ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÁI NHẠY CỦA PHÁC ĐỒTHUỐC CHLOROQUINE TRONG ĐIỀU TRỊ SỐT RÉT PLASMODIUM FALCIPARUM CHƯA BIẾN CHỨNG - Pdf 20

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÁI NHẠY CỦA PHÁC ĐỒ
THUỐC CHLOROQUINE TRONG ĐIỀU TRỊ SỐT RÉT
PLASMODIUM FALCIPARUM CHƯA BIẾN CHỨNG

TÓM TẮT
Giới thiệu: Sốt rét là bệnh truyền nhiễm đồng thời là kẻ giết người dẫn đầu ở
các quốc gia đang phát triển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt châu Phi.
Chloroquine được sử dụng hơn 60 năm qua trong phòng và điều trị sốt rét, kháng
thuốc chloroquine đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á và Nam Mỹ vào cuối những
năm 1950 và cuối những năm 1970 lan sang các quốc gia châu Phi. Sự xuất hiện và
lan rộng KSTSR kháng thuốc đe dọa đến thành quả PCSR. Các dẫn suất của
artemisinin ra đời đã tác động rất lớn về mặt điều trị và chống kháng. Tuy nhiên, nếu
không có biện pháp và hoạt động giám sát và điều chỉnh thường xuyên về hiệu lực thì
việc đầu tư vào nghiên cứu phát minh ra thuốc mới sẽ rất lãng phí. Do vậy, song song
với thử nghiệm lâm sàng một số thuốc sốt rét mới thì việc đánh giá hiệu quả của phác
đồ một số thuốc sốt rét cổ điển cũng không kém phần quan trọng.
Mục tiêu: Đánh giá lại hiệu quả phác đồ chloroquine 3 ngày trong điều trị sốt
rét do P. falciparum chưa biến chứng.
Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tự chứng liên quan đến đánh
giá đáp ứng của KSTSR P. falciparum về mặt lâm sàng và ký sinh trùng.
Kết quả: Với phác đồ chloroquine, tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng
đầy đủ (ACPR) là 100% trong năm 2005 và 2007, riêng năm 2006, ACPR chỉ là
86,11%, trong đó LTF là 2,78%, ETF là 2,78. Tác dụng phụ không đáng kể và thoáng
qua không cần xử trí về y tế.
Kết luận: Chloroquine, là một thuốc an toàn, rẻ tiền cho điều trị sốt rét, qua
thời gian dài ngưng sử dụng điều trị cho sốt rét P. falciparum nay tái nhạy lại ở Việt
Nam như một chỉ điểm tốt.
ABSTRACT
Background: Malaria is a communicable disease and to be a leading killer of
the developing countries in tropic and subtrropic areas, especially in Africa. Over 60
years after chloroquine was widely deployed

Results: In analyse conducted according to the study protocol, the cumulative
efficacy of chloroquine was ACPR of 100%, only in 2006 was ACPR 86.11%, LTF
of 2.78%, ETF of 2.78%.
Conclusions: Chloroquine, a safe and inexpensive treatment for malaria, is

once again highly efficacious in Vietnam, particularly for uncomplicated falciparum
malaria; malaria parasites that are clinically susceptible to chloroquine

have returned
to Vietnam, as predicted by molecular surveys.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét là một bệnh xã hội quan trọng và đe dọa toàn cầu, nhất là các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, song trong thời gian qua công tác PCSR
cũng đã mang lại nhiều thành quả làm giảm mắc và hạ thấp tỷ lệ tử vong đáng kể,
trong đó việc quản lý ca bệnh hiệu quả vẫn là một trong những động thái then chốt
cho PCSR. Thành công của chiến lược này dựa trên khả năng sự thay đổi Chính
sách thuốc quốc gia của Bộ Y tế theo từng giai đoạn nhằm cung cấp thuốc sốt rét
(TSR) có hiệu quả cao. Do vậy, đòi hỏi Chương trình phòng chống sốt rét quốc gia
(CTPCSRQG) và các Viện liên quan phải thường quy đánh giá hiệu lực TSR đang
dùng và nghiên cứu thử nghiệm thuốc mới để cung cấp kịp thời và độ tin cậy cao,
chỉ với những thông tin như thế, Bộ Y tế có thể bảo đảm rằng quản lý ca bệnh hiệu
quả thông qua việc phát hiện hoặc dự báo những mô hình kháng thuốc thay đổi
sớm, để từ đó thay đổi phù hợp cho Chính sách thuốc quốc gia.
Chloroquine là một TSR cổ điển, rẻ tiền, tác dụng nhanh và giữ được tính bền
vững về hiệu lực hơn 6 thập niên,… nhưng thời gian qua đã biểu hiện kháng lan rộng
do chủng KSTSR P. falciparum, theo báo cáo tổng thể từ Tổ chức y tế thế giới
(WHO, 2005) cho biết chloroquine đã mất đi hiệu quả hầu hết các quốc gia có sốt rét
trên thế giới. Do vậy, thuốc này không còn khuyến cáo và bị loại khỏi Danh mục
thuốc thiết yếu cũng như Chính sách thuốc ở hơn 70 quốc gia, trong đó có Việt Nam
vì tỷ lệ thất bại lâm sàng ký sinh trùng hơn 70%. Song gần đây, một số báo cáo trên

Sẵn sàng phối hợp vào nghiên cứu trong suốt thời gian và lịch nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Ngoài khoảng tuổi trên (< 5 và > 60 tuổi);
Xuất hiện các dấu chứng cảnh báo dẫn đến SRAT theo tiêu chuẩn và định
nghĩa WHO;
Nhiễm phối hợp hoặc đơn nhiễm các loài khác P. falciparum;
Suy dinh dưỡng nặng, phụ nữ có thai (test thử +), đang cho con bú, bệnh tâm
thần;
Có dấu hiệu sốt do các bệnh nhiễm trùng, bệnh mạn tính;
Tiền sử mẫn cảm bất kỳ thành phần nào của thuốc nghiên cứu.
Thuốc sử dụng trong nghiên cứu
Thuốc điều trị sốt rét
Thuốc chloroquine phosphate 250mg do CTDP trong nước cung cấp.
Chloroquine phosphate: viên nén 250mg (150mg base) với liều chỉ định 3
ngày liên tục:
Ngày thứ nhất (D
0
): liều 10 mg base/ kg thể trọng;
Ngày thứ hai (D
1
): liều 10 mg base/ kg thể trọng;
Ngày thứ ba (D
2
): liều 5 mg base/ kg thể trọng.
Thuốc dùng đồng thời và cấm dùng
Điều trị triệu chứng sốt đặc biệt quan trọng ở trẻ em nhỏ, nên áp dụng các biện
pháp hạ nhiệt cơ học (lau mát), trước khi cho TSR, nếu sốt ≥ 38°C cho phép dùng
Acetaminophen.
Phân loại đánh giá hiệu quả điều trị
Thất bại ký sinh trùng muộn (LPF_Late Parasitological Failure)

gía trị
Thông số
2005 2006 2007

Số ca nghi
ên
cứu (n = 85)
18 36 31
Gi
ới
tính
Nam
(39)
11 16 12
gía trị
Thông số
2005 2006 2007

Nữ
(46)
7 20 19
Tu
ổi TB (trung
bình)
23,80
± 11,50
29,90
± 16,30
20,20
± 15,00

6.522
gía trị
Thông số
2005 2006 2007

bình ngày Do ± 12.104 ± 16.568 ± 5.859
Các thông số về gioiứ tính, tuổi, cân nặng, nhiệt độ trung bình trước khi điều
trị không có sự khác biệt giữa 3 năm; MĐKSTSR trung bình Do dao động từ 5.859-
16.568 KSTSR/µl máu.
Bảng 2: Hiệu quả phác đồ chloroquine với sốt rét do P. falciparum
Giá trị
CHỈ SỐ
năm
2005
năm 2006
năm
2007
Tổng số ca nghi
ên
cứu (n = 85)
n =
18
n = 36
n =
31
hi
Ệu
ACPR

18 31

chloroquin và tỷ lệ thất bại chung là 13,89% thất bại điều trị, trong đó LPF (11,11%)
và ETF thấp hơn với 2,78%.
Song, trong số 5 ca thất bại điều trị (LPF và ETF) ở năm 2006, qua phân tích
bằng kỹ thuật PCR nhằm xác định chính xác, cho thấy:
Từ 4 ca LPF thì có đến 3 ca tái nhiễm (re-infection) ở đây là cả P. falciparum
+ P. vivax (tất cả đều khác kiểu gen ở ngày D
0
), 1 trường hợp còn lại là tái phát
(recrudesscence);
Riêng 1 ca mà chúng tôi đánh giá là ETF thì qua PCR cho kết quả tái phát
(recrudescence) thật sự với biểu hiện cùng kiểu gen ngày D
0
;
Như vậy, tỷ lệ thất bại điều trị thật sự chỉ còn là 2 trường hợp do tái phát
(2/36; 5,56%), trong đó 1 ca (2,78%) là ETF và 1 ca (2,78%) là LPF; 3 ca còn lại
trước đây đánh giá LPF thì PCR cho kết quả tái nhiễm (8,33%) nên không tính vào là
thất bại điều trị.
Kết quả phân tích PCR một số trường hợp thất bại điều trị chloroquine
Error!
MSP1
MSP2
GLURP
Marker
100bp
M Do D28 Do D28 Do D28 Do D28 Do D28 Do D28
M K R FC IC Glu

Hình 1: Kết quả điện di của bênh nhân tái phát
Error!
MSP1

gian s
ạch
KSTSR
trung bình
PCT*(giờ)
55,00 ±
25,30
64,30 ±
14,90
44,10 ±
12,90
GÍA TRỊ
CH

SỐ
2005 2006 2007
T
ỷ lệ
sạch
KSTSR
trung bình
sau 12 giờ
4,30 %

31,17%

44,68%

T
ỷ lệ

sau 48 giờ
96,70%

√ 98,62%

T
ỷ lệ
sạch
KSTSR
trung
bình
sau 60 giờ
99,50%

98,12%

99,69%

T
ỷ lệ
sạch
KSTSR
100% 100% 100%
GÍA TRỊ
CH

SỐ
2005 2006 2007
trung bình
sau 72 giờ

20,90 ±
10,70
27,10 ±
16,30
26,0 ±
9,00
T
ỷ lệ
b
ệnh nhân
c
ắt sốt sau
12 giờ
55,60%

36,10%

19,35%

T
ỷ lệ
b
ệnh nhân
c
ắt sốt sau
24 giờ
77,80%

66,67%


ắt sốt sau
60 giờ
100% 100% 100%
* FCT: Fever Clearance Time
Tất cả 85 bệnh nhân nghiên cứu đều cải thiện về mặt lâm sàng, đặc biệt là cắt
sốt nhanh, thời gian cắt sốt lần lượt là 20,90 ± 10,70; 27,10 ± 16,30; 26,0 ± 9,00 giờ.
Thời gian cắt sốt trung bình là 24,70 ± 12,0 giờ, tỷ lệ cắt sốt tỷ lệ thuận theo thời gian
mỗi 12 giờ và sau 48-60 giờ, chloroquine cắt sốt hoàn toàn 100%.

Biểu đồ 2: Biểu diễn cắt sốt chloroquine với sốt rét do P.falciparum, 2005-
2007
Tác dụng phụ của phác đồ chloroquine đối với sốt rét do P.falciparum
Trên lâm sàng chưa ghi nhận xuất hiện các tác dụng phụ nghiêm trọng do
dùng phác đồ chloroquine đường uống 3 ngày liên tục, một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân khi
uống có xuất hiện triệu chứng nhẹ như buồn nôn, chóng mặt (2 ca; 2,35%), các triệu
chứng tự hết sau khi dừng thuốc 1 ngày.
BÀN LUẬN
Năm 1945 chloroquin chính thức được đưa vào sử dụng điều trị sốt rét trên
thế giới, năm 1957 Thái Lan là nước đầu tiên thông báo đã phát hiện ca sốt rét P.
falciparum kháng chloroquin tại biên giới Cambodia và Thái Lan, tiếp theo đó, P.
falciparum kháng chloroquin cũng được phát hiện (1959) ở biên giới Colombia và
Venezuela
(3)
; trường hợp đầu tiên phát hiện (1961) bệnh nhân sốt rét P. falciparum ở
Việt Nam kháng với chloroquine tại Nha Trang do Powell, Brewer và Alving báo cáo
năm1961). Kể từ đó, P. falciparum kháng thuốc chloroquine tăng cao tại một số vùng
trọng điểm sốt rét trong khu vực miền Trung-Tây Nguyên, từ 30-55% (1976-1984)
đến 55-90% (1985-1996) (T. N. Trung và cs.,1996).
Hiệu quả phác đồ chloroquine với sốt rét do P. falciparum chưa biến chứng
Chloroquine là một thuốc sốt rét cổ điển, hiệu lực bền vững và thời gian bán

; một số nghiên cứu
khác trên in vitro cũng tỏ ra đáp ứng nhạy
(1,7)
.
Phân tích chi tiết diễn tiến giảm sốt và cắt ký sinh trùng P. falciparum do
chloroquine (bảng 3 và 4), chúng tôi nhận thấy sự đáp ứng chloroquin của P.
falciparum tại các điểm nghiên cứu rất tốt, cụ thể thời gian sạch KSTSR trung bình
lần lượt 3 năm (2005-2006-2007) là 55,0 ± 25,30; 64,30 ± 14,90 và 44,10 ± 12,90 giờ
và trung bình chung là 51,13 ± 17,70 giờ (nghĩa là chưa đến 3 ngày đã sạch KSTSR);
cụ thể là sau 24 giờ MĐKSTSR giảm lần lượt 48,97% và 73,41%, sau 48 MĐKST
giảm 96,70%-98,62% và sau 72 giờ MĐKST giảm 100%. Tất cả 85 bệnh nhân
nghiên cứu đều cải thiện về mặt lâm sàng, thời gian cắt sốt lần lượt là 20,90 ± 10,70;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status