Kinh tế vĩ mô - chương 6 - Pdf 20

CHƯƠNG 6
KINH TẾ VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MỞ
TÓM TẮT NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM VỀ NỀN KINH TẾ MỞ
1. Định nghĩa
Kinh tế mở là một nền kinh tế có mối liên hệ với nền kinh tế của các nước
ngoài về các mặt như trao đổi hàng hóa, trao đổi các nguồn lực kinh tế, trao đổi
dịch vụ đa quốc gia, trao đổi và hợp tác khoa học - công nghệ, du lịch, đạt đến
một quy mô, trình độ và ý nghĩa kinh tế xã hội nhất định, được gắn chặt trong một
thể chế, thiết chế kinh tế của khu vực hay toàn cầu.
2. Những tính chất đặc trưng của nền kinh tế mở
a. C hủ thể kinh tế
b. Cơ cấu kinh tế
c. Đầu tư
d. Thể chế kinh tế
II. LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
(Nguyên tắc lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế)
1. Thuyết lợi thế 1 chiều của phái trọng thương
Các nhà kinh tế trọng thương (TK 16 - 17) cho rằng 1 quốc gia chỉ có thể
được lợi từ thương mại quốc tế trên cơ sở quốc gia khác bị thiệt. Nói cách khác,
trong TMQT tổng lợi ích của các QG không tăng lên mà chỉ được chuyển từ QG
này sang QG khác. QG được lợi là QG tích luỹ thêm tiền bạc (quí kim) sau khi
mua bán. Điều đó cũng có nghĩa là lợi thế thuộc về nước có XK nhiều hơn NK, tức
cán cân thương mại thặng dư.
Từ đó họ chủ trương khuyến khích XK, hạn chế NK, nhất là nhập khẩu các
loại hàng hoá xa xỉ và những loại hàng hoá được chế biến hoàn chỉnh. Trong XK,
cần nghiêm cấm việc XK vàng thoi, bạc nén, bởi lẽ đó là tiền, mà tiền là mục đích
hoạt động của TMQT nói riêng và của các hoạt động kinh tế nói chung. Mặt khác,
để có nhiều hàng hoá XK cần có nhiều lao động, do đó, phải khuyến khích tăng
dân số. Như vậy, trong quan niệm của phái trọng thương, 1 QG giàu có không phải
thể hiện ở mức sống cao của dân chúng mà là ở khối lượng tiền tích luỹ được. Họ

cái gọi là lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh (Comparative Advantage).
3. Thuyết lợi thế tương đối (Comparative Advantage) của David Ricardo
Một nước có lợi thế tương đối so với nước khác nếu SX hàng hoá với giá
rẻ hơn khi so sánh qua loại hàng hoá khác.
(Hay: 1 đất nước có lợi thế so sánh trong việc SX 1 mặt hàng nước đó có chi
phí SX tương đối (hay chi phí cơ hội) về mặt hàng thấp hơn so với nước khác).
G/s:
a
1
:



giá thành sản xuất mặt hàng X ở nước 1.
b
1
:

Giá thành sản xuất mặt hàng Y ở nước 1.
a
2
:

Giá thành để sản xuất mặt hàng X ở nước 2
2
b
2
: Giá thành để sản xuất mặt hàng Y ở nước 2
Với lượng đầu vào cho trước.
X

Chi phí cơ hội để sản xuất mặt hàng X là:

X
Y
P
P
y
x
=
Nếu:
1b
a
1
<
2
2
b
a
Hoặc:
2
1
2
1
b
b
a
a

Hoặc :
1

1








y
x
P
P
<
2








y
x
P
P
/Trong đó:
1


Nước A Nước B
X (Ti vi) 2 (quần áo) 3 (quần áo)
Y(Quần áo) ½ (ti vi) 1/3 (ti vi)
3
Nước A: Để sản xuất thêm 1 ti vi, phải hi sinh hai bộ quần áo. Ngược lại, để
SX thêm 1 bộ quần áo phải hi sinh ½ ti vi.
Nước B: Để SX thêm 1 ti vi, phải hi sinh 3 bộ quần áo. Ngược lại, để SX
thêm 1 bộ quần áo, phải hi sinh 1/3 chiếc ti vi.
Như vậy, nước A có chi phí cơ hội để SX ti vi thấp hơn nước B, còn nước B
có chi phí cơ hội SX quần áo thấp hơn nước A.
Nguyên tắc lợi thế so sánh chỉ ra rằng, nếu TMQT được tiến hành 1 cách tự
do thì nước A có thể chuyên môn hoá SX ti vi để đổi lấy quần áo do nước B SX.
Ngược lại, nước B có lợi thế chuyên môn hoá SX quần áo và đổi lấy ti vi của nước
A. Sau khi có TMQT, cả 2 nước cùng có lợi, TM sẽ làm tăng khả năng tiêu dùng
của mỗi nước và tăng khả năng SX của thế giới.
4. Giới hạn khả năng SX và lợi ích của TMQT
Hình dưới chỉ ra lợi ích của chuyên môn hoá và TMQT làm tăng khả năng
tiêu dùng như thế nào thông qua đường PPF.
Đồ thị cho thấy:
- Đường đậm nét mô tả đường PPF hay khả năng tiêu dùng của đất nước.
- Đường bên ngoài thể hiện khả năng tiêu dùng của mỗi nước sau khi có
TMQT, với giả định rằng cả 2 nước đều có cùng 1 khối lượng nguồn lực ( như số
giờ lao động) là như nhau và bằng 36 đơn vị.
- Phần gạch chéo cho thấy khả năng SX hoặc tiêu dùng của mỗi nước sẽ tăng
lên như thế nào khi có chuyên môn hoá và TMQT.
Như vậy, TMQT thúc đẩy phân công lao động và hợp tác 2 bên cùng có lợi.
TM tự do mở cửa tạo điều kiện cho mỗi nước mở rộng khả năng SX và tiêu thụ sản
phẩm, nâng cao SL và mức sống toàn thế giới.
Song trong thực tế, để bảo vệ nền SX nội địa của mỗi nước, chống lại hàng
nhập, tạo thêm việc làm cho dân cư, CP có thể thực hiện chính sách bảo hộ từ 2

công dân và CP 1 nước với các nước còn lại trên TG
Hay: Cán cân thanh toán (Balance of Payments) phản ánh toàn bộ lượng
tiền giao dịch giữa 1 nước với phần còn lại của thế giới.
Phương pháp hạch toán trên cán cân thanh toán là: Nếu luồng tiền từ nước
ngoài đi vào trong nước thì ghi bên “có” và ghi dấu “+”; nếu luồng tiền từ trong
nước đi ra nước ngoài thì ghi bên “nợ” và ghi dấu “- ". Chênh lệch giữa luồng tiền
đi vào và đi ra thường được gọi là tài khoản “ròng”.
Cán cân thanh toán có 2 tài khoản chủ yếu: T/K thanh toán vãng lai và T/K
tư bản(vốn).
- Tài khoản vãng lai (Current Acount) nhằm ghi lại các luồng thu nhập đi
vào và đi ra khỏi quốc gia. Thu nhập đi vào và đi ra có thể do:
+ XNK hàng hoá(hữu hình) và dịch vụ(còn gọi là thương mại vô hình – bao
gồm các hoạt động xuất và nhập khẩu dịch vụ vận tải, du lịch, ngân hàng,…):
Chênh lệch giữa XK và NK được xếp vào mục xuất khẩu ròng (NX).
+ XNK các yếu tố SX (vốn, lao động, bằng phát minh)
⇒ Chênh lệch giữa thu nhập (TN) từ các yếu tố XK và TN từ các yếu tố NK
được xếp vào mục TN ròng từ nước ngoài.
+ Chuyển nhượng TN giữa các nước với nhau, bao gồm các khoản như viện
trợ, bồi thường chiến tranh, quà biếu,… chênh lệch giữa TN do nhận chuyển
nhượng và TN chuyển nhượng ra nước ngoài được xếp vào mục chuyển nhượng
ròng.
- Tài khoản vốn (Capital Acount) nhằm ghi lại các luồng vốn đi vào và đi ra
khỏi quốc gia.
+ Vốn dùng để mua nhà máy, mua c/phiếu của các công ty được gọi là đầu
tư. Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi ra được xếp vào mục đầu tư ròng.
+ Vốn dùng để gửi NH và mua công trái của CP nước ngoài, hay trực tiếp
vay mượn từ bên ngoài được gọi là giao dịch tài chính. Chênh lệch giữa luồng đi
vào và đi luồng đi ra được xếp vào mục giao dịch tài chính ròng.
- Cán cân thanh toán hay kết toán chính thức nhằm tổng kết toàn bộ lượng
ngoại tệ đi vào và đi ra dưới tất cả các hình thức:

tiền VN vì chi tiêu hàng ngày của họ cũng được thanh toán bằng VNĐ. Tuy
nhiên, nếu muốn mua một máy Photo của Mỹ thì bằng cách nào đó, cuối cùng
cũng phải trả bằng USD cho người Mỹ. Ngược lại, người Mỹ muốn mua Cà phê
của VN thì cuối cùng, bằng cách nào đó cũng phải trả bằng VNĐ ⇒ Việc mua
bán giữa 2 nước sử dụng 2 loại tiền khác nhau đòi hỏi phải có sự chuyển đổi loại
tiền này sang loại tiền khác. Từ đó hình thành nên tỷ giá hối đoái.
Khái niệm
Tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate) là giá cả của 1 đơn vị tiền tệ của
1 nước tính bằng tiền tệ của nước khác.
Hoặc Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền trong nước với đồng
tiền nước ngoài.
Thông thường, thuật ngữ “tỷ giá hối đoái” được ngầm hiểu là số lượng đơn
vị tiền nội tệ cần thiết để mua 1 đơn vị ngoại tệ.
Giả định xét thị trường trao đổi giữa VND và USD và xác định tỉ giá giữa
hai đồng tiền này. Nguyên lý chung được áp dụng cho các giao dịch khác với
nước ngoài, như vậy USD được coi là ngoại tệ nói chung, và giá trị của USD
được tính theo VND được coi là TGHĐ nói chung.
Vì tiền của một nước được trao đổi với tiền của nước khác trên thị trường
ngoại hối, do đó cầu về ngoại tệ chính là cung về VNĐ, trong khi cung về ngoại
tệ chính là cầu về VNĐ.
Vì lí do này mà một lý thuyết về TGHĐ giữa D
USD
và S
USD
hoặc D
VND
hoặc
S
VND
. Tuy nhiên, để tiện cho việc phân tích sẽ xem xét cầu và cung về USD và tỷ

tăng (E⇑), P
hàng và tài sản
của Việt Nam tính bằng USD giảm ⇒ Người nước ngoài
mua nhiều hơn (X⇑)⇒S
USD
tăng.
Khi có sự di chuyển trên đường S
USD
, nếu xuống phía dưới, thì giá trị của
USD giảm, giá trị của VND tăng. Trong trường hợp ngược lại, VND giảm giá,
USD tăng giá.
Cầu về USD (D
USD
)
Được sinh ra từ 2 nguồn:
- Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản của người nước ngoài mà người trong
nước muốn mua.
- Lượng vốn, thu nhập và các khoản chuyển nhượng ra nước ngoài.
Đường D
USD
là đường dốc xuống (đồ thị dưới). Điều này biểu thị khi giá
USD giảm (E⇓), P
hàng và tài sản
của Việt Nam tính bằng USD tăng ⇒ Người Việt
Nam mua nhiều hàng hóa hơn từ Mỹ (IM⇑)⇒D
USD
tăng.
Khi có sự di chuyển trên đường D
USD
, nếu xuống phía dưới, thì giá trị của

cán cân thanh toán
Để làm rõ vai trò của tỷ giá hối đoái, ta xét mối quan hệ giữa TGHĐ và
cán cân TM nói riêng, cán cân thanh toán nói chung.
Có:
NX = X - IM
NX > 0

Cán cân TM thặng dư
NX < 0

Cán cân TM thâm hụt
NX = 0

cân bằng
Tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến XK ròng (NX). Vì:
- TGHĐ tác động đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên TT quốc
tế. Một khi giá cả sp nội địa rẻ tương đối so với sp cùng loại trên TT quốc tế, thì
khả năng cạnh tranh tăng lên

X có xu hướng tăng lên.
Khả năng cạnh tranh còn gọi là TGHĐ thực tế (Real foreign Exchange rate)
là tỷ giá có phản ánh tương quan giá cả hàng hoá giữa hai nước, được tính theo
loại tiền của 1 trong hai nước đó.
Nếu chọn đồng nội tệ để tính thì:
E
r
= P
nước ngoài
tính bằng nội tệ/ P
trong nước

VN là:
1.000 USD . 14.000 VNĐ/USD = 14.000.000 VNĐ
Với P và P
o
không đổi, khi E⇑ ⇒ E.P
o
⇑. P
của sp nước ngoài
trở nên đắt tương đối
so với giá sp trong nước. P
của sp trong nước
trở nên rẻ tương đối so với sp nước ngoài.
10
SP trong nước, do đó có khả năng cạnh tranh cao hơn ⇒ Trong ngắn hạn X⇑,
IM⇓.
Mặt khác, ở chương 4, ta có:
AD = C + I + G + NX
⇒NX ⇑⇒AD⇑, Y
cb
⇑ và ngược lại.
Vậy, TGHĐ danh nghĩa E thay đổi ⇒ làm thay đổi cán cân thương mại
(XK ròng) ⇒ tác động đến sản lượng, việc làm và giá cả.
Mở rộng tác động của tỷ giá hối đoái với cán cân thanh toán (xem xét mqh
giữa lãi suất i và tỷ giá hối đoái)
Khi i ⇑ ⇒ đồng tiền nội địa trở nên có giá hơn ⇒ E⇓⇒ nếu điều kiện tư
bản vận động tự do ⇒ vốn nước ngoài sẽ tràn vào thị trường trong nước, giả định
cán cân TM cân bằng (NX = 0)⇒ cán cân thanh toán sẽ thặng dư. Ngược lại, nếu
E⇑ ⇒ cán cân thanh toán sẽ thâm hụt.
3. Các hệ thống tiền tệ quốc tế (các loại cơ chế tỷ giá HĐ)
3.1. Cơ chế tỷ giá cố định ( Fixed Exchange Rate)

L ng ngo i tượ ạ ệ
E
H
o
Cung ngo i tạ ệ
C u ngo i tầ ạ ệ
E
0
A
B
Th aừ
E
f
Vì có hiện tượng thừa ngoại tệ nên giá ngoại tệ (tức tỷ giá hối đoái) E có xu
hướng sụt giảm. Muốn duy trì mức tỷ giá cố định, NHTW phải bỏ nội tệ ra mua
ngoại tệ vào. Điều này một mặt làm tăng dự trữ ngoại tệ, mặt khác làm tăng thêm
lượng tiền (nội tệ) phát hành vào nền kinh tế.
Việc mua ngoại tệ của NHTW làm cho cầu ngoại tệ tăng, đường cầu dịch
sang phải. Nếu lượng ngoại tệ mua vào bằng đoạn AB thì đường cầu dịch sang
phải đến điểm B, mức tỷ giá E
f
tiếp tục được duy trì.
Trường hợp 2: Tỷ giá cố định thấp hơn tỷ giá cân bằng
Trong trường hợp này đồng nội tệ được đánh giá quá cao. Hình dưới cho
thấy, với mức tỷ giá cố định là E
f
ta có cầu lớn hơn cung, tạo nên tình trạng
“thiếu” ngoại tệ.
Lượng ngoại tệ thiếu là đoạn CD. Lượng thiếu này xảy ra vì: Việc duy trì
mức E

0
C
D
Thi uế
E
f
- Dự trữ không tương xứng
- Các cuộc khủng hoảng mang tính đầu cơ: Khi đã rõ ràng rằng 1 đồng tiền
được đánh giá quá cao hoặc quá thấp so với tỷ giá hiện tại của nó, thì các nhà đầu
cơ sẽ mua hoặc bán những lượng tiền lớn theo dự đoán của họ về sự thay đổi tỷ
giá hối đoái. NHTW sẽ phải chi tiêu những lượng ngoại tệ lớn nhằm cố gắng duy
trì tỷ giá cố định cho tới khi nó được thay đổi.
3.2. Cơ chế tỷ giá thả nổi (Floating Exchange Rate) hay tỷ giá linh hoạt
(Flexible Exchange Rate) là loại tỷ giá được quy định bởi cung và cầu trên
thị trường. Theo cơ chế này, CP không cần phải quan tâm đến việc điều hoà
lượng cung và cầu ngoại tệ trên thị trường, khi cung và cầu về ngoại tệ thay đổi
đến đâu, tỷ giá sẽ thay đổi tương ứng đến đó, theo mức cân bằng trên thị trường.
Ví dụ: Giả sử do thu nhập tăng, người VN mua hàng hoá của Mỹ nhiều
hơn hoặc chuyển tiền ra nước ngoài nhiều hơn, làm cho cầu ngoại tệ tăng. Lúc đó
đường cầu dịch chuyển sang phải, tỷ giá tăng từ E
1
đến E
2
như hình dưới, đồng
VN bị giảm giá.
Giả sử nhờ chính sách khuyến khích đầu tư mà các doanh nghiệp Mỹ đầu
tư vào VN nhiều hơn, hoặc do hàng VN tốt hơn làm cho người Mỹ mua hàng VN
nhiều hơn, làm cho cung ngoại tệ tăng. Lúc đó đường cung ngoại tệ dịch chuyển
sang phải, tỷ giá giảm từ E
1

1
S
2
Cung ngo i t t ng làm cho t giá gi mạ ệ ă ỷ ả
Tương tự, khi đường cầu dịch sang trái thì tỷ giá thì tỷ giá giảm, đường
cung dịch chuyển sang trái thì tỷ giá tăng. Còn nếu cả hai đường cùng dịch
chuyển thì tỷ giá có thể tăng, giảm hoặc không đổi tuỳ từng trường hợp.
3.3. Cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý (không hoàn toàn) - (Flexibility Limited
Exchange Rate)
Là sự kết hợp giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định. Nói cách khác, mức tỷ
giá trong thực tế có thể được quyết định bởi thị trường, cũng có thể do CP ấn
định. Nói chung, nếu thị trường ít biến động thì tỷ giá được thả nổi theo cung và
cầu trên thị trường ngoại hối. Nhưng khi có sự dao động mạnh và nhanh của tỷ
giá thị trường thì CP sẽ can thiệp vào bằng cách ấn định tỷ giá cố định.
IV. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CHỦ YẾU TRONG ĐIỀU KIỆN
NỀN KINH TẾ MỞ
Để cung cấp một khuôn khổ phân tích có khả năng vận dụng cho nhiều
tình huống khác nhau, chúng ta hãy nghiên cứu 2 trường hợp sau:
- Trường hợp hệ thống TGHĐ cố định, với sự vận động hoàn toàn tự do của
vốn (TB).
- Trường hợp hệ thống TGHĐ linh hoạt, với sự vận động hoàn toàn tự do
của vốn (TB).
Do nước ta là nước nhỏ, vì vậy chính sách lãi suất của nước ta không ảnh
hưởng được đến lãi suất chung của thế giới.
Giả định mức lãi suất của thế giới là cho trước (i*) ⇒
+ Nếu lãi suất trong nước (i) > (i*)⇒ sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài
muốn đầu tư vào nước ta để thu được khoản tiền lãi cao hơn ⇒ sẽ có 1 luồng vốn
“chảy” vào nước ta cho đến khi i =i*.
+ Ngược lại, khi i < i* ⇒ 1 số vốn trong nước sẽ chảy ra nước ngoài cho đến
khi i =i*.

NHTW, trở thành 1 biến nội sinh.
1.1. Tác động của chính sách tài khoá
Giả sử nền kinh tế cân bằng ngắn hạn tại A, CP quyết định tăng G.
- Trong ngắn hạn: P chưa kịp thay đổi ⇒ AD⇑⇒ IS dịch chuyển sang
phải đến IS’ nếu nền kinh tế đóng, cân bằng mới thiết lập tại A’.
Trong nền kinh tế mở, tại A’ thì i > i* ⇒ TB đổ vào trong nước. Khi đó
NHTW can thiệp bằng cách mua dự trữ ngoại hối, đẩy nội tệ vào lưu thông. Dân
chúng chuyển từ tài sản nước ngoài sang tài sản trong nước ⇒ LM dịch chuyển
đến LM’ (do cung tiền thực tế tăng).
⇒ Cân bằng mới được thiết lập tại A” với Y⇑, lãi suất cân bằng trên
đường CM ⇒ Chính sách TK trong trường hợp này có thể hạn chế thoái lui đầu
tư (đáng lẽ phải xảy ra trong nền kinh tế đóng), khuyến khích tăng Y.
⇒ Trong ngắn hạn, tác động của chính sách tài khoá mở rộng trong nền
kinh tế mở mạnh hơn tác động của nó trong nền kinh tế đóng.
- Trong dài hạn: AD⇑ ⇒ P⇑ ⇒ giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá
trong nước ⇒ NX⇓ ⇒ Y⇓. Quá trình đó sẽ tiếp tục cho đến khi trạng thái cân
bằng cũ (A) được thiết lập lại. Khi đó, cán cân thương mại thâm hụt.
15
Tóm lại, trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định, với mức lãi suất của thế
giới đã cho, chính sách tài khóa không thể đạt cùng lúc 2 mục tiêu: cân bằng
trong nước và cân bằng ngoài nước.
1.2. Tác động của chính sách tiền tệ
G/s nền kinh tế đang ở cân bằng A. NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở
rộng bằng cách tăng MS
n
. Với P = const ⇒ MS
r
⇑ ⇒ LM dịch chuyển đến LM’
⇒ i<i* ⇒ các nhà đầu tư trong nước sẽ đầu tư ra nước ngoài ⇒ 1 luồng vốn sẽ
chạy ra nước ngoài gây sức ép giảm giá đồng nội tệ (e⇓) ⇒ NHTW phải bán dự

A’’
LM
Phá giá đồng tiền (Devaluation) là chủ động giảm giá đồng nội tệ so với
đồng ngoại tệ (nghĩa làm tăng E, giảm e).
Mục đích: Kích thích XK, hạn chế NK ⇒ Y⇑, thất nghiệp⇓ và cải thiện
cán cân thương mại (chính sách mở rộng)
Biện pháp: NHTW bỏ nội tệ ra mua ngoại tệ vào. Ví dụ, ở hình dưới, giả
sử NHTW mua vào 1 lượng ngoại tệ bằng với đoạn A
1
F, làm tăng cầu ngoại tệ,
đường cầu dịch chuyển sang phải đến điểm F, tỷ giá hối đoái tăng từ E
o
đến E
f
.
Tác động của chính sách phá giá diễn ra theo hai hướng: Làm thay đổi kim
ngạch XNK và thay đổi lượng cung tiền. Cụ thể:
- Khi phá giá, hàng XK trở nên rẻ 1 cách tương đối trong thị trường nước
chủ nhà⇒X⇑, IM⇓⇒ Hàng hoá của nước thực hiện chính sách phá giá trở nên có
khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế ⇒ NX⇑⇒ IS dịch sang phải ⇒ i⇑ ⇒
TB chảy vào trong nước ⇒ NHTW phải can thiệp, công chúng muốn giữ nhiều
hơn nội tệ so với ngoại tệ ⇒ (MS/P)⇑ ⇒ LM dịch chuyển sang phải. Điểm cân
bằng mới thiết lập tại A” (hình trên) như trong trường hợp chính sách tài khoá
mở rộng. Nhưng điểm khác là IS ở đây dịch chuyển do tác động của NX chứ
không phải của G.
* Tuy nhiên, về dài hạn, có 1 số nhược điểm sau:
- NX⇑⇒AD⇑⇒P⇑⇒ xảy ra lạm phát.
- Có thể bị trả đũa bởi các nước lân cận.
2. Tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ trong nền kinh tế mở, với hệ
thống tỷ giá linh hoạt và TB vận động hoàn toàn tự do

trong nước giảm mà còn do l/s giảm(hình dưới).
Chính sách TK mở rộng làm dịch chuyển IS đến IS’. Tại điểm cb mới E’
thì i>i* ⇒ Tư bản tràn vào trong nước⇒ cán cân thanh toán thặng dư ⇒ e⇑ hay
đồng nội tệ lên giá ⇒ X⇓ ⇒ IS dịch chuyển về vị trí ban đầu A, Y⇑ và cán cân
TM xấu đi.
18
Y
i
CM
i =i*
IS
A
A’
LM
IS’
Anh h ng c a c/s TK trong n n KT m t giá H linh ho tưở ủ ề ở ỷ Đ ạ
2.2. Chính sách tiền tệ
Hình dưới mô tả tác động của việc tăng cung về tiền của NHTW.
(MS/P)⇑⇒ LM dịch chuyển đến LM’. L/s giảm làm e⇓, E⇑. Ngược lại, với tác
động của C/s TK, đồng nội tệ giảm giá làm tăng khả năng cạnh tranh⇒NX⇑ ⇒
đường IS dịch chuyển sang bên phải đến IS’. L/s trở về mức i = i* ⇒ cân bằng
mới được thiết lập tại A’’⇒ chính sách tiền tệ làm Y⇑.
Tuy nhiên, xét trong dài hạn, Y⇑⇒P và w⇑ ⇒ cân bằng tiền tệ thực tế
giảm ⇒ LM’ dịch chuyển dần dần về LM, lãi suất khi đó tăng dần ⇒ đồng nội tệ
lại tăng giá⇒ IS’ dần dịch chuyển lại IS ⇒ cân bằng được thiết lập ở vị trí cũ.
Tóm lại, chính sách tiền tệ có tác động lớn hơn trong nền kinh tế mở, tỷ giá
linh hoạt, TB chuyển động tự do hoàn toàn. Nhưng tác động đó bị hạn chế trong
thời kỳ dài hạn, lúc mà P tăng, Y trở lại mức bình thường, song w và e đã tăng
cùng tốc độ tăng của P.
V. CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP

đơn vị hàng tiêu dùng là bao nhiêu?
3. Nước nào sẽ có lợi nhuận nhiều hơn nếu thương mại diễn ra giữa
hai nước?
4. Nếu thương mại quốc tế diễn ra thì điểm tiêu dùng của mỗi nước sẽ nằm
ở đâu so với đường giới hạn khả năng sản xuất?
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status