bé c«ng th−¬ng
tr−êng cao ®¼ng c«ng nghiÖp nam ®Þnh
TRẦN THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG U-LEARNING
TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP NAM ĐỊNH
BÁO CAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHCN CẤP BỘ
9056
NAM ĐỊNH, 2011
Mục lục Trang
Mở đầu
1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Phạm vi nghiên cứu 4
8. Cấu trúc đề tài 5
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
6
1.1. Tổng quan thực trạng và xu thế phát triển của giáo d
ục điện tử tại
Việt Nam.
6
1.1.1. Thực trạng của giáo dục điện tử Việt Nam 6
1.1.2. Xu thế phát triển giáo dục điện tử Việt Nam 9
1.2. Tổng quan về u-Learning 11
1.2.1. Một số khái niệm 11
1.2.2. Thực trạng u-Learning tại một số trường thuộc bộ Công
Thương
24
1.2.3. Một số giải pháp để phát triển hệ thống u-Learning 26
1.2.4. Các tiêu chí cụ thể để tri
ển khai và phát triển hệ thống u-
Leaning
28
Chương 2: Xây dựng hệ thống u-Learning phục vụ công tác đào
Danh mục tài liệu tham khảo
84
Phụ lục
88
Phụ lục 1: Chương trình
đào đạo ngoại ngữ chứng chỉ A
88
Phục lục 2: Danh sách giáo viên, học viên tham gia khóa học
90
Phụ lục 3: Nội dung bài giảng “Possissive case”
92
Phụ lục 4: Nội dung bài test “Kiểm tra tuần 1”
94
Phụ lục 5: Mẫu phiếu thăm dò ý kiến
96
Phụ lục 6
97
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Giải nghĩa
1. PC Persional Computer
2. WIFI Wireless Fidelity
3. LAN Local Area Network
4. GPRS General Packet Radio Service
5. ĐHQGHN Đại học Quốc Gia Hà Nội
6. CNTT Công nghệ thông tin
7. u-Learning Ubiquitous Learning
8. CSDL Cơ sở dữ liệu
9. ADSL Asymmetric Digital Subscriber Line
Hình 2.14: Sơ đồ quan hệ thực thể các bài giảng Scorm 55
Hình 2.15: Sơ đồ quan hệ thực thể Survey và Tags 55
Hình 2.16 : Giao diện trang chủ 56
Hình 2.17: Đăng kí thành viên 57
Hình 2.18 : Thông tin cá nhân 57
Hình 2.19: Chỉnh sửa thông tin cá nhân 58
Hình 2.20: Quản lý danh sách role 58
Hình 2.21: Thêm khóa học mới 59
Hình 2.22: Thêm một bài học mới 59
Hình 2.23:Blog 60
Hình 2.24: Thêm một entry vào blog 60
Hình 2.25:Danh sách liên hệ 61
Hình 2.26: Màn hình chat 61
Hình 2.27 :Màn hình làm bài kiểm tra 62
Hình 2.28:Màn hình theo dõi bài giảng 62
Hình 2.29: Màn hình đăng nhập trên thiết bị di động 63
Hình 2.30: Màn hình trang chủ trên thiết bị di động 63
Hình 2.31 : Màn hình danh sách khóa học trên thiết bị di động 64
Hình 2.32: Màn hình thông tin khóa học trên thiết bị di động 64
Hình 2.33: Xem nội dung bài học trên thiết bị di động 65
Hình 2.34: Làm bài kiểm tra trên thiết bị di động 65
Hình 2.35: Gửi thông điệp trên thiết bị di động 66
Hình 2.36: Forum trên thiết bị di động 66
Hình 2.37: Blog trên thiết bị di động 66
Hình 2.38: Sơ đồ triển khai hệ thống tại trường Cao đẳng CNNĐ 70
Bảng 1: Danh mục các bảng trong cơ sở dữ liệu 53
Bảng 2: Bảng kết quả sau khi thử nghiệm 79 1
sự tiện lợi lớn hơn trong đào tạo nâng cao
trình độ, năng lực của nhân viên trong các công ty trên toàn cầu. Tuy nhiên
muốn sử dụng e-Learning thì cần phải có máy PC và mạng Internet, WIFI
2
hoặc LAN, đồng thời PC hay laptop khá cồng kềnh, không linh hoạt trong
việc sử dụng.
Mạng điện thoại di động xuất hiện ở Việt Nam cách đây đã được
khoảng gần hai thập kỉ, trong khoảng thời gian đó, mạng di động đã có sự
phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự gia tăng của số lượng các thuê bao cũng như
các nhà cung cấp dịch vụ là sự đ
a dạng hóa các dịch vụ hướng đến thiết bị di
động. Ngày nay, điện thoại di động không còn là mặt hàng xa xỉ như cách đây
vài năm, mà nó đã phổ cập tới mọi tầng lớp nhân dân. Điện thoại di động
không chỉ còn mang chức năng gọi điện hay nhắn tin thông thường nữa, mà
còn là một thiết bị giải trí, tra cứu thông tin rất tiện lợi. Do đó, ngành công
nghiệp phần m
ềm xây dựng các ứng dụng cho điện thoại di động đang là một
xu hướng mới đầy tiềm năng.
Khắc phục các nhược điểm của e-learning là khi cập nhật kiến thức cần
phải có máy PC và mạng internet WIFI hoặc LAN, đồng thời PC hay laptop
khá cồng kềnh, không linh hoạt trong việc sử dụng. Trái lại, di động luôn luôn
bên mình và chương trình học có thể mở ra bất cứ lúc nào, chỉ bằng một vài
động tác cơ bản. Người học do đó sẽ tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn,
nhanh hơn, cập nhật hơn do sử dụng 3G hay GPRS - ở đâu cũng có, không
phụ thuộc như WIFI cần có điểm phát cố định.
Hiện nay, tại Việt Nam nhiều trường đại học, cao đẳng đã xây dựng hệ
thống giáo dục trực tuyến phục vụ đào tạo sinh viên từ
xa qua mạng và sinh
thầy cô và bạn bè.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động và phương pháp dạy, học, tra cứu và trao đổi kiến thức của
sinh viên, giảng viên trên môi trường mạng internet.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Những người trực tiếp tham gia vào quá trình dạy và học như giảng
viên và học sinh sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định.
4. Giả thuyết khoa học
Áp dụng u-Learning trong công tác đào tạo tại nhà trường sẽ làm thay
đổi tư duy trong dạy và học góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo trong nhà
trường. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
*. Đánh giá thực trạng và xu thế phát triển của giáo dục điện tử (e-Learning,
m-Learning, u-Learning) tại Việt Nam và tại trường cao đẳng Công nghiệp
Nam Định.
*. Xây dựng cơ sở lý luận, tổng quan về u-Learning.
*. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống học tập trực tuyến u-Learning ứng dụng
trong công tác đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định.
*. Đưa ra các khuyến nghị, giả
i pháp cho phương pháp dạy và học trực tuyến.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp lý luận
Kết luận và khuyến nghị: Biện pháp triển khai, áp dụng vào thực tiễn,
Khuyến nghị đề xuất hướng phát triển của đề tài.
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM
1.1.1. Thực trạng của giáo dục điện tử Việt Nam
Xã hội loài người đang sống làm việc trong một môi trường mà ở đó có
sự phát triển với tốc độ rất nhanh của Công nghệ thông tin vào các lĩnh vực
của đời sống tạo nên những đột phá quan trọng về kinh tế - chính trị và văn
hoá, trong đó giáo dục đào tạo với phong trào ứng dụng công nghệ thông tin
vào việc
đổi phương pháp dạy và học được coi là khâu quan trọng.
Giáo dục điện tử hay học tập điện tử là một khái niệm không mới,
nhưng lại thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục
đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai công nghệ thông tin, đặc biệt là sự
quan tâm của các trường đại học, cao đẳng và các cơ sở giáo dục. Có thể xem
giáo dục điệ
n tử như một phương thức dạy học mới, bổ sung hỗ trợ cho các
phương thức đào tạo truyền thống, tạo thêm cơ hội học tập cho đông đảo các
tầng lớp xã hội và đặc biệt góp phần hiện đại hoá và nâng cao chất lượng
giảng dạy.
Trên thế giới, giáo dục điện tử phát triển không đồng đều giữa các khu
vực. e-Learning phát triể
n mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu e-
quốc gia châu á. Tuy vậy,
đó cũng chỉ là rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo
ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các
cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa
nhận tiềm năng không thể chối cãi được mà e-learning mang lại. Một số quốc
gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á c
ũng đang có
những nỗ lực phát triển e-Learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc,
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về
học tập điện tử như e-Learning ở Việt Nam không nhiều. Trong hai năm
2003-2004, việc nghiên cứu e-Learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị
quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị
, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo
dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề e-Learning và khả năng áp dụng vào môi
trường đào tạo ở Việt Nam như: hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo
8
ĐHQGHN năm 2000, hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội
thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc
gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai e-
Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ
thông tin (Đại học bách khoa Hà Nộ
i) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là
hội thảo khoa học về e-Learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
Các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên
cứu và triển khai e-Learning. Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần
tập điện tử đang được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên so với các nước trong
khu vực giáo dụ
c điện tử tại Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc
phải làm mới tiến kịp các nước.
1.1.2. Xu thế phát triển giáo dục điện tử Việt Nam
Công nghệ thông tin và truyền thông đang được ứng dụng mạnh mẽ
trong quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy
hiện đại và bám sát yêu cầu thực tiễn. Xu th
ế của thế giới là phát triển giáo
dục điện tử, hình thành đại học số hoá, liên minh các đại học trong phạm vi
khu vực, toàn cầu.
Giáo dục điện tử hình thành và phát triển do nhu cầu đổi mới giáo dục
đại học để đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế tri thức có
phạm vi toàn cầu. Đại học số hoá được xây dựng và phát triển trong “bộ 3”:
Chính phủ
điện tử, thương mại điện tử, giáo dục điện tử.
Có thể hiểu giáo dục điện tử là một quy trình giảng dạy trong đó mọi
hoạt động đều được xây dựng trên môi trường điện tử. Chẳng hạn, các hệ
thống nghiên cứu, công trình và kết quả nghiên cứu, các nguồn tài nguyên học
tập đều được số hoá, như hệ thố
ng bài giảng, giáo trình điện tử, thư viện điện
tử, các nguồn thông tin dữ liệu, hệ thống quản lý đào tạo. Thậm chí, các hoạt
động hỗ trợ sinh viên, các hoạt động thương mại trong trường học như dịch
vụ về cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, phát triển các dịch vụ chuyển
giao công nghệ cũng được thực hiện theo mô hình số
hoá. Hệ thống thông tin
xúc tiến việc làm, tuyển dụng, cấp học bổng, tất cả đều được quản lý số hoá.
Trong những năm qua, nhiều trường đại học trên thế giới đã bước đầu
xây dựng nền tảng cho đại học số hoá. Một số trường đại học đã triển khai
thành công mô hình này như Ukeu (Đại học số hoá của Anh),
GD&Đ
T có thể cung cấp dịch vụ dạy học qua mạng đến gần 700 phòng giáo
dục và đào tạo quận, huyện và tiến tới đến 2.500 trường trung học phổ thông.
Mô hình đào tạo, tập huấn giáo viên trực tiếp qua mạng giáo dục sẽ được triển
khai mạnh mẽ hơn.
11
Ngoài ra, tận dụng triệt để sự phát triển của công nghệ thông tin và
truyền thông, đặc biệt là sự phát triển của Internet băng rộng và các thiết bị
cầm tay cũng mang lại nhiều phương pháp dạy học mới như m-Learning, u-
Learning (Ubiquitous Learning: Học mọi lúc mọi nơi). Sự phát triển của các
công nghệ di động bao gồm điện thoại di động thế hệ mới, thiết bị PDA kết
nố
i Internet, laptop với khả năng truy cập wi-fi, sẽ giúp người học kết nối cao
hơn và sử dụng tốt hơn cho việc học tập mọi lúc mọi nơi. Hiện nay nhiều
trường đại học, cao đẳng đã bắt đầu triển khai nghiên cứu sử dụng các thiết bị
di động trong giáo dục điện tử, thực hiện một số công việc như thiết kế lạ
i các
giao diện web, giáo trình điện tử… phù hợp với kích thước màn hình của các
thiết bị di động.
Theo các chuyên gia, những phương pháp đào tạo trên, đặc biệt là đào
tạo trực tuyến, sẽ giải quyết tình trạng thiếu hụt giáo viên ở vùng sâu, vùng
xa. Đây cũng là phương pháp cung cấp tài nguyên học tập tốt nhất cho các
vùng sâu.
Hiện nay, nhân lực công nghệ thông tin không chỉ thiếu cho nhu cầu thị
trường lao động trong nước, mà nhân l
ực của nhiều nước phát triển như Mỹ,
Nhật Bản, EU cũng đang thiếu trầm trọng. Đây chính là môi trường tiềm năng
cho nhân lực công nghệ Việt Nam có thể vươn ra thị trường nước ngoài.
nhỏ hơn. e-Learning có thể áp dụng hình thức truy nhập đồng bộ hoặc không
đồng bộ và có thể được truyền đi xa với sự cách biệt về địa lý và những hạn
chế khác nhau về thời gian. (theo: NCSA e-Learning group – trường Đại học
ILLINOIS).
E-Learning là một phương pháp hiệu quả và khả thi, tận dụ
ng tiến bộ của
phương tiện điện tử, internet để truyền tải các kiến thức và kĩ năng đến những
người học là cá nhân và tổ chức ở bất kì nơi nào trên thế giới tại bất kì thời
điểm nào. Với các công cụ đào tạo truyền thông phong phú, cộng đồng người
học online và các buổi thảo luận trực tuyến, E-learning giúp mọi người mở
r
ộng cơ hội tiếp cận với các khóa học và đào tạo nhưng lại giúp giảm chi phí.
E-Learning giúp người học không còn phải đi những quãng đường dài để
theo học một cua học dạng truyền thống; người học hoàn toàn có thể học tập
bất cứ khi nào bạn muốn, ban ngày hay ban đêm, tại bất cứ đâu- tại nhà, tại
công sở, tại thư viện nội bộ. Với rấ
t nhiều sinh viên, nó đã mở ra một thế giới
học tập mới, dễ dàng và linh hoạt hơn, mà trước đó họ không hy vọng tới, có
thể do không phù hợp, hay vì lớp học cách nơi họ sống đến nửa vòng trái đất.
13
Theo một nghĩa khác, E-Learning đã xóa nhòa các ranh giới địa lí, mang giáo
dục đến với mọi người chứ không phải là mọi người đến với giáo dục.
E-Learning khiến cho việc học tập dạng thụ động như trước đây được
giảm bớt. Người học không cần phải tập trung trong các lớp học với kiểu học
“đọc và ghi” thông thường, giúp cho việc học tập trở nên rất chủ
động. Điều
cốt yếu là tập trung vào sự tương tác, “học đi đôi với hành”.
E-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết
dùng, sự cải tiến của công nghệ mạng không dây và thiết bị cầm tay ngày
càng phổ biến, đã mở ra cơ hội mới cho khả năng truy cập của giáo dục. Khả
năng thực sự của e-Learning giống như là “mọi lúc, mọi n
ơi” cuối cùng đã
được thực hiện với sự ra đời của mobile learning (m-Learning).
m-Learning được định nghĩa như “mọi dịch vụ hoặc điều kiện dễ dàng
cung cấp cho người học với những thông tin điện tử phổ biến và nội dung có
tính giáo dục để giúp đỡ trong việc thu thập những kiến thức mà không cần
quan tâm đến không gian và thời gian ”– theo Lehner&Nosekabel. Vavoula
và Sharples đã đề xuất ba giả
i pháp nơi mà sự học tập có thể được cân nhắc di
động như “…sự học tập là di động trong điều kiện không gian; nó là di động
trong các phần khác nhau của cuộc sống; nó là di động đối với thời gian…”.
Định nghĩa này nói lên rằng hệ thống m-Learning cần có sự chuyển giao nội
dung có tính giáo dục mọi lúc mọi nơi khi người học cần đến.
Về mặt công nghệ hiện nay, những dịch vụ
cầm tay giống như những
máy tính cầm tay và personal digital assistants (PDAs) ngày nay có đủ khả
năng hơn trước đây. Những nhà kinh tế học trong năm 2001 dự đoán rằng
trong năm 2003 số lượng máy cầm tay có khả năng kết nối Internet sẽ vượt
qua số lượng của máy tính cá nhân với những trình duyệt Internet của máy
tính cá nhân. Theo sự đánh giá từ Microsoft, đến cuối năm 2002, sẽ có gần
100 nghìn PDAs trên toàn thế giới và những nă
m tiếp theo sẽ là một con số
rất lớn.
Hiện nay m-Learning có triển vọng lớn trở thành một môi trường học tập
nổi bật cho quá trình học tập lâu dài của mỗi người .
Những thiết bị di động cũng có nhiều lợi ích như:
- Kích cỡ nhỏ và tính di động cao;
- Ngay lập tức truy nhập mà không phải đợi khởi động;
trình giáo dục và đào tạo. Giờ đây để được học tập người học không cần phải
quan tâm nhiều đến việc đi lại hay không có thời gian đến trường nữa, với m-
16
Learning mọi người có thể học mọi nơi mọi lúc và không giới hạn về khoảng
cách.
Thế kỉ 21 là thế kỉ của kỉ nguyên thông tin, với sự bắt đầu của cuộc cách
mạng số, đặc biệt là sự phát triển của điện thoại di động, công nghệ mạng
không dây. Mobile phone cùng các tính năng nâng cao của smartphone giờ đã
phổ biến và trở thành thiết bị giao tiếp cơ bả
n, đặc biệt là với những người trẻ
tuổi, rất nhiều người trong số họ sử dụng chúng như là cách chính để truy cập
vào internet, nghe nhạc, chơi game, tham gia mạng xã hội, kết nối mọi người
mọi nơi, mọi lúc. Các thiết bị điện toán di động ngày càng phát triển cả về số
lượng, tính năng, khả năng xử lý và độ kết nối. Sự phát triển đó cùng v
ới sự
xuất hiện của công nghệ đám mây như là sự khởi đầu cho kỉ nguyên điện toán
khắp nơi (Ubiquitous computing). Giáo dục, được kì vọng là nơi áp dụng
mạnh mẽ nhất những công nghệ tiên tiến vào việc đổi mới dạy và học, lại
dường như thích ứng một cách chậm chạp trước những thay đổi của công
nghệ. Điển hình là việc áp dụng công ngh
ệ trong dạy và học còn hạn chế.
Chúng ta đã phát triển được các hệ thống e-Learning trong các trường đại học
và cao đẳng, nhưng như thế vẫn chưa đủ đáp ứng các nhu cầu học tập của sinh
viên, học sinh. Sinh viên không chỉ có nhu cầu học trên lớp, học ở nhà, học
online qua hệ thống e-Learning thông qua máy tính, mà còn có nhu cầu học
khi có thời gian rảnh rỗi. Nhu cầu tra cứu, ôn tập lại kiến thức khi đ
i tàu xe,
khi chờ đợi, … hay bất cứ lúc nào có thời gian rảnh rỗi, ở mọi nơi mọi lúc là
những nhược điểm không khắc phục được như cần phải có máy tính kết nối
internet, không thể truy cập ngay khi người học có nhu cầu, ví dụ như khi đi
đợi tàu, khi rảnh r
ỗi, Hệ thống m-Learning lại khắc phục được vấn đề này,
smartphone luôn được người học mang bên mình và có thể mở ra bất cứ lúc
nào, công nghệ mạng không dây phát triển mạnh khiến việc kết nối internet
trở nên dễ dàng hơn. Nhưng m-Learning lại có nhược điểm là màn hình nhỏ,
18
ít hiệu ứng, và nội dung bị rút gọn cho phù hợp. Để kết hợp được ưu điểm của
cả hai hệ thống e-Learning và m-Learning, hệ thống u-Learning có thể hiểu là
: u-Learning = e-Learning + m-Learning. Khi kết hợp hai hình thức học tập
này, chúng đem lại cơ hội mới, những trải nghiệm mới trong việc dạy và học,
và chúng ta có thể thực hiện việc học mọi nơi, mọi lúc, bất cứ
khi nào người
học muốn, lấy trọng tâm là người học. Điều đó có nghĩa là chúng ta đang
hướng tới một môi trường học tập khắp nơi hay đó chính là u-Learning
(Ubiquitous learning). Với những lợi ích đó, các nhà sư phạm có thể trở thành
người thiết kế chương trình học, và cho phép sinh viên trở nên năng động
hơn, hợp tác với các sinh viên khác trong việc tìm hiểu kiến thức. Nhà quản
trị có thể implement mobile, wireless, và cloud computing
để thay thế cho
việc học trên lớp.
Theo cách đó, thế kỉ 21 giáo dục có thể tiếp cận gần gũi hơn với kỷ
nguyên công nghệ 21 đang tiến nhanh như vũ bão.
Hình 1.2: Hệ thống u-Learning chạy trên PC
Đặc điểm của u-Learning:
*. u-Learning là một công cụ đào tạo mạnh bởi nó có các ưu điểm: