhánh thứ 105 tại
Hai Bà Trưng. Là một chi nhánh mới được thành lập năm 2008, chi nhánh Ngân hàng
Hai Bà Trưng đang từng bước ổn định, triển khai hoạt động với chiển lược phát triển,
kế hoạch kinh doanh nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu khách hàng, cơ cấu sản
phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập kinh
tế quốc tế. Hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì hàng loạt các chi
nhánh của các ngân hàng đang được mở ra và đó là thách thức không nhỏ đối với chi
nhánh ngân hàng BIDV Hai Bà Trưng. Muốn đứng vững và phát triển, chi nhánh
ngân hàng BIDV HBT luôn phải tìm mọi cách để có thể thu hút được khách hàng
nhằm tăng lợi nhuận.
Không những vậy, chi nhánh ngân hàng BIDV HBT cũng phải đối mặt với sự
cạnh tranh ngay chính nội bộ các chi nhánh khác nhau của ngân hàng BIDV. Để là
một trong những chi nhánh đi đầu về phát triển lượng khách hàng nhằm tăng lợi
nhuận, và làm tăng thêm được vị thế của mình so với các chi nhánh khác của BIDV.

báo định tính. Các số liệu được thu thập từ tài liệu thống kê, báo cáo hiện có, từ báo
trí và các tài liệu trên internet.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
2
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Kết cấu của đề tài
Từ những vấn dề được đề cập ở mục đích nghiên cứu thì ngoài lời mở đầu, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu theo 4 chương như sau:
Chương I: Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh cho chi nhánh BIDV HBT
Chương II: Khung lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh trong ngân hàng
Chương III: Phân tích năng lực cạnh tranh của chi nhánh BIDV HBT ở thời
điểm hiện tại
Chương IV: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng cạnh tranh của chi
nhánh NHĐT & PTHBT trong giai đoạn 2010-2015.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ths. Nguyễn Thị Hoa cùng các cán
bộ tại cơ quan thực tập đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. Do
hạn chế về thời gian và kiến thức thực tế nên chuyên đề tốt nghiệp có thể có những
thiếu sót. Tôi mong được sự góp ý và giúp đỡ của cô giáo và các cô chú, anh chị
trong đơn vị thực tập để bài chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CHO CHI NHÁNH BIDV HBT
I. Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là
động lực phát triển của nền kinh tế. Vậy cạnh tranh là gì?

lực cạnh tranh là khả năng dành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng
hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”.
Theo Micheal porter, một học giả kinh tế, thì không có một định nghĩa thật sự
về năng lực cạnh tranh và không có một lý thuyết nào giải thích nó được chấp nhận
một cách phổ biến.
Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên đều thống nhất khái
niệm năng lực cạnh tranh có thể được nhìn nhận ở cả hai cấp độ: cấp độ vĩ mô bao
gồm năng lực cạnh tranh quốc gia và cấp vi mô bao gồm năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, của các ngành kinh doanh và của sản phẩm.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997, năng lực cạnh tranh quốc gia
được hiểu là “năng lực của nền kinh tế quôc dân đạt và duy trì mức tăng trưởng cao
về kinh tế, thu nhập và việc làm” . Như vậy, ta thấy rằng năng lực cạnh tranh cấp
quốc gia có thể được hiểu là năng lực để xây dựng một môi trường kinh tế chung,
đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì được mức tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững.
Ở cấp vi mô, năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ nào
đó trên thị trường trong nước và quốc tế thì được hiểu là “sự thể hiện tính ưu việt hay
hơn hẳn của nó về các mặt định tính và định lượng so với những sản phẩm cùng loại
như: Chất lượng, giá cả, tính năng kiểu dáng, thương hiệu… Nó thể hiện khả năng
hấp dẫn tiêu dung của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể
và trong một thời gian nhất đinh” . Khác với khái niệm năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, thuật ngữ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tuy được sử dụng một cách
rất rộng rãi nhưng vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng và cũng có nhiều khác biệt sẽ
được đề cập dưới đây.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
2. Năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Ta thấy có rất nhiều những quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp như:

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
nghiệp hay ngành đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một quốc gia hay nền kinh
tế có năng lực cạnh tranh tốt điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp hay ngành tạo
dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Và nói cách khác thì
năng lực cạnh tranh của quốc gia là một nguồn hình thành nên năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp hay ngành. Khi các doanh nghiệp hay ngành có được năng lực
cạnh tranh điều này sẽ góp phần vào việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến
môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp hay ngành đó và do đó nó góp phần vào việc
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nên nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hay ngành chính là
việc ta tạo ra, duy trì, tận dụng và phát triển lợi thế cạnh tranh nhằm phục vụ tốt hơn
nhu cầu của thị trường, thông qua đó đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề
ra.
II. Sự khác biệt giữa cạnh tranh trong ngân hàng và cạnh tranh trong
doanh nghiệp kinh doanh
1. Cạnh tranh trong ngân hàng
Hoạt động Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt trong số các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động Ngân hàng được hiểu là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan. Do đó cạnh tranh trong
Ngân hàng chính là chủ thể Ngân hàng cùng với nghệ thuật sử dụng tổng hợp các
phương thức, yếu tố, … nhằm giành được phần thắng trên thị trường, với lợi nhuận
cao nhất, nâng cao vai trò và vị thế của mình trên thị trường.
Đối với nền kinh tế, thì cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng là một động
lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì hoạt động Ngân hàng là một trong số các
loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mà cạnh tranh là một đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh trong ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: khách hàng, thị trường,
nền kinh tế và cơ quan quản lý.
1.1. Khách hàng
Không giống với các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường,

lựa chọn Ngân hàng của khách hàng bởi vì đó cũng là tiêu chuẩn để phòng ngừa rủi
ro khi đầu tư vốn.
Đó là những động cơ chủ yếu mang tính chất lý tính thúc đẩy khách hàng
mua các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng.
1.2. Thị trường, nền kinh tế và cơ quan quản lý
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Đặc điểm, tính chất và nội dung cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng của
mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào: thể chế chính trị, môi trường pháp lý, trình độ phát triển
kinh tế, đường lối chính sách trong từng thời kỳ và phong tục tập quán. Sự phát triển
của một nền kinh tế được thể hiện rõ qua mức cầu về hàng hóa tiêu dùng của dân cư.
Mức cầu đó chính là số lượng và mức độ của các nhu cầu có khả năng thanh toán.
Việc phát triển hoạt động cho vay gúp tăng cầu trong các hoạt động mua bán như:
nguyên liệu dùng trong sản xuất, đầu tư phát triển của doanh nghiệp,... cho vay mua
sắm đối với các cá nhân và hộ gia đình như: oto, tivi, các trang thiết bị trong gia
đình...Làm tăng khả năng tiêu dùng trên thị trường từ đó kích thích nền kinh tế phát
triển.
Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hoạt động Ngân hàng
cũng phát triển và cạnh tranh rất sôi động, các cơ chế quản lý phần nhiều là sử dụng
công cụ gián tiếp, hoặc các chế tài quy định trong luật chuyên ngành. Còn đối với các
nước chậm phát triển hay đang trong quá trình chuyển đổi thì các công cụ quản lý
trực tiếp, các biện pháp hành chính được sử dụng nhiều hơn.
Quản lý về hoạt động cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng, các quốc gia đều
có bộ luật riêng về Ngân hàng và có cơ quan chuyên môn riêng quản lý về lĩnh vực
này. Mục tiêu quản lý là bảo vệ quyền lợi khách hàng - người gửi tiền, chống độc
quyền, đảm bảo an toàn cho hệ thống Ngân hàng và hệ thống tiền tệ, thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia.
2. Sự khác biệt giữa cạnh tranh trong ngân hàng và cạnh tranh trong doanh
nghiệp

vụ nào đó, hay Ngân hàng phải trả cho người cung cấp dịch vụ.
Hoạt động Ngân hàng ngày càng phát triển, các loại dịch vụ Ngân hàng ngày
càng phát triển và đa dạng. Có thể kể đến một số loại phí dịch vụ chính của một Ngân
hàng như sau:Phí bảo lãnh; Phí thanh toán, chuyển tiền; Phí tư vấn, cung cấp thông
tin; Phí giữ hộ (ngân quỹ), …
Trong quản trị điều hành về lĩnh vực này, ngoài việc đưa ra mức phí hấp dẫn
cho khách hàng thì vấn đề quan trọng tiếp theo là chất lượng dịch vụ ngày càng hoàn
hảo và tiện lợi.
+Hai là Sử dụng các nghiệp vụ và đưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng:
-Tiền gửi, huy động vốn: Mục tiêu cạnh tranh của mỗi Ngân hàng là làm sao
huy động được khối lượng vốn đủ lớn phục vụ cho kinh doanh với lãi suất thấp nhất.
Nghệ thuật cạnh tranh là đa dạng hoá các hình thức gửi tiền và huy động vốn với việc
tổ chức giao dịch tiện lợi.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
-Cho vay, bảo lãnh, cho thuê, đầu tư… lĩnh vực này có thể được gọi là sử
dụng vốn. Mục tiêu là làm sao sử dụng tối đa nguồn vốn trong phạm vi cho phép bảo
đảm an toàn, tạo chất lượng cao, thu được nhiều lãi. Nghệ thuật cạnh tranh cũng là đa
dạng hoá các hình thức, linh hoạt lãi suất, làm tốt công tác tiếp thị,…
-Chiết khấu, tái chiết khấu mục tiêu cũng là có mức chiết khấu hợp lý, khối
lượng chiết khấu đủ lớn, khách hàng đông đảo,… nhằm thu được lợi nhuận từ nghiệp
vụ ngày càng cao.
-Kinh doanh hối đoái, thu đổi ngoại tệ mục tiêu cũng là thu được lợi nhuận
ngày càng cao. Phương pháp là luôn đưa ra mức tỷ giá và dự đoán biến động tỷ giá
chính xác để quyết định khối lượng mua, bán ngoại tệ, thu đổi ngoại tệ hợp lý, thu
hút khách hàng đông đảo. Yêu cầu của chính khách hàng là uy tín Ngân hàng, thuận
tiện, mức tỷ giá hợp lý.
-Dịch vụ khác: ngân quỹ, tư vấn… đây cũng là một nhóm dịch vụ Ngân hàng,
mục đích là thu phí, bổ sung cho tăng lợi nhuận của Ngân hàng. Yêu cầu của khách

nhiều công tác quảng cáo, tiếp thị cũng như mở rộng mạng lưới, đào tạo và đào tạo
lại cán bộ.
CHƯƠNG II. KHUNG LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG NGÂN HÀNG
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Để đánh giá năng lực cạnh tranh trong ngân hàng ta có thể: sử dụng phân tích
quy mô và kết cấu huy động vốn, phân tích quy mô và cơ cấu tài sản, phân tích chi
phí và thu nhập, sử dụng mô hình lý thuyết của Micheal porter. Trong chuyên đề này
tôi sử dụng mô hình Micheal Porter. Mô hình của Micheal Porter cho ta cái nhìn đầy
đủ và tổng quan nhất về những cơ hội và thách thức khi cạnh tranh trên thị trường tài
chính và đồng thời nhìn nhận được những điểm mạnh và điểm yếu của ngân hàng. Từ
đó nhìn nhận thị trường của chi nhánh và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các
xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp
với nguồn lực của ngân hàng.
I. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
Hình 2.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
(nguồn: saga.vn/Marketing/Phantichvadubao/2826.saga)
- Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp:
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp
lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Nếu trên thị
trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh
hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp : Trong vấn đề này ta nghiên cứu
khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển
đổi nhà cung cấp (Switching Cost).

Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu
cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành.
áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với
các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng , các yếu tố
khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe
dọa của sản phẩm thay thế.
- Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành:
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo
ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong một ngành các
yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ
+ Tình trạng ngành : Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng ,số lượng đối thủ cạnh tranh...
+ Cấu trúc của ngành : Ngành tập trung hay phân tán
Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau
nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại.
Ngành tập trung : Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vai
trò chi phối ( Điều khiển cạnh tranh- Có thể coi là độc quyền)
+ Các rào cản rút lui (Exit Barries) : Giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản
rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó
khăn :
• Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư
• Ràng buộc với người lao động
• Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (Stakeholder)
• Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
II. Mô hình đã được vận dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân
hàng
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
1. Nguy cơ từ các ngân hàng mới
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên

16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao
lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn
trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng.
Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến
cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì
khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng.
Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có
khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo
hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó là
chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi”. Không phải lúc nào lãi suất
ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng.
3. Quyền lực của khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khách hàng được phân làm 2 nhóm:
+Khách hàng cá nhân
+Khách hàng các doanh nghiệp, công ty, tổ chức chính phủ, phi chính phủ…
Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm,
dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua
quyết định mua hàng.
Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là
việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không
đồng thuận. Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình
nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách
hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong
ngành ngân hàng tại Việt Nam.
Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng
vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của

• Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư
• Ràng buộc với người lao động
• Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (Stakeholder)
• Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác
động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết,
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến
cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc
cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị
trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị
trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.
Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân
hàng khác. Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần
và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác,
ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.
Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều
ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ
xấu trong cho vay bất động sản. Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong
khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể. Ngoài ra, ngân hàng
ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng
chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking).
Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên
nhiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân
hàng trong nước đã trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự...
khá quy mô. Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với khách
hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối
với những khách hàng quan trọng của họ.

-Thương hiệu: Sự tin tưởng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng bởi chính tên tuổi của ngân hàng tạo cho khách hàng lòng tin khi đến ngân
hàng.
-Độc đáo sản phẩm: các sản phẩm phong phú là yếu tố thu hút khách hàng
-Hệ thống mạng lưới phân phối: giúp khách hàng biết đến ngân hàng nhiêu
hơn và thuận tiên khi khách hàng muốn sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Tất cả những yếu tố đó quyểt định đến sự thành công của ngân hàng, nâng cao
vị thế của ngân hàng trên thị trường và là lợi thế của ngân hàng khi cạnh tranh.
Hình 2.2: Sơ đồ mạng nhện
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
(Nguồn:Giáo trình chiến lược kinh doanh)
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CHI NHÁNH BIDV HBT
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
8
9
3
3
7
6
Khách hàng
Nội bộ
ngành
Đối thủ
tiềm ẩn
Nhà cung
cấp
Sản phẩm

năng trên nền công nghiệp hiện đại hóa để thỏa mãn nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng tiện ích cao cho khách hàng. Nhiệm vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hai Bà Trưng là cung ứng vốn, dịch vụ tài chính cho khu vực dân doanh, cụ thể
là các doanh ngiệp nhỏ và vừa. Trong tương lai Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hai
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Kế hoạch và phát triển
Bà Trưng sẽ tiến tới trở thành một trong những chi nhánh đầu tiên đưa ra các sản
phẩm mới của Ngân hàng đến với khách hàng.
Hiện nay Chi nhánh hoạt động theo mô hình tổ chức TA2. Gồm :
Hình 3.1 : Mô hình tổ chức hoạt động của chi nhánh
(Nguồn: chi nhánh BIDV HBT)
+Ban giám đốc
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
23
P.Tổ
chức
nhân sự
P.Tài
chính
kế toán
P.Điện
toán
P.Kế
hoạch
tổng
hợp
P.Quản
lý và
dịch vụ

theo sự phân công và ủy quyền của giám đốc, đồng thời chịu trách nhiệm trước giám
đốc về nhiệm vụ được giao.
+Phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp chức năng
-Công tác tiếp thị và phát triển khách hàng:
+Tham mưu, đề xuất chính sách, kế hoạch phát triển quan hệ khách hàng
+ Trực tiếp tiếp thị và bán sản phẩm (sản phẩm bán buôn, tài trợ thương mại,
dịch vụ...)
+ Chịu trách nhiệm thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với khách
hàng và bán sản phẩm của ngân hàng
-Công tác tín dụng: Trực tiếp đề xuất hạn mức, giới hạn tín dụng và đề xuất
tín dụng. Đồng thời theo dõi, quản lý tình hình hoạt động của khách hàng, phân loại,
rà soát phát hiện rủi ro, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị miễn/giảm lãi, đề xuất
miễn/giảm lãi và chuyển Phòng Quản lý rủi ro xử lý tiếp theo quy định.
+Phòng quan hệ khách hàng cá nhân
-Công tác tiếp thị và phát triển khách hàng: Tham mưu, đề xuất chính sách và kế
hoạch phát triển khách hàng cá nhân, tiếp nhận, triển khai và phát triển các sản phẩm
tín dụng, dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân của BIDV. Phối hợp với
các đơn vị liên quan/đề nghị BIDV hỗ trợ tổ chức quảng bá, giới thiệu với khách
hàng về những sản phẩm dịch vụ của BIDV dành cho khách hàng cá nhân, những tiện
ích và những lợi ích mà khách hàng được hưởng.
-Công tác bán sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Tư vấn cho khách hàng
lựa chọn sử dụng các sản phẩm bán lẻ của BIDV. Phổ biến, hướng dẫn, giải đáp thắc
mắc cho khách hàng về quy trình sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng với tính
chuyên nghiệp cao. Chịu trách nhiệm về việc bán sản phẩm, nâng cao thị phần của
chi nhánh, tối ưu hoá doanh thu nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận, phù hợp với chính sách
và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
-Công tác tín dụng: Tiếp xúc với khách hàng, tìm hiểu nhu cầu, tiếp nhận hồ
sơ vay vốn. Theo dõi tình hình hoạt động của khách hàng, kiểm tra, giám sát tình
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
24

+Phòng thanh toán quốc tế: Trực tiếp thực hiện tác nghiệp các giao dịch tài
trợ thương mại với khách hàng. Đồng thời phối hợp với các phòng liên quan để tiếp
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương Lớp: Kinh tế phát triển 48B
25

Trích đoạn Định hướng và mục tiêu phát triển NHĐT & PTHBT trong giai đoạn2010-2015. Những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho chi nhánh NHĐT & PTHBT Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status