Chuyên đề tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Kỳ” doc - Pdf 20

Chuyên đề tốt nghiệp
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín
dụng cho khách hàng doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Tân Kỳ
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
1
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Đề tài: 1
3
Có thể nói ngân hàng đã được hình thành và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử bởi từ khi các quốc gia
bắt đầu xuất hiện những hình thức kinh doanh thương mại đầu tiên thì cũng là lúc con người nhận
ra sự cần thiết của các tổ chức tài chính. Các ngân hàng được tạo ra với mục đích cung cấp nguồn
vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế, thời đại hiện nay thì nguồn vốn là yếu tố hàng đầu quyết
định đến sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia 3
Việt Nam trải qua gần 20 năm đổi mới từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu đã từng bước vươn
lên khẳng định mình đối với thế giới nói chung và trong khu vực Đông Nam Á nói riêng, chiếm lĩnh
một số thị trường lớn và góp phần nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Việt Nam đang
ngày càng mở rộng cánh cửa để đón nhận những doanh nghiệp nước ngoài vào đầu từ. Vì vậy mà
hệ thống pháp luật của chúng ta được hoàn thiện hơn và các thành phần kinh tế được pháp luật
bảo vệ và hoạt động một cách bình đẳng hơn.Hiện nay với cơ chế mở cửa, các thành phần kinh tế
hoạt động một cách bình đẳng theo pháp luật. Điều này thúc đẩy việc ra đời của các doanh nghiệp
ngày một nhiều và đa dạng hơn. Và như vậy nếu doanh nghiệp nào chịu khó tìm tòi sáng tạo , có

thuật cao cấp để xử lý những máy móc đó. Mà trong khi vốn tự có của các DNVVN
lại rất hạn chế, vì lý do đó họ sẽ phải tìm đến các ngân hàng để giải quyết vấn đề về
vốn.
Từ thực tế của nền kinh tế Việt Nam với hơn 95% các doanh nghiệp là
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
3
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn là rất cấp thiết,
đồng thời xuất phát từ thực tế tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Tân Kỳ thời gian học tập, nghiên cứu. Em thấy răng vấn đề tín
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh còn nhiều vấn đề đáng chú
ý, như doanh số cho vay còn hạn chế, quy trình cho vay- quy trình thẩm định dự
án trước và sau khi cho vay còn nhiều bất cập. …Và trong thời kỳ này kinh tế
của địa phương đang bắt đầu có làn sóng phát triển vượt bậc, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ được thành lập nhiều kèm theo vô số dự án kinh doanh.
Vì lý do đó em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Kỳ” làm mục tiêu nghiên cứu.
Mục đích của chuyên đề
Em muốn đánh giá một cách khách quan thực trạng chất lượng tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ của để từ đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị
nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
chi nhánhNgân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Kỳ.
Phạm vi của chuyên đề
Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Tân Kỳ từ các số liệu thống kê trong 3 năm gần đây ( 2008-2010)
Bài viết được chia làm 3 phần:
Chương I : Lý thuyết chung về chất lượng tín dụng đối với DN vừa và nhỏ
tại Ngân hàng thương mại.

SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
5
Chuyên đề tốt nghiệp
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập,đầu tư vốn và
quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình
thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời là một trong các căn cứ để Nhà
nước có chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng loại
doanh nghiệp.
Thứ hai: dựa vào mục đích kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập
hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường.Mục tiêu số một là thu
lợi nhuận tối đa.
- Doanh ghiệp hoạt động công ích (thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là tổ chức
kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ
công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện
nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả
kinh tế và xã hội.
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của
doanh nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định
chính sách tài trợ của Nhà nước.
Thứ ba: dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai loại là
doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng
thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm Những doanh nghiệp này có khả

Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNVVNM ở một số quốc gia
Tên nước Số lao động
Tổng số vốn hoặc
giá trị tài sản
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhật
dưới 50 trong bán lẻ
dưới 100 trong bán buôn
dưới 300 ngành khác
dưới 10 triệu yên
dưới 30 triệu yên
dưới 100 triệu yên
Mỹ dưới 500
Thái Lan dưới 100 dưới 20 triệu bạt
Xin ga po dưới 100 dưới 499 triệu SD
Phi líp pin dưới 200 dưới 100 triệu pê-sô
In đo nê xia dưới 100 dưới 0,6 tỉ ru-pi
1.1.2 Vai trò, đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.2.1 Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công
nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì sự
khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ. Trong
quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranh gay
gắt giữa những xí nghiệp trong nướcvà ngoài nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế
lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, các DNVVN vẫn
giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định. Bởi vì nhiều lĩnh vực kinh
tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quả bởi các DNVVN. Sau thời kỳ suy
thoái kinh tế những năm đầu thập niên 30, người ta luận ra rằng khu vực DNVVN

doanh nghiệp lớn. Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp
hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển
hành khách và hàng hoá.
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong phú
và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất
khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế được
các của hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sản xuất được
những sản phẩm đơn chiếc.Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường
các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi
sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng cầu xã hội. Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu
nông lâm thuỷ hải sản để sản hàng hoá xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công
truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản
xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu. Do DN lớn hạn chế về khu
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
9
Chuyên đề tốt nghiệp
vực địa lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sử
dụng các DNVVN làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất. Phát triển DNVVN sẽ giúp các địa
phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục
vụ phát triển kinh tế địa phương. Từng địa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách,
khả năng tích tụ và tập trung vốn của DN tư nhân không nhiều nên việc phát triển
doanh nghiệp lớn là hạn chế. Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính
sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam
trung bộ và phát huy các làng nghề truyền thống.
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc chú
trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan trọng quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Bảng 1.2Đánh giá vai trò DNVVN ở Việt Nam

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, ít
xảy ra rủi ro nên tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần
kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn những
đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như, nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và
tập trung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh còn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực.
1.2 Khái quát chung về NHTM
1.2.1 Khái niệm.
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn
liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác
động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược
lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị
trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài
chính không thể thiếu được.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. Tại Mỹ, NHTM được cho là
“công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong
ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp
hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình
thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ
trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 xác
định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp
các dịch vụ thanh toán” và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì “NHTM là một
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi

chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương
mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí
lưu thông, vận chuyển, bảo quản…).
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc
quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệm
cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc
đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được
thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng
thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua
việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền
bằng điện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng
sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách nối mạng các
máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn
từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng.
1.1.2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng
không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung
ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng. Các
ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã
tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh toán
trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương
mỗi nước.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
13
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.3 Các hoạt động NHTM
1.2.3.1 Nghiệp vụ tạo vốn

an toàn của ngân hàng càng thấp. Vì vậy, để đảm bảo mức độ an toàn tối thiếu, cần
có quy định giới hạn giữa vốn tự có và vốn huy động.
*Nguồn vốn đi vay: có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
thương mại. thuộc loại này bao gồm:
-Vốn huy động từ việc phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi
của ngân hàng nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của ngân hàng khi vốn tự có và
vốn tiền gửi chưa đủ đáp ứng yêu cầu kinh doanh.
-Vốn vay của ngân hàng trung ương: khi ngân hàng trung ương nhận cho vay chiết
khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại.
-Vốn vay của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác thông qua thị
trường tiền tệ ngắn hạn. Tại đây, các ngân hàng thiếu tiền thanh toán sẽ vay của các
ngân hàng khác để thanh toán, nghiệp vụ này vừa giúp cho các ngân hàng thiếu tiền
có tiền mặt ngay vừa giúp cho những ngân hàng dư tiền cho vay để sinh lời.
-Vốn vay của các ngân hàng nước ngoài.
*Nguồn vốn tiếp nhận: những nguồn vốn mà ngân hàng thương mại ủy thác từ các
tổ chức trong hoặc ngoài nước từ ngân sách nhà nước để cho vay trung, dài hạn
thuộc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của nhà nước, để thực hiện những dự án
có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh doanh.
*Các nguồn khác như vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng như
khi làm đại lý, dịch vụ thanh toán, làm trung gian thanh toán…
1.2.3.2.Nghiệp vụ sử dụng vốn
Là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn hình thành của ngân hàng, chúng thuộc bên
Có trên bảng tổng kết tài sản nên còn được gọi là nghiệp vụ Có. Bao gồm:
*Thiết lập dự trữ: Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kiếm lời.
Song cần phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có
được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán
làm sao để đáp ứng được các nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy, các ngân
hàng phải để dành một phần nguồn vốn, không sử dụng nó, để sẵn sàng đánh ứng
nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C

SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
16
Chuyên đề tốt nghiệp
-Nghiệp vụ tín dụng thế chấp: đây là một hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản
của khách hàng. Tài sản này có thể là nhà cửa, công trình xây dựng, tàu biển, cây
lâu năm…và phải thuộc quyền sở hữu của người vay, có thể bán nhanh chóng. Khi
cho vay, ngân hàng cho vay theo tỷ lệ trên trị giá thực thế chấp có xác nhận củ công
chứng. Khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng để nhận
lại các giấy tờ trên, nếu không trả được nợ ngân hàng được quyền yêu cầu tòa án
cho lệnh phát mãi tài sản để thu nợ.
-Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: đây là một thể thức cấp tín dụng mà
trong đó ngân hàng đồng ý cho khách hàng sử dụng một mức tín dụng nhất định
trong thời hạn nhất định, đồng thời hai bên ký kết với nhau một hợp đồng tín dụng.
Mức cho vay có thể thực hiện theo hai cách: chuyển tất cả các khoản tiền vay vào
tài khoản tiền gửi, hoặc cho phép khách hàng sử dụng dần số tiền vay bằng cách
phát hành séc hoặc các công cụ thanh toán ngay trên tài khoản vãng lai.
-Nghiệp vụ tín dụng thuê mua và tín dụng đầu tư, trong đó:
+Tín dụng thuê mua là việc ngân hàng đứng mau tài sản của người cung cấp để cho
thuê đối với người có nhu cầu sử dụng (người đi thuê). Khi hợp đồng cho thuê hết
hạn, người đi thuê có thể trả lại tài sản đó cho ngân hàng, xin gia hạn thêm hợp
đồng hoặc mua lại tài sản đó theo giá cả thỏa thuận với ngân hàng. Tài sản cho thuê
ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản.
+Tín dụng đầu tư: thực chất khoản cho vay trung, dài hạn của ngân hàng để tài trợ
cho các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư như các công trình xây dựng cơ bản,
cải tạo và quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục hoặc thay thế tài sản cố định, cải
tiến và hợp lý hóa sản xuất kinh doanh.
-Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng sinh hoạt, cho vay để mua hàng tiêu
dùng. Ở các nước phát triển, mọi người có thu nhập ổn định đều được ngân hàng
cho vay dưới hình tức cấp thẻ tín dụng.
*Nghiệp vụ đầu tư: khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục

phát triển hiện nay của ngân hàng.
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách
hàng được hưởng tiền hoa hồng như:
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
18
Chuyên đề tốt nghiệp
-Chuyển tiền cho khách hàng sang địa phương khác để họ sử dụng theo yêu cầu
hoặc trả cho một người nào đó.
-Thu hộ: ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu hộ các khoản kỳ phiếu đến
hạn, chứng khoán, hàng hóa…
-Ủy thác: là nghiệp vụ mà ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng như quản lý
tài sản hộ, chuyển gia tài hộ, bảo quản chứng khoán và vật có giá, thanh lý tài sản
của xí nghiệp bị phá sản…
-Mua bán hộ: theo ủy nhiệm của khách hàng, ngân hàng đứng ra phát hành cổ phiếu
hoặc trái phiếu hoặc trái khoán công ty hoặc trái khoán nhà nước, mua bán ngoại tệ,
kim khí quý, đá quý cho khác hàng.
-Kinh doanh vàng, bạc, ngoại tệ để kiếm lời nếu được phép của ngân hàng trung
ương.
-Làm tư vấn tài chính tiền tệ như cung cấp thông tin, hướng dẫn chính sách tiền tệ,
thương mại, lập dự án đầu tư tín dụng, ủy thác đầu tư cho khách hàng.
1.3. Hoạt động tín dụng ngân hàng
1.3.1. Khái niệm
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ lâu đời trong đời sống xã hội loài
người. Theo tiếng Latin, tín dụng – phiên âm của từ “creditim”, nghĩa là sự tín
nhiệm. Điều này có nghĩa là trong quan hệ tín dụng, người cho vay tin tưởng rằng
người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày nào đó trong tương lai như hai bên đã thoả
thuận. Như vậy, một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên
tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay. Người cho vay tin
tưởng vào người vay sẽ sử dụng vốn có hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn
lẫn lãi.

nền kinh tế thị trường.
1.3.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sản phẩm
cho vay. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho các
ngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả của
công tác quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa và các căn cứ sau đây:
1.3.2.1 Mục đích cho vay:
Dựa vào mục đích cho vay, người ta thường phân chia cho vay thành các loại sau:
Cho vay bất động sản: Loại cho vay này liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và
dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thương mại: Đây là loại cho vay ngắn hạn của ngân hàng
cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
nhằm để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp này.
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay phục vụ cho mục đích trang trải các chi phí
sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu…
Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty
tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế
tài chính khác.
Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm
các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường
của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
1.3.2.2Thời hạn cho vay:
Theo tiêu thức này, người ta chia cho vay thành 03 loại:
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn

khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cần thiết
vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn yêu cầu và trình phương án sử dụng
vốn vay gửi đến Ngân hàng. Ngân hàng sẽ phân tích, đánh giá khách hàng và ký
hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi
suất và yêu câu bảo đảm nếu cần.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng và
khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng
thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng này được xác định dựa trên kế hoạch sản
xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hạn mức tín
dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Mỗi lần khách hàng vay chỉ cần trình bày
phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá dịch
vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ
vay, ngân hàng sẽ phát tiền vay cho khách hàng.
Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàng trả góp
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường được
áp dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc
hàng tiêu dùng lâu bền. Số tiền mỗi lần trả được tính toán sao cho phù hợp với khả
năng trả nợ.
Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá, áp
dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu
thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng. Doanh nghiệp khi
mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng hoá và sẽ thu nợ
khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn xin
vay luân chuyển. Ngân hàng cùng với khách hàng thoả thuận với nhau về phương
thức cho vay, hạn mức tín dụng và các nguồn cung cấp hàng hoá cũng như khả
năng tiêu thụ. Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn

ngắn hạn, trung và dài hạn trong nền kinh tế.
Xét từ giác độ khách hàng: thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am
hiểu khách hàng sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng, đảm
bảo thỏa mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,
chất lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu
hợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút
được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù
hợp với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng,
góp phần làm lành mạnh tài chính khách hàng.
Xét từ giác độ nền kinh tế: hoạt động tín dụng trong những năm gần đây
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
24
Chuyên đề tốt nghiệp
phản ánh rõ nét sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới với nhiều
khái niệm mới, nội dung mới để đạt được sự thống nhất về nhận thức và tạo điều
kiện nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Tín dụng phục vụ sản xuất kinh
doanh, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phần
tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa
nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế
phát triển.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ảnh mức độ
thích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể
hiến sức mạnhc ủa một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Chất lượng
tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơn
giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về sản xuất, chi
phí nghiệp vụ…
1.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng
1.4.2.1. Chỉ tiêu định tính
Cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng nếu Ngân hàng
có bảo vệ, có bãi gửi xe, có nhân viên trông xe không thu lệ phí thì Ngân hàng sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status