Chương 6: Tổng chi tiêu, Mức lãi suất và Tiền tệ
Harvey B. King
1)
Giới thiệu
Trong Chương 4 chúng ta đã tìm hiểu về hàm tổng chi tiêu đơn giản, ở đó tiêu
dùng là một biến chủ đạo để hiểu được một cú sốc được lan truyền như thế nào
trong nền kinh tế.
● Chúng ta đã nói qua về chi tiêu đầu tư trong phần đó, lưu ý rằng đó là một trong
những yếu tố dễ biến động nhất của tổng chi tiêu.
● Chúng ta cũng đã thấy một cú sốc đối với cầu đầu tư có thể tạo ra hiệu ứng số
nhân như thế nào, và có tác động lớn hơn, gấp bội đối với GDP thực tế như thế
nào.
● Do đó, một cú sốc xuất phát từ đầu tư rõ ràng là một nguyên nhân chủ yếu gây
nên chu kỳ kinh tế.
● Tuy nhiên, trong chương 4 đầu tư là một biến ngoại sinh rất đơn giản.
● Trong chương này, chúng ta sẽ xem hàm đầu tư là ngoại sinh, và cố gắng giải
thích điều gì gây nên sự bất ổn trong đầu tư, và do đó là chu kỳ kinh tế.
[1]
Chúng ta sẽ thấy rằng nguyên nhân chủ yếu của sự biến động trong đầu tư là sự
biến động trong
tỷ lệ lãi suất.
● Để giải thích sự biến động trong đầu tư, chúng ta phải giải thích được sự biến
động trong tỷ lệ lãi suất.
● Do đó chúng ta cần giải thích lúc nào tỷ lệ lãi suất được quyết định trong nền
kinh tế.
● Trong phần sau của chương 5, chúng ta sẽ tìm hiểu tại sao thị trường tài chính
Canada lại quyết định tỷ lệ lãi suất Canada.
● Nói cách khác, chúng ta sẽ cố gắng giải thích một phần khác của vòng luân
chuyển của thu nhập và chi tiêu.
● Ở cuối chương 5, chúng ta sẽ có một mô hình hàng hoá và dịch vụ đầy đủ, tương
tác, và thị trường tài chính, mô hình IS-LM.
1987 4.0 105 654
1988 5.7 116 +10.5% 686 +4.9%
1989 7.2 122 +5.2% 704 +2.6%
1990 8.2 116 -4.9% 705 +0.1%
1991 3.3 110 -5.2% 692 -1.8%
1992 5.2 108 -1.8% 699 +1.0%
1993 3.2 105 -2.8% 715 +2.2%
1994 5.5 113 +7.6% 748 +4.6%
1995 5.0 111 -1.8% 769 +2.8%
1996 2.8 120 +8.1% 782 +1.7%
1997 2.0 140 +16.7% 813 +4.0%
1998 4.2 145 +3.4% 838 +3.1%
Số liệu này cho thấy, tỷ lệ lãi suất là biến chủ đạo quyết định đến cầu đầu tư
●
Tỷ lệ lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa (thị trường vốn) - tỷ lệ lạm phát.
● Khi lãu suất thực tế tăng lên năm 1989, 1990, đầu tư của các doanh nghiệp giảm
(mặc dù hơi chậm), giảm với tổng là 13.9% năm 1993.
● Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của nó đối với chu kỳ kinh tế - đó là nguyên
nhân chính của cuộc khủng hoảng 1990-91.
● Lãi suất giảm suốt những năm 90, cầu đầu tư cuối cùng đã tăng lên, và nền kinh
tế bắt đầu phục hồi khỏi sự suy thoái.
● Chúng ta có thể thấy rằng một thay đổi về lãi suất năm 1994-95 làm tổn hại đến
đầu tư, dẫn đến tăng trưởng GDP chậm lại năm 1996.
Cầu đầu tư của doanh nghiệp là loại
cầu gián tiếp - vốn (K) có nhu cầu do việc sử
dụng nó để sản xuất ra sản phẩm đem bán, do đó nó phát sinh từ nhu cầu về sản
phẩm.
● Doanh nghiệp quyết định tổng lượng vốn (K*) mong muốn, dựa trên nhu cầu
sản xuất dự tính.
● Doanh nghiệp tiếp đó so sánh mức độ K hiện tại (K
ròng
, chúng ta trước hết cần xây một mô hình của K*.
3) Hàm Đầu tư
Đầu tư là việc mua sắm
hiện tạivốn thiết bị mới mà nó sẽ mang lại lợi suất trong
tương lai.
● Các nhà kinh tế học lập luận rằng doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định đầu tư
bằng cách đánh giá
lợi nhuận ròng biên dự kiến của dự án đầu tưđối với chi phí
biên
của dự án.
● Doanh nghiệp sẽ tiếp tục dự án nếu lợi nhuận biên dự kiến lớn hơn chi phí biên -
do đó, dự án sẽ làm tăng lợi nhuận, và đáng đầu tư.
Chi phí biên chủ yếu là chi phí tài chính của dự án.
● Chúng ta sẽ đưa chi phí xây dựng của dự án vào lợi nhuận biên ròng dự kiến.
● Chi phí tài chính của dự án có thể là chi phí đi vay thấy rõ, hoặc là chi phí cơ hội
không thấy rõ.
● Có bốn nguồn cơ bản để bổ sung tài chính cho doanh nghiệp:
1. Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng (tuy nhiên) với mức lãi suất danh nghĩa.
2. Doanh nghiệp có thể bán trái phiếu ra công chúng, và thanh toán lợi tức - do đó
mức lãi suất bằng với tỷ lệ lợi tức được chia theo giá trị trái phiếu.
3. Doanh nghiệp có thể chào bán lần đầu cho (IPO) ở đó họ bán cổ phần công ty
để đổi lấy một phần lợi nhuận trong tương lai - chi phí cơ hội của nó sẽ là tỷ lệ lãi
suất (là cái mà các cổ đông sẽ hưởng lợi ở nơi khác).
4. Doanh nghiệp có thể sử dụng thu nhập giữ lại (lợi nhuận chưa phân phối) - chi
phí cơ hội của nó sẽ là tỷ lệ lãi suất (cái mà các cổ đông có thể hưởng lợi ở nơi
khác).
● Do đó với mỗi đô la đầu tư thực tế, chi phí biên là mức lãi suất.
Lợi nhuận biên dự kiến của việc mua tổng lượng vốn là khoản thu dự kiến trong
tương lai - chi phí mua sắm và chi phí điều hành, nên nó là lợi nhuận ròng.
● Lưu ý rằng nếu r tăng 1%, thì đầu tư giảm xuống h x 1%.
● Đồ thị của hàm đầu tư này được thể hiện trong Hình 1 dưới đây.
Hình 1
● Chúng ta có thể viết lại biểu thức (3) để thấy được hệ số góc (độ dốc) của hàm
đầu tư này là:
(4)
Bây giờ chúng ta có thể đã có một vài nguyên nhân để giải thích tại sao chi tiêu
đầu tư lại dễ biến động như vậy:
● Trước hết nó thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất, và mức lãi suất lại rất dễ biến
động, như trong bảng trên đã chỉ ra.
● Những thay đổi này được thể hiện như là một sự dịch chuyển theo hàm đầu tư
trong Hình 1.
● Thứ hai, chi tiêu đầu tư sẽ biến đổi khi tỷ lệ thu hồi trên vốn biến đổi.
● Tỷ lệ thu hồi trên vốn phụ thuộc vào thu nhập hiện tại và kỳ vọng trong tương
lai, điều này lại phụ thuộc vào niềm tin kinh doanh trong tương lai, thay đổi về
công nghệ, v.v..
● Điều này có thể biến động rất nhiều, đặc biệt là khi chu kỳ kinh tế cũng biến
động.
● Chúng ta cũng có thể thấy được điều này trong bảng trình bày ở trên:
1. Ví dụ, khi nền kinh tế đi vào suy thoái, chúng ta có thể thấy ít nhất một phần
của lý do cho sự giảm sút lớn chi tiêu cho đầu tư - doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi
việc bán hàng giảm đi, và cắt giảm việc thực hiện các dự án của họ.
2. Khi nền kinh tế được phục hồi trong những năm 90, chúng ta có thể thấy sự
tăng lên trong chi tiêu đầu tư.
● Sự tăng lên trong chi tiêu đầu tư này được biểu hiện như là tự thay đổi trong I
0
và do đó có sự dịch chuyển sang trái hoặc phải của hàm I như trong Hình 1.
● Đó là một quan hệ cân bằng, và cho chúng ta thấy sự kết hợp của Y và r và biểu
thị các điểm chi tiêu cân bằng khác nhau.
● Khi r thay đổi, thì chi tiêu dự kiến cũng thay đổi, và tổng chi tiêu dự kiến cũng
thay đổi, và dẫn đến thay đổi trong điểm cân bằng của GDP thực tế.
● Kết hợp những yếu tố này chúng ta có được đường IS.
● Đường IS cho chúng ta thấy mức cân bằng của GDP thực tế mong muốn,
nếu
chúng ta đã biết được mức lãi suất
.
● Tuy nhiên, nó không tự nói với chúng ta mức lãi suất là bao nhiêu - đó chỉ là
một phần của câu chuyện.
Hình 2 dưới đây chỉ cho chúng ta biết làm cách nào để tìm ra đường IS.
● Đường IS có thể được biểu thị dưới dạng tổng quát - xem phần phụ lục
● Chúng ta sẽ mô tả nó trên đồ thị.
●
Hãy nhớ rằng tôi không định sử dụng hệ quy chiếu vuông góc ở đây.
● Tôi có ba phần trong Hình 2 dưới đây:
Phần (a) mô tả hàm cầu đầu tư mà chúng ta đã mô tả ở trên.
Phần (b) mô tả chi tiêu cân bằng ở phần II A.
Phần (c) chỉ sự kết hợp của r và Y và tạo ra sự cân bằng trong đồ thị chi tiêu.
Chúng ta bắt đầu với suy kinh nghiệm suy luận - cho các yếu tố khác không đổi,
chúng ta sẽ thay đổi mức lãi suất, và xem xét điều này tác động như thế nào đến
chi tiêu cân bằng và GDP thực tế trong thị trường hàng hoá và dịch vụ.