hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm - Pdf 28


CÁC TỪ VIẾT TẮT:
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự.
TTDS: Tố tụng dân sự.
TTHS: Tố tụng hình sự.

A. PHẦN MỞ BÀI:
Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu đánh giá chứng cứ tại tòa sơ thẩm và phúc thẩm
là một trong những hoạt động cụ thể của hoạt động chứng minh tại tòa sơ thẩm, phúc thẩm.
Việc nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành và hoàn thiện các quy định của BLTTDS về
cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ là thực sự cần thiết. Bài viết dưới đây xin
phân tích về vấn đề này.
B. PHẦN THÂN BÀI:
I. Khái niệm vể hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại
tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm:
1. Khái niệm cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự:
Trước tiên ta tìm hiểu về chứng cứ. Trong BLTTDS năm 2004, khái niệm chứng cứ lần
đầu tiên được ghi nhận một cách tương đối đầy đủ tại Điều 81, theo đó:
“ Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ
luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự
là các căn cứ hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết
đúng đắn vụ việc dân sự”.
Cung cấp chứng cứ được quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), các
đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo về quyền lợi của mình, cá nhân, cơ
quan tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền
và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
Như vậy ta cũng có thể nhận thấy rằng quá trình chứng minh một vụ việc cũng không có gì
khác ngoài việc sử dụng chứng cứ đúng đắn.
2. Khái niệm về thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự:
Vì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo về quyền lợi của mình. Lẽ đó, đương

tin nội tâm để xác định mức độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ cũng như cả hệ
thống chứng cứ trong vụ việc dân sự, được thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ,
việc dân sự.
II. Nội dung quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hoạt động cung cấp,
thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm:
1. Quy định của pháp luật về hoạt động cung cấp chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm và
phúc thẩm:
1.1. Chủ thể của hoạt động cung cấp chứng cứ:
Các chủ thể của việc cung cấp chứng cứ bao gồm:
Các đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc có yêu cầu
cơ quan tiến hành tố tụng ra một quyết định trong quá trình tiến hành tố tụng phải cung cấp
chứng cứ chứng minh có yêu cầu đó.
Trong các trường hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung
thì Viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội đó có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ.
Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các công dân có quyền cung cấp cho Tòa án
những tin tức về vụ án, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ chứng cứ giao chứng
cứ ( điểm b khoản 2 Điều 58)
Ngoài ra nghĩa vụ cung cấp chứng cứ còn được quy định cho các chủ thể khác: Người đại
diện hợp pháp hoặc được ủy quyền của đương sự.
1.2. Nội dung của hoạt động cung cấp chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm:
Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS, các đương sự có địa vị pháp lý bình đẳng
với nhau, có quyền bình đẳng trong việc cung cấp bổ sung chứng cứ. Khi làm đơn khởi kiện,
thì việc cung cấp chứng cứ với nguyên đơn là nghĩa vụ của họ. Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu
mà không chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ, có trong thực tế hoặc đưa ra những
chứng cứ không có giá trị chứng minh, trong khi đó bị đơn lại đưa ra được chứng cứ có tính
thuyết phục để phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu của nguyên đơn sẽ bị Tòa án bác
bỏ. Về phía bị đơn, họ là người bị kiện nên họ có quyền cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
lợi của mình trước Tòa án. Tuy nhiên, việc cung cấp chứng cứ sẽ trở thành nghĩa vụ đối với bị
đơn nếu bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn đưa ra yêu cầu liên quan đến yêu
cầu của nguyên đơn, có thể bị đơn chỉ chấp nhận 1 phần yêu cầu và phản đối phần còn lại của

chứng cứ đã cung cấp. Ở cấp phúc thẩm, đương sự cũng có quyền đưa ra những chứng cứ mới
mà vì một lý do nào đó trong quá trình giải quyết vụ kiện ở cấp sơ thẩm đương sự chưa xuất
trình được.
2. Quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ tại tòa cấp sơ thẩm và phúc
thẩm:
2.1. Chủ thể của hoạt động thu thập chứng cứ:
* BLTTDS đã quy định đương sự là chủ thể chủ yếu trong hoạt động thu thập chứng cứ,
Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong những trường hợp pháp luật quy định như lấy lời
khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết ( Khoản 1 Điều 87 BLTTDS ), đối chất khi có
mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng khi xét thấy cần thiết ( khoản 1
Điều 88 BLTTDS ), định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm
mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí ( điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS ). Còn lại,
các biện pháp thu thập chứng cứ khác được quy định tại chương VII BLTTDS “ Chứng cứ và
chứng minh”, đều thuộc về đương sự như: đương sự có quyề được khai báo ( Điều 86), yêu cầu
lấy lời khai của người làm chứng ( Điều 87), yêu cầu đối chất ( Điều 88), giám định, giám định
bổ sung ( Điều 90), yêu cầu định giá tài sản ( Điều 92).
4
* Người đại diện của đương sự trong TTDS là người thay mặt cho đương sự, thực hiện
quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Người đại diện trong TTDS bao gồm người đại diện
theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyề và người đại diện do Tòa án cử.
Khi tham gia vào hoạt động chứng minh, người đại diện có toàn quyền trong việc đề ra các
yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến đó. Nhưng vai trò chứng minh của
người đại diện cũng phát sinh sau khi phát sinh vai trò chứng minh của đương sự. Đương sự
không thể hoặc có hạn chế nhất định không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì
theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc Tòa án sẽ
chỉ định người đại diện cho họ. Hoạt động thu thập chứng cứ của người đại diện khi đó thay
cho đương sự.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự là người được đương sự nhờ và
Tòa án chấp nhận, tham gia TTDS với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự ( khoản 1 Điều 64 BLTTDS). Những người này có thể là Luật sư hoặc bất cứ chủ thể nào đủ

bên đương sự, người làm chứng.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status