Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Cơ sở hình thành đề tài
2
2. Ý nghĩa của đề tài
3
3. Phạm vi nghiên cứu
3
4. Phương pháp nghiên cứu
3
5. Bố cục của bài tiểu luận
3
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
1. Khái quát chung về công ty cổ phần.
1.1. Khái niệm.
4
1.2. Đặc điểm
4
10
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của Ban kiểm
soát trong công ty cổ phần hiện nay.
14
III. KẾT LUẬN:
17
Tài liệu tham khảo
Phụ lục: Một số Báo cáo của Ban kiểm soát của các công ty cổ phần năm
2011
I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Cơ sở hình thành đề tài
2
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
Sau 30 năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hơn 10 năm xây
dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã
nhận ra rằng cần phải có những doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao, làm tiền đề thúc
đẩy các thành phần kinh tế. Điều này chỉ có thể thực hiện bởi một loại hình doanh
nghiệp là công ty cổ phần.
Công ty cổ phần xuất hiện từ lâu ở các nước tư bản và nó rất phổ biến ở các
nước đó. Nhưng ở Việt Nam công ty cổ phần chỉ được chú ý và phát triển trong một
thập kỷ gần đây. Khi chưa có Luật doanh nghiệp thì công ty cổ phần hoạt động theo
Luật công ty nhưng lúc Luật doanh nghiệp ra đời ( tháng 12 năm 1999) thì công ty
cổ phần được xác định rõ ràng và đầy đủ hơn, là một trong những loại hình doanh
nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp. Cũng từ đó mà công ty cổ phần phát
triển mạnh hơn và ngày càng phát huy được những ưu thế của nó trong nền kinh tế.
trọng đến lợi ích của cổ đông nhưng không hề có tiếng nói cảnh cáo từ Ban kiểm
3
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
soát cho đến khi sự việc được phát hiện. Có thể thấy, Ban kiểm soát trong công ty cổ
phần chưa phát huy hết được vai trọng của mình trong việc giám sát hoạt động của
công ty cổ phần, giảm rủi ro và đem lại lợi ích cho cổ đông và nhà đầu tư.
Với ý nghĩa như trên, bài nghiên cứu “ Hoạt động của Ban kiểm soát trong
công ty cổ phần hiện nay” nhằm mục đích:
- Đánh giá tổng quát quá trình hoạt động của Ban kiểm soát trong các công ty
cổ phần hiện nay theo Luật doanh nghiệp 2005.
- Phân tích và phát hiện các quy định bất cập, chưa hợp lý, còn thiếu sót của
Luật doanh nghiệp 2005 về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
- Đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm góp phần xây dựng một khung pháp lý
hoàn chỉnh hơn, giúp Ban kiểm soát phát huy được hết vai trò của mình trong
công ty cổ phần.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian:
Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi các công ty cổ phần ở Việt Nam theo
Luật doanh nghiệp 2005.
- Phạm vi thời gian:
Nghiên cứu các công ty cổ phần từ tháng 1 năm 2006 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Tham khảo sách, báo.
+ Các trang thông tin trên Internet
- Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh hoạt động
của Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần.
- Phương pháp tổng hợp thông tin, sử dụng và kế thừa các nghiên cứu của
các tổ chức.
chung là cổ đông số lượng ít nhất là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Đặc điểm
này cho phép công ty cổ phần có thể phát triển rất lớn về số lượng cổ đông tham gia.
b) C ổ đông chị u trách nhi ệm hữu hạn tr ên ph ạm vi số vốn đ ã góp và được
t ự do chuyển nhượng cổ phần:
Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trên phạm vi số vốn đã góp (không ảnh
hưởng đến các tài sản còn lại của cổ đông) và trong quá trình nắm giữ cổ phần, cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần này cho bất cứ ai và bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên, đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông
của cổ đông sáng lập thì việc chuyển nhượng cổ phần phải chịu một số giới hạn.
c) Công ty có tư cách pháp nhân:
Công ty được xem như có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh và công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên vốn của công
ty, gọi là vốn điều lệ, là phần vốn góp của các cổ đông.
d) Công ty được quyề n phát hành t ất cả chứng khoán:
Đây là đặc điểm cho phép công ty cổ phần có thể thu hút nguồn vốn rất lớn và
rất nhanh vì trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được quyền phát hành tất cả
chứng khoán để huy động vốn.
2. Những quy định về ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo pháp luật
hiện hành.
2.1. Quy định về thành lập Ban kiểm soát
5
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
- Theo Điều 95, Luật Doanh nghiệp, Ban Kiểm soát sẽ phải được thành lập
khi công ty có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên
50% tổng số cổ phần của công ty.
- Việc biểu quyết bầu thành viên Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương
thức dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với
tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Ban kiểm soát và cổ
dông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng
viên.
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống
kê và lập báo cáo tài chính.
- Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và
sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.
6
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
- Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh
hàng năm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản
trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.
- Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý,
điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo
quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm
cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít
nhất 6 tháng hoặc tỉ lệ nhỏ hơn theo quy định của Điều lệ.
- Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều
79 của Luật này, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày
kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được
yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu
cầu.
- Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản
trở hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều hành
hoạt động kinh doanh của công ty.
- Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa
đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của
công ty.
- Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty quy định tại Điều 119 của Luật
này thì phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người
có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu
quyết định tổng mức thù lao và ngân sách hoạt động hàng năm của Ban kiểm
soát căn cứ vào số ngày làm việc dự tính, số lượng và tính chất của công việc và
mức thù lao bình quân hàng ngày của thành viên;
- Thành viên Ban kiểm soát được thanh toán chi phí ăn, ở, đi lại, chi phí sử
dụng dịch vụ tư vấn độc lập với mức hợp lý. Tổng mức thù lao và chi phí này
không vượt quá tổng ngân sách hoạt động hàng năm của Ban kiểm soát đã được
Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có quyết
định khác;
- Thù lao và chi phí hoạt động của Ban kiểm soát được tính vào chi phí
kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp, pháp luật có liên quan và phải được lập thành mục riêng trong báo cáo tài
chính hàng năm của công ty.
2.7. Nghĩa vụ của thành viên Ban kiểm soát
Theo điều 126 Luật kinh doanh, nghĩa vụ của Ban kiểm soát viên được quy
định như sau:
- Tuân thủ đúng pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của Đại hội đồng cổ
đông và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn
trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đông của
công ty.
- Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông công ty; không được sử
dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ
và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
- Trường hợp vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này
mà gây thiệt hại cho công ty hoặc người khác thì các thành viên Ban kiểm soát
phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó.
Mọi thu nhập và lợi ích khác mà thành viên Ban kiểm soát trực tiếp hoặc gián
tiếp có được do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này đều thuộc sở
hữu của công ty.
công ty có thể thuê Giám đốc điều hành và trả lương theo một mức nhất định. Còn
về phía cổ đông do có nhiều thành phần cổ đông cũng như số lượng các cổ đông của
Công ty cổ phần, có những công ty cổ phần có hàng trăm cổ đông với các thành
phần khác nhau như trí thức, người buôn bán, người lao động…nên quan hệ và lợi
ích của các thành phần này hoàn toàn khác nhau.
Thứ hai, sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp Công ty
cổ phần. Sự tách bạch này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các cổ đông. Cơ quan
thực hiện là Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc nhiều lúc không vì lợi ích của các cổ
đông nên cần có sự tách bạch, giám sát để làm rõ mối quan hệ rõ ràng giữa chủ sở
hữu và người điều hành. Trong nhiều trường hợp, người điều hành có thể không phải
là chủ sở hữu và ngược lại chủ sở hữu có thể không phải là người điều hành.
Khi quy mô các Công ty cổ phần nhỏ, số lượng cổ đông ít, có công ty cổ phần
chỉ có 3 cổ đông thì thường không có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều
hành trực tiếp, mà các cổ đông thường đồng thời là người điều hành công ty, tức là
9
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
Đại hội cổ đông sẽ đồng thời là thành viên của Hội đồng quản trị. Ví dụ, hiện nay ở
Việt Nam có nhiều Công ty cổ phần chỉ có 3 cổ đông, 3 người này cũng là 3 thành
viên Hội đồng quản trị, 1 người là Chủ tịch Hội đồng quản trị và thường kiêm luôn
Giám đốc, người kia là Phó chủ tịch Hội đồng quản trị và còn 1 người nữa thường là
cổ đông cho đủ số lượng để thành lập mô hình công ty cổ phần và thường những
Công ty này thì mô hình hoạt động vẫn là các thành viên trong gia đình.
Tuy nhiên, khi quy mô công ty lớn hơn, số lượng cổ đông nhiều hơn, có
những công ty có hàng chục cổ đông, cá biệt có những Công ty cổ phần lớn trên thế
giới có hàng ngàn cổ đông thì sự điều hành và quản lý công ty trở nên phức tạp và
do đó, cần có một đội ngũ quản trị chuyên nghiệp. Từ đây, người điều hành trực tiếp
công ty có thể không đồng thời là chủ sở hữu công ty nữa.
Mối lo ngại của các cổ đông với tư cách là người sở hữu thực sự của công ty
về việc điều hành Công ty cổ phần của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc là một
mối lo ngại chính đáng và có cơ sở. Đây là một trong những lý do dẫn đến sự ra đời
cách là chủ sở hữu công ty và là người bầu ra Ban kiểm soát, chắc chắc cổ đông có
lý do để bất bình về vai trò chức năng của Ban kiểm soát.
Dẫn chứng là trong vụ Công ty cổ phần Mía đường La Ngà, ông Phạm Như
Hóa, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc, sử dụng gần 18 tỉ đồng chơi
chứng khoán bắt đầu từ tháng 8 nhưng mãi đến tháng 4 năm sau các cổ đông, kể cả
cổ đông nhà nước (chiếm 51%) mới hay biết. Mà hay biết cũng không do kết quả
của sự minh bạch hay công phát hiện của hệ thống kiểm soát mà là do Đại hội cổ
đông thường niên bất ngờ bị hoãn, các cổ đông bàn tán xôn xao nên nội vụ mới vỡ
lở. Vai trò của hệ thống kiểm soát ở đây nói chung và của Ban kiểm soát nói riêng
hầu như vắng bóng.
Bên cạnh đó, mặc dù các quy định pháp luật đã trao cho Ban kiểm soát quyền
được triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi Hội đồng quản trị không triệu tập họp
hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý, nhưng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy,
rất hiếm trường hợp Ban kiểm soát thực thi quyền hạn này.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Ban kiểm soát chưa thực sự phát huy
được vai trò, trách nhiệm của mình đối với các cổ đông.
Thứ nhất, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc thường không thích Ban kiểm
soát vì nếu có họ, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc sẽ không thể quyết định các
vấn đề theo ý mình mà phải luôn dè chừng Ban kiểm soát, với tư cách là người kiểm
tra, giám sát và kiềm chế các hoạt động công ty có được minh bạch vì lợi ích của các
cổ đông hay không. Vì thế, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc luôn tìm cách để
tránh khỏi sự kiểm soát đó. Đây cũng là một nguyên nhân khiến hoạt động của Ban
kiểm soát không hiệu quả.
Lập ra Ban kiểm soát để bảo vệ lợi ích cho mình nhưng đôi khi chính cổ đông
lại không hiểu đúng vai trò của họ. Đại hội đồng cổ đông chỉ họp một, hai lần trong
một năm và mỗi phiên họp thường diễn ra trong một ngày. Do đó, có trường hợp, do
thời gian quá gấp rút, Đại hội đồng cổ đông chỉ kịp bầu ra Ban kiểm soát, và trao
quyền cho Chủ tịch Hội đồng quản trị ban hành quy chế hoạt động của Ban kiểm
soát. Được trao quyền này, lẽ dĩ nhiên là Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ giới hạn
quyền của Ban kiểm soát tới mức có thể, nhằm mở rộng quyền của mình. Thậm chí,
Các thành viên Ban kiểm soát, trong nhiều trường hợp còn có sự câu kết với
Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc để hưởng lợi bất chính. Mặt khác, vai trò của
Ban kiểm soát chưa được các văn bản luật đề cao. Theo quy định của Luật Doanh
nghiệp, văn bản do Ban kiểm soát ban hành về việc kiểm tra, giám sát chỉ có ý nghĩa
cảnh báo. Ngay cả khi phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý công ty của Hội
đồng quản trị và Ban Giám đốc, Ban kiểm soát chỉ có quyền yêu cầu các cá nhân
liên quan chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả. Ban kiểm
soát không có quyền sa thải người lao động nếu họ sai phạm. Tại Việt Nam, các cơ
quan nhà nước, hoặc bên thứ ba chỉ quan tâm đến người nào là đại diện theo pháp
luật của công ty chứ không quan tâm ai là thành viên hoặc trưởng Ban kiểm soát của
công ty.
Báo cáo của Ban kiểm soát thường được trình cho Đại hội cổ đông vào mỗi
kỳ họp. Thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa và như vậy báo cáo của Ban kiểm soát
không còn tính thời sự. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về chế độ kế toán, các
báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân
đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản
thuyết minh báo cáo tài chính. Trong quy định về công bố thông tin của công ty đại
chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gồm các
tài liệu trên.
Như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp
cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quy định. Như đã nêu ở trên, báo
cáo của Ban kiểm soát là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý
nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo
tài chính không đề cập đến. Thông tin trong báo cáo của Ban kiểm soát có tầm quan
trọng không kém các báo cáo tài chính. Do đó, cần phải xem xét việc yêu cầu Công
ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của Ban kiểm soát cùng
với báo cáo tài chính.
12
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
Nếu toàn bộ quyền lực trong Công ty cổ phần đều tập trung vào Hội đồng
các điều kiện thăng tiến của nhân viên cấp thấp đều trực tiếp do Tổng giám
đốc/Gíam đốc hoặc gián tiếp do Hội đồng quản trị quyết định.
Mặt khác, nếu không phải là người bà con họ hàng hay nhân viên trong công
ty, Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc/Gíam đốc vẫn có thể vô hiệu hóa Ban kiểm
soát thông qua việc không bỏ phiếu cho những người có khả năng và dũng khí để
làm công tác kiểm soát. Với số phiếu áp đảo, các thành viên Hội đồng quản trị
(thường là các cổ đông lớn) có quyền đề cử và bỏ phiếu cho người cùng phe cánh
với mình vào Ban kiểm soát và loại bỏ những người không cùng phe cánh với mình
ra ngoài. Nếu có ai đó không thuộc phe cánh của Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc/Gíam đốc mà may mắn được lọt vào trong thành phần Ban kiểm soát, thì người
này cũng sẽ bị làm khó, cản trở, không cho tiếp cận các thông tin nhạy cảm liên quan
đến các sai phạm của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/Gíam đốc.
13
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
Trong các trường hợp trên, sự hiện diện của Ban kiểm soát sẽ chỉ thêm tốn
tiền của cổ đông (vì phải chi trả thu nhập cho các thành viên Ban kiểm soát) mà
không đem lại lợi ích gì. Không ngạc nhiên khi hầu hết các báo cáo của Ban kiểm
soát trong các cuộc họp đại hội cổ đông đều khen Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc/Gíam đốc, chứ không mấy khi thấy chê.
Chính vì vậy cần phải có những thay đổi trong cơ chế của Ban kiểm soát để
nâng cao hiệu quả của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần góp phần hạn chế những
rủi ro cho cổ đông.
Sau đây là một số đề xuất giúp Ban kiểm soát phát huy được vai trò của mình
trong công ty cổ phần:
1) Cơ chế đơn giản và hiệu quả nhất là các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng
giám đốc/Gíam đốc không được quyền đề cử và không được quyền bỏ phiếu
bầu thành viên Ban kiểm soát. Điều này là hợp lý, bởi lẽ Ban kiểm soát
không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, không có vai trò trong
việc làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, mà chỉ
đóng vai trò giám sát hoạt động quản lý điều hành doanh nghiệp của Hội
7) Ban kiểm soát là một cơ chế phù hợp để cổ đông tự bảo vệ mình. Muốn như
thế, hoạt động của Ban kiểm soát cần được điều chỉnh bởi một khung pháp
lý rõ ràng hơn, đồng thời chính cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của
Ban kiểm soát một cách thông minh và phù hợp. Ngoài ra, khi được cổ đông
tin tưởng và trao quyền, Ban kiểm soát phải có đủ khả năng và dũng khí
thực thi nhiệm vụ, các báo cáo của Ban kiểm soát phải thể hiện được tính
độc lập và chính xác.
Tuy vậy, trong khi chờ đợi những thay đổi trong cơ chế Ban kiểm soát trong
công ty cổ phần, cổ đông nhỏ nên biết cách liên kết để tạo sức mạnh. Cần phải kêt
hợp để đưa ít nhất một người vào trong Ban kiểm soát thông qua việc thành lập
nhóm cổ đông thiểu số để đề cử người và sau đó tập hợp phiếu bầu để bầu dồn phiếu
cho người mà mình đề cử. Thành viên Ban kiểm soát phải có đủ dũng khí và bản
lĩnh để đương đầu với sức ép và cả sự mua chuộc bằng nhiều cách, từ hội đồng quản
trị, Tổng giám đốc/Giám đốc đang cố ý làm trái. Đằng sau các thành viên Ban kiểm
soát luôn có sự ủng hộ của Điều lệ công ty và các quy định của luật pháp vì vậy
kiểm soát viên phải biết tận dụng những thế mạnh của mình phát huy vai trò bản
thân trong quá trình giám sát, kiểm tra.
Với những ý kiến nêu trên có thể thấy rằng, một cơ chế chặt chẽ hơn để hạn
chế sự lũng đoạn cố tình của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/ Giám đốc và các cổ
đông lớn trong công ty cổ phần là hết sức cần thiết. Chỉ có như vậy mới giúp Ban
kiểm soát thoát khỏi cái bóng của Hội đồng quản trị và lãnh đạo của công ty, không
mang tính hình thức mà có giá trị và đem lại lợi ích cho cổ đông và công ty.
15
Luật kinh doanh GVHD: LS.Ths. Lê Minh Nhựt
III.KẾT LUẬN.
Luật doanh nghiệp 2005 đã quy định khá toàn diện về Ban kiểm soát trong
công ty cổ phần. Luật cũng có những quy định đáp ứng được các vấn đề cuộc sống
đang đặt ra như làm rõ quyền và nhiệm vụ của các thành viên Ban kiểm soát, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Ban kiểm soát, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Ban kiểm
soát,….
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Kinh Doanh, Trần Anh Tuấn – Lê Minh Nhựt, 2011
Luật Kinh Doanh Việt Nam, Nguyễn Quốc Sỹ – Nguyễn Văn Nông, NXB Đại
học Quốc gia 2009
Luật Kinh Doanh Những vấn đề cốt yếu, Phan Thị Ngọc Thuận, 2007
Các trang Web:
http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn
http://www.tailieu.vn
http://www.luattriminh.vn
http://vnexpress.net
http://doanhnhanphapluat.vn
http://thutuchanhchinh.haiduong.gov.vn
http://www.eluat.com
17