Luật kinh doanh Bài tiểu luận
Lời mở đầu
Xu thế phát triển nền kinh tế toàn cầu hóa đã và đang ảnh hưởng rất lớn
đến nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt nền kinh tế của các nước đang phát
triển. Việt Nam là một trong những nền kinh tế đã và đang có tốc độ phát triển
rất lớn,vì vậy mức độ ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới tới Việt Nam là rất cao.
Sau sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức kinh tế thế giới
(WTO ngày 7/11/2006 ), nó đã mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít
thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây chính là bước ngoặc lớn đưa
nước ta thật sự bước vào thời kỳ hội nhập cùng nền kinh tế thế giới đầy năng
động. Chính vì lẽ đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước cần phải trang bị cho
mình nhưng công cụ hữu hiệu nhất nhằm đối phó với thế lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp nước ngoài. Xuất phát từ thực tế đó, nó đòi hỏi sự hình thành và
phát triển của các công ty tư nhân và cả doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt là việc
hình thành các công ty cổ phần (CTCP ) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước (DNNN ) là tất yếu đối với quá trình phát triển ngày càng mạnh mẽ
của nền kinh tế thị trường.
Hình thức CTCP đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế
kỷ XVII, mà trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp. Trải qua quá trình
phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công
nghiệp diễn ra thì CTCP phát triển rất mạnh mẽ. Đến những năm đầu thế kỷ XX
thì CTCP đã trở thành hình thức kinh doanh rất phổ biến ở các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển mạnh. Với Việt Nam chúng ta, từ khi đất nước được
thống nhất, do phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh . Mặt khác do cơ
chế kinh tế và xuất phát điểm của chúng ta thấp. Chính vì vậy, mà việc khôi phục
nền kinh tế tuy đã đạt được nhiều thành công, song cũng còn nhiều hạn chế. Do
đó mà đại hội Đảng lần thứ VI (12/ 1986) đã đánh dấu sự đổi mới của nền kinh
tế Việt nam. Đó là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp, sang nền kinh tế thị trường, Nó không chỉ làm thay đổi một cách sâu sắc nền
kinh tế nước ta về cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế và quan hệ sở hữu mà còn
làm xuất hiện hình thức tổ chức kinh tế mới đó là CTCP. Nghị quyết Đại hội
quyết cho sự hoạt động của thị trường này. Từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ và sâu rộng.
Với sự phát triển đó thì công ty cổ phần ngày càng có tầm quan trọng hơn
trong nền kinh tế của nước ta cho nên việc trang bị kiến thức pháp luật là một
điều tất yếu cho nhà đầu tư cũng như người muốn thành lập công ty cổ phần.
Kiến thức luật pháp trong kinh doanh là một vấn đề rất quan trọng, khi trang bị
đủ kiến thức pháp luật thì chúng ta đã tự bảo vệ cho chúng ta trong cuộc chiến
trong thương trường cũng như nó là một công cụ đắc lực giúp đỡ chúng ta.
Phương pháp tiếp cận đề tài:
Trong bài tiểu luận này chủ yếu dùng phương pháp sưu tầm tài liệu và liên
hệ, ứng dụng thực tế là nền tảng nghiên cứu. Nêu lên một số thực tế, so sánh với
những qui định trong luật pháp từ đó có thể thấy được điểm mạnh cũng như điểm
yếu của cơ cấu công ty cổ phần.
Đề tài này chủ yếu tìm hiểu về cơ cấu, quản lý và điều hành của công ty thêm
vào đó là một số khái niệm cơ bản về công ty cổ phần, chứ không nghiên cứu
2
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
toàn bộ hoạt động cũng như các khía cạnh khác của công ty cổ phần. bố cục của
bài tiểu luận được trình bày theo như sau.
Phần đầu là nêu khái niệm và đặc điểm cùa công ty cổ phần để có cái nhìn
khái quát và tổng quan về công ty cổ phần. Đây cũng là những kiến thức cơ bản
nhất về công ty cổ phần mà nhà đầu tư cũng như người muốn thành lập công ty
cần nắm rõ.
Phần thứ hai là nêu cơ cấu của công ty cổ phần. Trong phần này sẽ nêu rõ cơ
cấu công ty, tổ chức như thế nào và có vai trò, thẩm quyền như thế nào trong
công ty.
Phần thứ ba là nêu một số thực trạng hiện nay về việc thực hiện của các công
ty cổ phần có đúng như qui định không? Nêu một số nhận định và giái pháp cho
thực trạng đó.
3
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ
thông của cổ đông sáng lập.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động
vốn.
ii. Đặc điểm:
Công ty cổ phần có các đặc điểm sau:
- Về thành viên góp vốn:
Thành viên góp vốn trong công ty cổ phần có thể là cá nhân hoặc tổ chức ,
gọi chung là cổ đông, số lượng it nhất là 3 và không hạn chế số lượng thành viên
tối đa. Đặc điểm này cho phép CTCP có thể phát triển rất lớn về số lượng cổ
đông tham gia.
- Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trên phạm vi số vốn đã góp và được tự
do chuyển nhượng cổ phần:
Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trên phạm vi số vốn đã góp ( không ảnh
hưởng đến tài sản còn lạo của cổ đông) và trong quá trình nắm giữ cố phần, cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cho bất kỳ ai và bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên,
đối với cổ đông sỡ hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ
đông sáng lập thì việc chuyển nhượng cổ phần phải chịu một số giới hạn theo
khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 trong luật doanh nghiệp. Sau thời hạn ba
năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn
chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ.
- Công ty có tư cách pháp nhân:
5
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
Công ty được xem như có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh và công ty chỉ chịu nhiệm hữu hạn trên vốn của công
ty, gọi là vốn điểu lệ, là phần góp vốn của các cổ đông.
- Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền
nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ
có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập
chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
- Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và
cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông
quyết định.
- Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền,
nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
6
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
- Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần
ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội
đồng cổ đông.
ii. Cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ
xác nhận quyền sổ hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể
ghi tên hoặc không ghi tên. Một cổ phiếu có thể ghi nhận một cổ phần hoặc một
số cổ phần. giá trị của cồ phần ghi trên cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mệnh
giá cổ phiếu vá giá cổ phiếu có thể khác nhau. Mệnh giá cổ phiếu là giá trị ghi
trên cổ phiếu được công ty xác nhận, còn giá cổ phiếu còn phụ thuộc vào yếu tố
của thị trường chứng khoán và kết quả họa đông kinh doanh của công ty.Cổ
phiếu là một loại chứng khoán, có thể mua bán trên thị trường chứng khoán.
Đối với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi thì phải ghi rõ quyền cùa chủ sở hữu
cồ phần ưu đãi ấy.
iii. Cổ đông
Công ty cổ phần có nhều loại cổ phiếu, vì vậy có nhiều loại cổ đông.
- Cổ đông phổ thông là người có cổ phần phổ thông
- Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty.
ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
- Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh, công ty phải thông báo việc góp vốn cổ phần đến cơ quan
đăng ký kinh doanh.
II. Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần theo
Luật doanh nghiệp Việt Nam.
8
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân
hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có
Ban kiểm soát.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người
đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty. Người đại
diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng
mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người
khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của
người đại diện theo pháp luật của công ty.
1. Đại Hội đồng cổ đông
Vai trò: Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là
cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ
đông ưu đãi hoàn lại không có quyền tham gia Đại Hội đồng quản trị cổ đông.
Cổ đông có quyền biểu quyết có thể trực tiếp tham gia hoặc ủy quyền cho người
khác tham gia Đại hội thay mình.
- Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo uỷ
quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật;
trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo uỷ quyền được cử thì phải xác
định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm
dứt hoặc thay đổi người đại diện theo uỷ quyền phải được thông báo bằng văn
thúc năm tài chính.
- Hội đồng quản trị phải triệu tập họp bất thường Đại Hội đồng quản trị cổ
đông trong các trường hợp sau đây:
Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty;
Số thành viên Hội đồng quản trị còn lại ít hơn số thành viên theo quy định
của pháp luật;
Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% cổ phần
phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng (hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn
quy định);
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
- Tổ chức là cổ đông công ty cổ phần có sỡ hữu ít nhất 10% tổng số cổ
phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp Đại hội đồng cổ
đông (nếu điều lệ không quy định khác).
- Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp
đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ
công ty quy định.
- Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy
định tại khoản 1 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba
mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp của Đại hội đồng cổ
đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít
nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty
quy định.
- Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành
theo quy định tại khoản 2 Điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời
hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai.Trong trường hợp này,
cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ
đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp.
- Thể thức tiến hành họp Đại hội cổ đông, hình thức biểu quyết do điều lệ
công ty quy định. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được ghi vào sổ biên bản của
công ty. Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông phải làm xong và thông qua trước
Việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải
thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu
biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được
bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng
số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên. Trình tự bầu dồn phiếu
được quy định theo điều 29 NĐ 102/2010.
Các quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với số
cổ đông trực tiếp và ủy quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền
biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự và thủ tục triệu tập,
nội dung chương trình họp và thể thức tiến hành họp không được thực hiện đúng
như quy định.
Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản
thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông
đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ
công ty quy định.
Quyết định của Đại hội đồng cổ đông phải được thông báo đến cổ đông có
quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày
quyết định được thông qua.
Quyết định của Đại hội đồng cổ đông có thể bị khiếu nại. Trong thời hạn
90 ngày, kể từ ngày quyết định được thông qua, cổ đông, thành viên Hội đồng
quản trị, giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát có yêu cầu tòa án hoặc
trọng tài xem xét và hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các
trường hợp sau đây:
11
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
− Trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng
theo quy định trên và điều lệ công ty.
− Trình tự thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định quy phạm pháp luật
hoặc điều lệ công ty.
2. Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị
này;
Không tham gia các hoạt động của Hội đồng quản trị trong sáu tháng liên
tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
Có đơn xin từ chức;
Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
- Ngoài các trường hợp trên, thành viên Hội đồng quản trị có thể bị miễn
nhiệm bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
- Trường hợp số thành viên Hội đồng quản trị bị giảm quá một phần ba so
với số quy định tại Điều lệ công ty thì Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Đại
12
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
hội đồng cổ đông trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày số thành viên bị giảm
quá một phần ba để bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị.
- Trong các trường hợp khác, tại cuộc họp gần nhất, Đại hội đồng cổ đông
bầu thành viên mới thay thế thành viên Hội đồng quản trị đã bị miễn nhiệm, bãi
nhiệm.
Thẩm quyền: Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây
- Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh
doanh hằng năm của công ty;
- Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng
loại;
- Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền
chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
- Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
- Quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được
chào bán trong mỗi 12 tháng (theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này).
- Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới
hạn theo quy định của Luật này hoặc Điều lệ công ty;
- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông
qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn
- Có đề nghị của ít nhất hai thành viên Hội đồng quản trị;
- Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
- Cuộc họp Hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số
thành viên dự họp.
- Trường hợp cuộc họp được triệu tập theo quy định trên nhưng không đủ
số thành viên dự họp như quy định, thì được triệu tập lần thứ hai trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Trong trường hợp này, cuộc họp
được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp theo
điều 30 NĐ 102/2010.
- Thành viên không trực tiếp dự họp có quyền biểu quyết thông qua bỏ
phiếu bằng văn bản. Phiếu biểu quyết phải đựng trong phong bì kín và phải được
chuyển đến Chủ tịch Hội đồng quản trị chậm nhất một giờ trước giờ khai mạc.
Phiếu biểu quyết chỉ được mở trước sự chứng kiến của tất cả những người dự
họp.
b. Chủ tịch Hội đồng quản trị
Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản
trị theo quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch
Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị.
Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty
nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.
Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;
Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục
vụ cuộc họp; triệu tập và chủ toạ cuộc họp Hội đồng quản trị;
Tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị;
Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản
trị;
Chủ toạ họp Đại hội đồng cổ đông;
Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công
ty.
- Trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn và điều kiện khác với
tiêu
chuẩn và điều kiện quy định tại điểm này, thì áp dụng tiêu chuẩn và điều kiện do
Điều lệ công ty quy định;
- Đối với công ty con của công ty có phần vốn góp, cổ phần của Nhà
nướcchiếm hơn 50% vốn điều lệ, thì ngoài các tiêu chuẩn và điều kiện quy định
tại các điểm avà b khoản này, Giám đốc (Tổng giám đốc) của công ty con không
được là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi hoặc anh, chị,
em ruột của ngườiquảnlý công ty mẹ và người đại diện phần vốn nhà nước tại
công ty con đó.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm
Giámđốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác (điều 116 Luật doanh
nghiệp).
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây
Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của
công ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị;
Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị;
Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty;
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công
ty,trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công
công ty kể cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc;
Tuyển dụng lao động;
Kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
15
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công
công ty và quyết định của Hội đồng quản trị.
hội đồngcổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao.
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống
kê và lập báo cáo tài chính.
- Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và
sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.
- Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh
hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản
trị quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.
- Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản
lý,điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc
theo quyếtđịnh của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc
16
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục
ít nhất 6 tháng hoặc tỉ lệ nhỏ hơn theo quy định Điều lệ công ty.
- Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa
đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh
của công ty.
- Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty quy định tại Điều 119 của Luật
này thì phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người
có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu
quả.
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này, Điều
lệ công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
4. Thực trạng và đề nghị về cơ cấu tổ chức điều hành công ty cổ phần.
a. Thực trạng hiện nay:
- Về vấn đề tổ chức bộ máy và phân chia quyền hạn trong các công ty cổ
phần.
bằng hoạt động của công ty, phục vụ lợi ích tối đa của công ty và cổ đông.
- Về công khai và minh bạch thông tin trong báo cáo tài chính
Kém công khai và không minh bạch đang là một trong số các vấn đề lớn của
các công ty cổ phần hiện nay ở Việt Nam. Chủ sở hữu, các cổ đông không nhận
được một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ các thông tin cơ bản về công ty. Các
thông tin cơ bản đó bao gồm từ tổng tài sản để đánh giá chính xác về thực trạng
tài chính hiện nay và thông tin về lưu chuyển tiền tệ trong quá khứ cũng như các
thông tin về dự báo trong tương lai. Điều này làm cho các nhà đầu tư và cổ đông
không thể đánh giá chính xác giá trị công ty trong hiện tại cũng như tương lai.
Các công ty chưa có các chuẩn mực công bố thông tin, do vậy khá tùy tiện khi
thực hiện. Công tác kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập chưa được chú trọng.
Chất lượng báo cáo tài chính và mức độ công bố thông tin đối với các công ty
niêm yết, đặc biệt là đối với các công ty cổ phần không niêm yết là chưa cao.
Những cơ quan chịu trách nhiệm thúc đẩy quản trị công ty tốt hoặc chưa có hoặc
còn yếu kém. Cần phải có nhiều nỗ lực để xây dựng một văn hóa kinh doanh
góp phần nâng cao việc thực thi có trách nhiệm, công bằng và minh bạch.
- Vấn đề bảo đảm quyền lợi của cổ đông, nhất là những cổ đông có cổ
phần nhỏ
Về vấn đề này, kết quả điều tra cho thấy các công ty đã bước đầu thực hiện,
tuy nhiên chưa đạt yêu cầu. Trong quá trình hoạt động, nhiều cổ đông nhất là các
cổ đông nhỏ không hoặc chưa được tham gia biểu quyết các vấn đề lớn như: sửa
đổi các văn bản quan trọng điều chỉnh hoạt động của công ty, phát hành thêm cổ
phiếu hoặc tiến hành các giao dịch bất thường…
18
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
- Về trình tự và thủ tục triệu tập Đại Hội đồng cổ đông.
Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, ở một số không nhỏ các công ty cổ
phần trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội đồng cổ đông vẫn chưa được tuân thủ
đúng. Nguyên nhân khá phổ biến của thực trạng nói trên là Hội đồng quản trị đã
lúng túng, chưa hiểu rõ phải “làm gì”, “làm như thế nào” và “khi nào làm” để
của mình làm thành viên HĐQT, trực tiếp quyết định tăng vốn điều lệ hoặc điều
chuyển, sử dụng tài sản của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của mình hoặc cho
công ty con khác; hoặc đã sử dụng vị thế là cổ đông đa số biểu quyết dành cho
mình quyền mua nhiều hơn với giá ưu đãi khi công ty phát hành thêm cổ phần
mới…
Cổ đông sáng lập không góp đủ và đúng số cổ phần đăng ký mua là khá phổ
biến. Có sự nhầm lẫn phổ biến (vô tình hoặc cố ý) giữa vốn điều lệ, số cổ phần
tạo thành vốn điều lệ và số cổ phần được quyền phát hành. Vốn điều lệ là giá trị
danh nghĩa của tổng số cổ phần dã phát hành của công ty và là một trong số các
19
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
nội dung đăng ký kinh doanh của công ty. Tuy vậy, trên thực tế ở một số lớn
công ty cổ phần hiện nay ở nước ta, vốn điều lệ khai báo và đăng ký là giá trị
danh nghĩa của cả số cổ phần đã bán và số cổ phần được quyền chào bán (nhưng
chưa bán hay chưa phát hành). Thậm chí ở một số công ty số cổ phần đã phát
hành chỉ chiếm một số rất nhỏ (khoảng 1/20) tổng số cổ phần đăng ký thành vốn
điều lệ của công ty.
b. Một số đề nghị
Để tăng cường quản trị cơ cấu công ty hiệu quả và tránh dẫn đến các vi phạm
của các công ty trong luật kinh doanh, cần phải giải quyết nhiều vấn đề trên cả
bình diện luật của Nhà nước và trong phạm vi của từng doanh nghiệp.
- Về phía các cơ quan quản lý nhà nước:
Chúng ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc xây dựng
khuôn khổ pháp lý về cơ cấu và quản trị công ty theo thông lệ quốc tế, vấn đề
quan trọng hiện nay là phải làm cho các chủ thể kinh tế trong nước thấu hiểu,
đồng thuận và tuân thủ.
Để làm được điều này điều quan trọng đầu tiên cần phải làm là phải tuyên
truyền và giáo dục để xây dựng và nâng cao nhận thức về quản trị công ty cũng
như nắm rõ vai trò và chức năng của cơ cấu công ty và ý nghĩa của cơ cấu công
ty đối với quá trình phát triển của công ty và cả nền kinh tế. Cần có sự thống
chính; Quy chế quản lý, sử dụng tài sản; Quy định về trình tự lập, xét duyệt,
luân chuyển và lưu trữ chứng từ kế toán; Quy định về kế toán quản trị, Quy định
về hệ thống định mức tiêu hao vật tư; Quy chế, quy trình về kiểm soát nội bộ…
Bên cạnh việc xây dựng hệ thống, vấn đề tiếp theo là làm cho hệ thống đó
thực sự vận hành được trong đời sống của công ty. Bên cạnh việc kiên định với
mục tiêu phát triển và áp dụng hệ thống, cần hết sức chú trọng việc giám sát,
kiểm tra và đánh giá nhằm cải tiến liên tục hệ thống cho ngày càng phù hợp hơn
với điều kiện thực tế của công ty.
III. Kết luận
Cơ cấu công ty là một bộ máy dùng để quản trị công ty theo chuẩn mực
quốc tế là một yếu tố quan trọng giúp công ty nâng cao năng lực cạnh tranh, đa
dạng hóa được nguồn lực phát triển đặc biệt là nguồn lực tài chính trong một môi
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Trên bình diện quốc gia, việc tạo ra một
khuôn khổ pháp lý và thực thi tốt khâu thực hiện và tạo ra một cơ cấu vững mạnh
giúp quản trị công ty có một ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thu hút đầu tư, đa
dạng hóa các quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế quốc tế. Sự gia tăng nhanh về số
lượng, tuy nhiên năng lực cạnh tranh vẫn còn hạn chế của các công ty Việt Nam
trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng là
vấn đề xây dựng cơ cấu công ty còn hết sức yếu kém. Điều này được thể hiện
dưới nhiều khía cạnh khác nhau: cơ cấu tổ chức hết sức đơn giản nặng về quản
lý theo kiểu gia đình, cơ chế quản lý chủ yếu theo kiểu thuận tiện; chưa phân biệt
rạch ròi quyền và nghĩa vụ của các bộ phận cấu thành như: Hội đồng quản trị,
Ban điều hành, Ban kiểm soát và nhân viên… Chức năng hoạch định và điều
hành chưa được phân biệt, công ty hoạt động mang tính ngắn hạn, điều hành chủ
yếu theo tư duy tác nghiệp. Tính minh bạch còn hạn chế và chưa có cơ chế để
đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động; Quyền lợi của cổ đông nhỏ và người lao
động trong doanh nghiệp chưa được quan tâm đầy đủ; Các hoạt động quản trị
chức năng còn nhiều hạn chế và đơn giản. Những hạn chế này đã đặt ra những
rào cản cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp phát triển
thiếu định hướng dài hạn và thiếu bền vững.
iii. Cổ đông 7
II. Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công ty cổ phần theo Luật doanh
nghiệp Việt Nam 8
1. Đại Hội đồng cổ đông 9
2. Hội đồng quản trị và chủ tịch Hội đồng quản trị 12
a. Hội đồng quản trị 12
b. Chủ tịch Hội đồng quản trị 14
3. Giám đốc (Tổng Giám đốc) 15
4. Ban kiểm soát 16
5. Thực trạng và đề nghị về cơ cấu tổ chức điều hành công ty cổ phần17
a. Thực trạng hiện nay 17
b. Một số đề nghị 20
23
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
III. Kết luận 21
Tài liệu tham khảo 22
Mục lục 23
Phụ lục
24
Luật kinh doanh Bài tiểu luận
Phụ lục
CÔNG TY CỔ PHẦN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KÍNH NỔI CHU LAI - INDEVCO Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: ……./GM-HĐQT
Núi Thành, ngày 02 tháng 6 năm 2011
THÔNG BÁO
V/v triệu tập Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2011
Kính gửi: …………………… ……………………………….
Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Kính nổi Chu Lai - INDEVCO thông