biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện chức năng kế hoạch trong quản lý đào tạo tại trường cao đẳng nghề việt – đức hà tĩnh - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận, tác giả đã
nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của
các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Khoa Quản lý – Học viện Quản lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Lê Thị Mai
Phương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong suốt quá trình hình thành và hoàn
thiện khóa luận.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và
lãnh đạo các phòng ban trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh, cùng với
những người thân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời
gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Do điều kiện thời gian và năng lực, khóa luận không thể tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý quý báu từ
các nhà khoa học, các nhà quản lý, các thầy cô giáo, bạn bè và bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Thúy
MỤC LỤC
1.1.6. QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

12

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐNVĐHT Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh
CBQL Cán bộ quản lý
CB Cán bộ
CNTT Công nghệ thông tin

ngày càng cao về quá trình giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên.
Hiện nay, việc thực hiện chức năng kế hoạch trong QLĐT ở các trường
đại học, cao đẳng bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Điều này có thể thấy rõ ở trường CĐNVĐHT mặc dù đã có nhiều thành công,
nhưng đứng trước yêu cầu của thực tiễn về hoạt động đào tạo, chương trình đào
tạo, lịch công tác giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên thì vẫn còn một
số hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn ấy, tác giả chọn đề tài “Biện pháp nâng cao
chất lượng thực hiện chức năng kế hoạch trong quản lý đào tạo tại trường Cao
1
đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh ” làm khóa luận tốt nghiệp với hy vọng từ kết
quả nghiên cứu thu được đề xuất được biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất
lượng QLĐT bậc Cao đẳng nghề ở trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chức năng
kế hoạch trong quản lý Đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thực hiện chức năng kế hoạch trong
quản lý Đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh.
3.2. Phân tích thực trạng việc thực hiện chức năng kế hoạch trong quản lý
Đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh.
3.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực
hiện chức năng kế hoạch trong quản lý Đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Việt –
Đức Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể: Hoạt động quản lý Đào tạo tại trường Cao đẳng nghề
Việt – Đức Hà Tĩnh
4.2. Đối tượng: Việc thực hiện chức năng kế hoạch trong quản lý Đào tạo
tại trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian cho phép, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN
CHỨC NĂNG KẾ HOẠCH TRONG QUẢN LÝ
ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
Thuật ngữ “ Quản lý ” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt
động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình
“ quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ ổn định”, quá trình “lý” gồm
sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “ phát triển”. Nếu người đứng
đầu tổ chức chỉ lấy việc “ quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại chỉ
quan tâm đến việc “ lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do vậy,
người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “ quản” phải có
“ lý” và trong “ lý” phải có “ quản”, làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở trạng
thái cân bằng động.
Vậy quản lý chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát
triển phải tạo ra được thế ổn định của hệ.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý được định nghĩa
là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [15; tr.20]
Quản lý là một hoạt động tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của
nhiều người, cùng theo đuổi một mục đích. Quản lý vừa là khoa học, vừa là
nghệ thuật. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tác giả chỉ đề cập đến
một số khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “ Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động, nói
chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”. [10, tr.14]
4
Tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế
.v.v bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương

khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Phân loại theo nội dung và
cơ chế tác động có 3 phương pháp quản lý chủ yếu là: Phương pháp tổ chức
hành chính, phương pháp kinh tế và phương pháp tâm lý xã hội.
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng
quản lý hoặc của một số yếu tố cấu thành nó. Trạng thái được xác định là mong
muốn có thể có (tất yếu), có tính khả thi. Mục tiêu có thể do chủ thể quản lý áp
đặt, song cũng có thể do sự cam kết giữa chủ thể và đối tượng quản lý để xác
định. Sự tham gia của đối tượng quản lý vào việc xác định mục tiêu sẽ có ảnh
hưởng đến hiệu quả quản lý. Thực tế quản lý của nhiều tổ chức khác nhau đã
chứng minh rằng hiệu quả quản lý một tổ chức sẽ cao nếu tổ chức đặt các mục
tiêu của mình trên cơ sở của sự hòa nhập giữa các nhu cầu và mục đích của các
cá nhân, các nhóm khác nhau trong tổ chức với nhu cầu và mục đích của tổ
chức. Vì vậy sự chia sẻ các mục tiêu của một tổ chức của đối tượng quản lý là
một nhân tố quan trọng góp phần quyết định hiệu quả quản lý một tổ chức.
1.1.2. Chức năng quản lý
Nếu coi quản lý là một nghề thì các chức năng của quản lý được coi là
những hoạt động nghề nghiệp của người quản lý.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người,
nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Chức năng quản lý biểu hiện bản chất quản lý và
là những phạm trù cơ bản, chiếm vị trí then chốt của quá trình quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Chức năng quản lý là một dạng hoạt
động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý
nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [9; tr.58]
6
Có nhiều cách hiểu về các chức năng quản lý nhưng về cơ bản đều thống
nhất với 4 chức năng cơ bản của quản lý đó là: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo -
Kiểm tra.
Kế hoạch: Kế hoạch là một chức năng quản lý và là khởi điểm của một
chu trình quản lý. Kế hoạch là quá trình vạch ra các mục tiêu và quyết định
phương thức đạt mục tiêu đó. Khả năng thực hiện chức năng kế hoạch dựa trên

1.1.3. Chức năng kế hoạch trong quản lý giáo dục
a. Khái niệm
“Chức năng kế hoạch trong quản lý giáo dục là quá trình xác định các
mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực
hiện các mục tiêu đó”.[7, tr.5]
Chức năng kế hoạch có vai trò khởi đầu, định hướng cho quá trình quản
lý; là cơ sở để huy động các nguồn lực; là căn cứ cho việc kiểm tra, đánh giá quá
trình thực hiện các mục tiêu.
b. Nội dung chức năng kế hoạch
Nội dung của chức năng kế hoạch thể hiện ở 4 hoạt động cơ bản sau:
- Xác định và phân tích mục tiêu quản lý giáo dục
Từ những căn cứ để thực hiện chức năng kế hoạch, các nhà quản lý có đủ
điều kiện để xác định hệ thống mục tiêu cần thiết của từng cấp hoặc từng cơ sở
giáo dục. Mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái được xác định trong tương lai
của đối tượng quản lý giáo dục hoặc của một số yếu tố cấu thành nó. Hệ thống
8
Kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo Kiểm tra Kế hoạch
Thông tin quản lý
mục tiêu quản lý giáo dục này cần thể hiện rõ hai nhóm mục tiêu cụ thể: đó là
nhóm mục tiêu phát triển giáo dục và nhóm mục tiêu điều kiện để thực hiện mục
tiêu giáo dục. Xác định mục tiêu quản lý cần đảm bảo nguyên tắc SMARTER.
Việc phân tích mục tiêu sẽ giúp cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu
và từ đó xác định đúng chiến lược hành động theo từng mục tiêu cụ thể. Kỹ
thuật phân tích mục tiêu có thể có nhiều cách làm khác nhau, thông thường các
nhà quản lý có thể áp dụng pương pháp phân tích SWOT. Từ đó có đủ cơ sở để
xác định hướng đi và biện pháp cần thực hiện tương ứng với các mục tiêu và
điều kiện cụ thể.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu

cần thiết có thể điều chỉnh lại ở các khâu để đảm bảo việc đạt được những mục
tiêu cơ bản đã xác định.
1.1.4. Kế hoạch
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế hoạch. Sau đây là một số định nghĩa
tiêu biểu:
Theo từ điển Tiếng Việt: “ Kế hoạch là toàn bộ những việc dự định làm
gồm những công tác sắp xếp có hệ thống được quy vào một mục đích nhất định
và thực hiện trong một thời gian được xác định” [16, tr.485]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “ Kế hoạch là một hệ thống các nhiệm vụ,
có mối quan hệ tổng thể với nhau và hướng đến một mục đích chung, có thời
hạn và trình tự thực hiện theo những chương trình và biện pháp nhất định. Kế
hoạch là văn kiện Nhà nước có hiệu lực pháp luật bắt buộc phải thực hiện” [11,
tr.15].
Như vậy, có thể hiểu kế hoạch là những điều vạch ra một cách có hệ thống về
những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định với nguồn lực, cách
thức, trình tự, thời hạn tiến hành để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được
đề ra. Khi lập được kế hoạch thì tư duy quản lý sẽ có hệ thống hơn để có thể tiên
10
liệu được các tình huống sắp xảy ra; phối hợp được mọi nguồn lực của cá nhân,
tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể giữ vững “mũi tiến công” vào
mục tiêu cuối cùng mình muốn hướng đến. Bên cạnh đó, kế hoạch tạo cơ sở để
kiểm tra, giám sát hiệu quả việc thực hiện một cách dễ dàng.
1.1.5. Đào tạo
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến
một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi
với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình
vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người. Về cơ
bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo
đức, nhân cách”[12, tr.298].

Như vậy có thể hiểu QLĐT là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển,
hướng dẫn quá trình giáo dục, những họat động của cán bộ, giáo viên và học
sinh, sinh viên, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của
cơ sở đào tạo và phù hợp với quy luật khách quan.
1.1.7. Chất lượng
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “ Chất lượng là cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc. Đó là tổng thể
những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của sự vật và phân biệt nó với
những sự vật khác” [13; tr.19]
Chất lượng là “ Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu người sử dụng” ( Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50 – 109)
Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, sự
việc. Một định nghĩa “ Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [5; tr.1]. Mục
tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, các mục đích;
còn sự phù hợp với mục tiêu là đáp ứng mong muốn của những người quan tâm
cần đạt được. Tuy nhiên ý nghĩa thực tế của định nghĩa trên là ở chỗ xem xét
chất lượng chính là xem xét sự phù hợp với mục tiêu.
12
Theo tác giả Đặng Xuân Hải: “ Chất lượng được coi là sự phù hợp với sử
dụng, sự phù hợp với mục đích, hay sự thỏa mãn khách hàng, hoặc sự phù hợp
với yêu cầu. Đạt chất lượng do xác định được nhu cầu, do thiết kế sản phẩm, do
phù hợp với quy định, do bảo dưỡng sản phẩm” [6; tr.16]
Chất lượng sản phẩm là sự đánh giá của chủ thể sử dụng thông qua quá
trình thực tiễn, thời gian mà sản phẩm phát huy, thể hiện các tính năng tác dụng
của nó với đời sống chủ thể. Trong thực tế, có các cách hiểu khác nhau về khái
niệm chất lượng, như “ Chất lượng” thường hay dùng theo quan niệm: Chất
lượng tương đối và chất lượng tuyệt đối.
Từ những định nghĩa trên ta thấy, chất lượng là phạm trù triết học, nó biểu
thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì và có tính ổn định
tương đối của sự vật nhằm phân biệt nó với sự vật khác. Với các yêu cầu là các

càng cao hơn để đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội.
1.1.9. Biện pháp quản lý
a. Khái niệm biện pháp:
Theo từ điển tiếng Việt (2001) thì biện pháp là: “ Cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể” [31, tr.64]
b. Biện pháp quản lý:
Để tồn tại con người phải lao động. Khi xã hội phát triển thì xu hướng lệ
thuộc lẫn nhau trong cuộc sống và lao động cũng phát triển theo. Vì vậy con
người có nhu cầu lao động tập thể, từ đó hình thành nên cộng đồng và xã hội.
Trong quá trình hoạt động nói chung, để đạt mục tiêu, các cá nhân cần phải có
các biện pháp như: dự kiến kế hoạch, sắp xếp tiến trình hoạt động, tác động lên
đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình … Đây cũng chính là
những biện pháp quản lý giúp con người đi đến mục tiêu. Trong quá trình lao
động tập thể lại càng không thể thiếu được các biện pháp quản lý như: xây dựng
kế hoạch hoạt động, sự phân công và điều hành công việc chung, sự hợp tác và
tổ chức công việc …
14
Trong khoa học quản lý hiện nay, có rất nhiều quan niệm về biện pháp
quản lý khác nhau:
- Có tác giả cho rằng: Biện pháp quản lý là sự tác động, chỉ huy điều
khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát
triển hợp với quy luật, đạt mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
- Tác giả nhất trí với quan niệm: Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải
quyết những công việc cụ thể trong từng điều kiện cụ thể của công tác quản lý
nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Nói cách khác, biện pháp quản lý là những
cách thức quản lý cụ thể trong những công việc cụ thể, đối tượng cụ thể và tình
huống cụ thể.
Cần lưu ý rằng: Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động
có thể có và có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể
quản lý để đạt mục tiêu quản lý đề ra.

và bổ sung KHĐT để đạt được mục tiêu đã định.
- Tạo khả năng thực hiện công việc một cách kinh tế: việc thực hiện chức
năng kế hoạch sẽ cực tiểu hóa chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt động hiệu
quả và sự phù hợp. KHĐT thay thế cho sự hoạt động manh mún, không được
phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế luồng hoạt động thất
thường bởi một luồng đều đặn và thay thế những sự phán xét vội vàng bằng
những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng.
- Giúp cho trường Cao đẳng đó thuận lợi hơn trong công tác kiểm tra hoạt
động giảng dạy, học tập của giảng viên và học sinh, tạo điều kiện thuận lợi đánh
giá kết quả học tập của sinh viên để đánh giá đúng chất lượng.
1.3. Vai trò phòng Đào tạo trong quản lý Đào tạo của trường cao đẳng.
QLĐT là nhiệm vụ trung tâm của phòng Đào tạo. QLĐT bao gồm quản
lý công tác tyển sinh, kế hoạch đào tạọ, kết quả học tập, học bổng, học phí, cấp
phát bằng trong đó KHĐT được coi là một trong những khâu quan trọng của
16
quá trình QLĐT và đơn vị đầu mối thực hiện là phòng Đào tạo. Phòng Đào tạo
có chức năng tham mưu giúp Hiệu trưởng, quản lí, tổ chức, triển khai thực hiện
công tác đào tạo, bao gồm kế hoạch, chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy
và chất lượng giảng dạy theo quy chế đào tạo của Bộ. Trong đó, xây dựng
KHĐT là một trong những khâu quan trọng của phòng đào tạo. KHĐT bao gồm
kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch đào tạo được xây dựng theo khóa học, năm học,
học kỳ. KHĐT có một vai trò hết sức quan trọng, xây dựng KHĐT chính xác
trong một khóa học và giữa các khóa học sẽ đảm bảo cho quá trình đào tạo được
vận hành một cách thông suốt không bị ách tắc và nâng cao được hiệu quả sử
dụng nguồn lực từ cơ sở vật chất, phòng học, thư viện đến nguồn lực con
người bao gồm các cán bộ giảng dạy, các cán bộ quản lý đào tạo, các cán bộ
phòng ban nghiệp vụ
Thông thường các phòng đào tạo của các trường Cao đẳng đều có chức
năng quản lý công tác đào tạo, xây dựng KHĐT toàn khóa, KHĐT năm học, kế
hoạch học kỳ. Như vậy, nhiệm vụ đào tạo là nhiệm vụ chính và khâu xây dựng

Kế hoạch học kỳ: là cụ thể hóa KHĐT toàn khóa và KHĐT năm học. Nhờ
kế hoạch này, các cơ sở giáo dục có thể tổ chức triển khai các hoạt động đào tạo
được đúng tiến độ, đầy đủ nội dung và khối lượng đào tạo của một khóa học và
năm học. Kế hoạch học kỳ cũng thường xuyên phải được thiết kế sớm trước ít
nhất 2 tháng và phải được triển khai trước mỗi học kỳ ít nhất 2 tuần trên bảng tin
của cơ sở đào tạo kể từ thời điểm bắt đầu học kỳ, có như vậy mới đủ thời gian
phổ biến, điều chỉnh và hoàn thiện. Kế hoạch học kỳ luôn luôn phải đạt được các
yêu cầu chính sau đây:
- Đảm bảo tính chính xác tên từng môn học, từng giờ học, buổi học, ngày
giờ, năm tháng, địa điểm, giảng viên chịu trách nhiệm từng học phần
- Đảm bảo tuân theo đúng KHĐT của khóa học hay chương trình đào tạo,
phù hợp với kế hoạch năm học đã thiết kế.
- Đảm bảo khả năng kiểm tra, thanh tra, thực hiện triển khai.
18
1.5. Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện chức năng kế
hoạch tại trường cao đẳng.
* Đảm bảo tính pháp chế và linh hoạt
- Luôn luôn tuân thủ đúng các văn bản: chương trình đào tạo, nội quy, quy
chế, KHĐT đã được ban hành.
- Tuyệt đối thực hiện theo đúng các văn bản quy định như: Điều lệ mẫu
trường dạy nghề (Ban hành kèm theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BLĐTBXH
ngày 05 tháng 05 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội); Quy chế thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp trong dạy nghề hệ chính quy
(Ban hành kèm theo quyết định số 14/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 05
năm 2007 của Bộ Lao động thương binh và xã hội).
- Trường hợp thay đổi chương trình, KHĐT hay áp dụng linh hoạt quy
chế, cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở đào tạo phải có ý
kiến phê duyệt của Ban giám hiệu.
- Các văn bản QLĐT được soạn thảo theo các quy định hiện hành, không
được phóng tác, cần cụ thể, không được chung chung để có thể hiểu theo nghĩa

Tập trung – dân chủ là hai mặt của một nguyên tắc thống nhất không thể
tách rời hoặc nhấn mạnh mặt này hay mặt kia. Tập trung dân chủ là nguyên tắc
cơ bản của quản lý xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch nhà trường phải phối hợp tối ưu
cả hai mặt tập trung và dân chủ, thể hiện:
- Mở rộng dân chủ để xây dựng kế hoạch, tìm kiếm nguồn lực, sáng tạo
biện pháp thực hiện kế hoạch.
- Mở Hội nghị dân chủ về xây dựng và triển khai KHĐT để mọi người
trong tổ chức thể hiện ý kiến, nguyện vọng trong kế hoạch.
* Đảm bảo tính liên tục phát triển
Liên tục, kế thừa, phát triển là đặc điểm của quá trình giáo dục. KHĐT có
tính liên tục phát triển thể hiện qua các mặt sau:
20
- Kế hoạch đào tạo tạo ra nhịp đều, liên tục (đảm bảo không có thời gian
rỗng việc hoặc có thời gian nén quá nhiều việc).
- Kế hoạch đào tạo mới được lập ra dựa trên thành tích cũ, hướng vào thế
mạnh và khắc phục những mặt còn yếu kém để liên tục phát triển.
* Triển khai nghiêm túc kế hoạch đã được phê duyệt:
- Đầu khóa học, trường phải thông báo công khai về nội dung và kế hoạch
học tập của từng chuyên ngành.
- Đầu mỗi năm học, trường phải thông báo công khai KHĐT năm học.
- Đầu mỗi kỳ, trường phải thông báo công khai kế hoạch học kỳ trước ít
nhất 2 tuần.
- Không tự điều chỉnh, thay đổi, vận hành sai quy định…trong trường hợp
cần thiết phải có văn bản hay bút phê của Ban giám hiệu.
Kết luận chương 1
Trên cơ sở phân tích các tài liệu lý luận về chức năng kế hoạch, quản lý
và QLĐT đề tài đã làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản về: quản lý, chức năng
quản lý, chức năng kế hoạch, kế hoạch, đào tạo, quản lý đào tạo, chất lượng,
nâng cao chất lượng, biện pháp, biện pháp quản lý
Việc tìm hiểu các thuật ngữ có liên quan cũng như những cơ sở lý luận để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status