Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC ĐỀ TÀI
Hiện nay, rất nhiều quan niệm cho rằng chỉ có báo chí ở các nước TBCN
mới có tự do. Còn báo chí ở các nước XHCN hoàn toàn nằm trong sự bó buộc,
giám sát của chính quyền. Cũng không ít luận điệu của phe phản động cho rằng
Việt Nam cần phải thay đổi thể chế chính trị thì mới có thể có nền báo chí tự do.
Trên đài BBC tiếng Việt, có rất nhiều người Việt Nam phản đối những luận điệu
không đúng thực tế này. Tuy nhiên, họ mới chỉ đưa ra lời phản đối mà không
đưa ra được minh chứng và cũng không làm được điều ngược lại đó là đưa ra
các dẫn chứng về sự “không tự do” của báo chí TBCN.
Lấy một ví dụ về những luận điệu không đúng thực tế:
“Dưới thể chế độc tài, tại sao chính quyền lại luôn chủ trương kiểm soát
gần như tuyệt đối các phương tiện truyền thông? Tại sao không có đến thậm chí
một phương tiện truyền thông đại chúng nào được hoạt động độc lập dưới các
nhà nước cộng sản như Trung Quốc, Cu Ba, Việt Nam và Bắc Hàn?
Dưới thể chế dân chủ phóng khoáng (liberal democracy), tại sao các hệ
thống chính trị thường phải dồn tối đa nỗ lực, trí tuệ để khai dụng, bằng một
phương cách khôn ngoan, khéo léo nhưng không kém phần gay gắt, các phương
tiện truyền thông tự do, để thuyết phục và gây ảnh hưởng lên dân chúng về
chính sách của họ?
Hay phải chăng mọi thể chế chính trị đều nỗ lực tác động lên tư tưởng,
bằng cách thuyết phục và quảng cáo trong thể chế dân chủ, hay bằng cách kiểm
soát và tuyên truyền trong thể chế độc tài, với mục tiêu tối hậu là giành lấy sự
ủng hộ ngắn hạn và sự hậu thuẫn lâu dài của dân chúng? Nói cách khác, trong
thể chế độc tài, quan hệ giữa chính trị và truyền thông, ngoại trừ truyền thông
mật (ngoài luồng), phần lớn mang tính một chiều, mà chủ yếu là chính trị điều
khiển truyền thông. Ngược lại, trong thể chế dân chủ phóng khoáng, tự do thông
tin ngôn luận, đặc biệt từ khi xuất hiện tràn ngập các phương tiện truyền thông
đại chúng, không những là quan hệ hai chiều giữa chính trị và truyền thông, mà
nhiều khi truyền thông đã chủ động, cả tích cực lẫn tiêu cực, uốn nắn cung cách
1
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
"Báo chí tự do đem tình trạng (bần cùng) của nhân dân dưới hình thái trực
tiếp của nó, không bị khúc xạ qua bất kỳ giới quan liêu nào tới ngưỡng cửa của
quyền uy (nhà vua), đưa nó tới trước quyền lực của nhà nước... Báo chí chẳng
qua chỉ là và phải là "biểu hiện" vang dội của những tư tưởng và tình cảm hàng
ngày của nhân dân đang suy nghĩ thật sự theo cách của nhân dân – biểu hiện thật
ra đôi khi nồng nhiệt, phóng đại và sai lầm".
"Trong hy vọng và lo lắng có điều gì báo chí nghe được ở cuộc sống, báo
chí sẽ lớn tiếng loan tin, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với những
tin tức đó một cách gay gắt, hăng say, phiến diện như những tư tưởng và tình
cảm bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó".
Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề này bằng phương pháp chứng minh phản
chứng, với vấn đề “sự can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí”, để từ đó
thấy rằng, báo chí ở các nước TBCN không phải lúc nào cũng tự do, thậm chí
còn bị xâm hại về quyền lợi.
Bài tiểu luận gồm có 4 chương:
- Chương I: Khái quát chung về báo chí TBCN. Qua đó thấy rõ bức tranh
tổng thể của báo chí TBCN.
Mô hình xã hội phương Tây
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Chương II: Tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp của các nước
TBCN đối với báo chí.
- Chương III: Đưa ra các hình thức can thiệp của nhà nước TBCN đối với
báo chí
- Chương IV: Hệ quả của quá trình có bàn tay can thiệp của nhà nước
TBCN đối với báo chí
Hy vọng rằng, cuốn tiểu luận này sẽ củng cố thêm cho người đọc lòng tin
vào tự do báo chí ở Việt Nam trong giai đoạn có nhiều biến động này. Tiểu luận
trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là
thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định. Còn chủ nghĩa
cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất.
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân
để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông
qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân chia của
cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình
kinh tế. Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần
kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói các yếu tố quyền tư
hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi
nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị
trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa.
2. Các thời kì truyền thông chính trị
Chúng tôi tạm chia truyền thông trong chính trị ra làm 4 thời kì, đánh dấu
những bước phát triển quan trọng sứ mệnh chính trị của truyền thông. Từ đó
thấy rằng, ở nhà nước TBCN, truyền thông không thể tách rời chính trị và không
thể chối bỏ nhiệm vụ là công cụ của chính quyền.
2.1. Thời kỳ ‘0’
Có thể được xem là thời kỳ khai sinh nền truyền thông. Truyền thông vào
lúc này chủ yếu là báo chí, mà báo chí lại đi đôi với chính trị (chính quyền) ngay
từ ban đầu.
Thí dụ, đối với Úc, báo chí là một chi nhánh của chính quyền, điển hình
như tờ Sydney Gazette xuất bản năm 1803, chủ yếu là để đưa thông tin của
chính quyền đến người dân, và mãi cho đến năm 1826, chính quyền Úc gần như
nắm hoàn toàn quyền hành đối với báo chí (Theo Schultz, Julianne, Reviving the
truyền thông loan tải, phổ biến.
2.3. Thời kỳ 2
Đó là thời điểm mà truyền hình xuất hiện, với một số đài giới hạn phát
hình toàn quốc, và sau đó trở thành phương tiện truyền thông chính trị chính. Sự
xuất hiện của truyền hình, thể hiện rõ nhất qua cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ
năm 1960 giữa John Kennedy và Richard Nixon, đã thay đổi bộ mặt truyền
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thông chính trị. Lúc này, phần lớn các cơ quan truyền thông bắt đầu đứng độc
lập, không nghiêng hẳn về đảng nào, đề cao tính cách công bằng, không thiên vị,
khách quan và trung lập. Các giá trị này dần dần được xem là tiêu chuẩn mẫu
mực để đánh giá sản phẩm truyền thông. Do các yếu tố nêu trên, các đảng chính
trị không còn nhiều ảnh hưởng như trước đối với truyền thông, và ngay cả các
cơ quan truyền thông do các đảng chính trị nuôi dưỡng cũng không thể hoạt
động hiệu quả trong thời kỳ cạnh tranh này, bởi cảm nhận của đa số người dân
là không còn xem nó là khách quan và trung thực nữa. Do đó, các đảng chính trị
phải đưa ra những sáng kiến và chiến thuật mới để thu hút giới truyền thông, để
được truyền thông loan tải tin tức theo chiều hướng có lợi cho mình, và để ảnh
hưởng lên chương trình nghị sự của giới truyền thông, ví dụ như họp báo là hình
thức có thể chủ động để đưa ra các quan điểm đã chuẩn bị sẵn. Cũng vào lúc
này, các chủ đề vận động tranh cử phải được thử nghiệm trước, và các chính trị
gia không được khuyến khích nói ra những gì mình suy nghĩ như trước kia mà
thường phải tham khảo ý kiến của giới chuyên gia để lượng định kết quả (tích
cực hay tiêu cực) trước khi sự việc xảy ra, để rồi đi đến kết luận và lấy quyết
định nên hay không nên nói những gì qua truyền thông.
2.4. Thời kỳ 3 (đã, đang và vẫn còn tiếp diễn)
Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự tràn ngập của các phương tiện truyền
thông đại chúng, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, đến truyền thông mới
(Internet). Hai giáo sư của lĩnh vực truyền thông Blumler và Kavanagh cho rằng
có 5 chiều hướng bao gồm các đặc điểm truyền thông chính trị như sau:
thật ra không khác nhau nhiều lắm. Phần lớn, truyền thông chính trị là từ trên đi
xuống, và đa số các vấn đề (chính sách, chiến lược v.v...) được hoạch định và
thảo luận trong đảng, nhưng cũng chủ yếu do giới ưu tú/ trí thức cầm đầu.
Những thông điệp chính trị thì nhắm vào đại đa số cử tri. Tuy nhiên, trong thời
kỳ 3, khi có quá nhiều chọn lựa thì số lượng khán thính độc giả cho bất cứ một
chương trình nào đó đều bị giảm đi, và họ có thể chọn nghe hoặc không nghe,
do đó các chương trình tin tức mang tính cách nặng nề và áp đặt rất khó được
chấp nhận như trước. Các chương trình truyền thông về chính trị phải được thực
hiện một cách hấp dẫn và lôi cuốn hơn. Giới chính trị phải nói theo ngôn ngữ
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
bình dân hơn, và phải tỏ ra quan tâm đến phúc lợi của người dân thường, điển
hình qua các chương trình hội luận (talk-shows, hay talk-back radios). Sự xuất
hiện của phương tiện truyền thông mới Internet, và chính trị trên Internet, đã
ngày càng gây nhiều ảnh hưởng và trở thành một phương tiện có thể dùng để
vận động chính trị cho các nhóm có chung quyền lợi, sở thích ở trong hay ngoài
lục địa quốc gia.
Khả năng tiếp thu của dân chúng về chính trị: Khi văn hoá “lựa và chọn”
xuất hiện, và khi thông tin bị tràn ngập và do ảnh hưởng của các quan điểm
chính trị khác nhau tác động, cách thu nhận các luồng thông tin của khán thính
độc giả cũng bị ảnh hưởng sâu rộng. Người dân được tiếp cận với các loại
chương trình chính trị mang tính cách ngoạn mục, gây cảm xúc mạnh, và lắm
khi tiêu cực. Ngoài ra, họ cũng tiếp thu luồng thông tin chỗ này và chỗ kia nên
cũng không biết hư thực ra sao, và không thể đan kết lại với nhau để hệ thống
hoá và không thể tiêu hoá nổi lượng thông tin đó. Cho nên nhiều khi mức độ
hiểu biết/ kiến thức của dân chúng có thể kết luận là phát triển bề rộng nhiều
hơn là bề sâu.
Nói chung, truyền thông chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu
không muốn nói hàng đầu, đối với mọi hoạt động chính trị và mọi giới chính trị
trong thời đại này. Cho nên, mọi quyết định chính trị hiện nay, không nhiều thì
- Lenin rất gần nhau trong những giả định tư tưởng chung của chúng."
Chomsky nêu ví dụ rất hay về tuyên truyền qua hình thức quan hệ công chúng.
Đó là trận đình công ngành thép vào năm 1937 ở Tây Pennsyvalnia. Các phương
thức cũ chống đình công không hiệu quả. Và thế là người ta nghĩ ra cách mới
chống đình công: quan hệ công chúng. Mục đích của quan hệ công chúng là làm
sao để tất cả mọi người phản đối những người đình công, và cho mọi người thấy
những người đình công như là những kẻ phá hoại và gây hại đối với những lợi
ích chung và công cộng. Và thế là các giá trị Mỹ (Chomsky dùng từ
Americanism, chúng tôi tạm dịch là các giá trị Mỹ) được đề cao cổ vũ mọi
người trong một tinh thần hòa hợp. Truyền thông được huy động làm việc này.
Ai có thể chống lại giá trị Mỹ? Ai có thể chống lại sự hòa hợp? Không ai cả.
Nhận thức của công chúng được điều chỉnh theo tuyên truyền. Mọi người cứ
tưởng rằng tư tưởng và nhận thức của mình rất được tự do, rất được dân chủ,
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhưng thực chất đều đã bị điều chỉnh, đã bị kiểm soát một cách rất tinh vi. Và
kết quả đình công bị dập tắt. Những khẩu hiệu được đưa ra, những khẩu hiệu
không ai cảm thấy không thể đồng ý hay phản đối, nhưng thực ra rỗng tuếch,
không chứa bất cứ một nội dung thực tế nào, làm cho công chúng không còn
nhận ra bản chất thực sự của vấn đề.
Ví dụ gần đây, không phải do Chomsky viết trong sách, là chiến dịch
tuyên truyền Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt. Cực kỳ hiệu quả, không chỉ trong
nước Mỹ, mà gần như trên toàn thế giới. Điều kỳ lạ là khi không ai có thể tìm ra
vũ khí hủy diệt ở Iraq, công chúng vẫn không cảm thấy mình bị lừa, hay bị
tuyên truyền. Sự kiểm soát truyền thông và tư tưởng có thể nói đạt tới cảnh giới
rất cao, cấp độ mà giới truyền thông ở một số nước còn lâu mới đạt tới. Sự thành
công của tuyên truyền nhà nước không khỏi không có sự ủng hộ của tầng lớp có
học. Nhưng có một điều lạ nữa là những tầng lớp có học ủng hộ tuyên truyền
này không bị (hay tự) dán mác "phò". (Tài liệu dịch).
Trích tiểu sử tác giả: Avram Noam Chomsky, Ph.D (sinh 7 tháng 12, 1928
báo.
Nền quân chủ được khôi phục năm 1660 càng làm chế độ đối với báo chí
thêm khắc nghiệt. Năm 1662, các báo bị cấm không được tường thuật các phiên
họp của Nghị viện, và pháp lệnh licensing act củng cố thêm việc ra báo phải xin
phép trước và bị kiểm duyệt. Chỉ đến 1695, sáu năm sau cuộc Cách mạng 1688,
pháp lệnh này mới hết hiệu lực. Trong vòng một thế kỷ, báo chí Anh được
hưởng tự do tương đối và đóng vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh giữa phái
whigs (cấp tiến) và tories (bảo thủ). Tuy nhiên tính độc lập của các báo là có
giới hạn: báo chí luôn luôn bị truy tố ra tòa, và các chính phủ thường dùng tiền
bạc để khống chế báo chí. Từ 1712, Nghị viện hoảng sợ trước thanh thế của báo
chí, ra lệnh đánh tem thuế rất nặng vào từng số báo xuất bản và vào quảng cáo;
tuy nhiên biện pháp ấy không ngăn nổi số bản in của báo chí tăng tới 8 lần từ
1712 đến 1757. Sau hơn một nửa thế kỷ chống đối và cấm đoán, đến năm 1771,
Nghị viện mới cho phép các báo tường thuật các phiên họp. Pháp lệnh libel act
được thông qua năm 1792 quy định cụ thể các trường hợp nhà báo phải chịu truy
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tố trước pháp luật. Nghe có vẻ tự do, thực ra đây là một sự cứng rắn thêm trong
thái độ của chính phủ với báo chí.
3.1.2. Báo chí Đức bị kiểm duyệt đè nặng (1610 – 1792)
Các cuộc chiến tranh trong nửa đầu thế kỷ XVII không tạo thuận lợi cho
việc xuất bản tờ Gazette. Ở một đất nước có rất nhiều xưởng in, các đảng phái
đấu tranh lẫn nhau dùng các tờ bút chiến, tờ bướm khác nhau để tuyên truyền
cho mình, hơn là dùng báo. Hòa bình lập lại năm 1648 tạo điều kiện cho rất
nhiều báo định kỳ ra đời ở khắp các xứ lớn, nhỏ trong Đế chế: năm 1701 có 57
đầu báo, năm 1780 có 138, năm 1788 có 182, năm 1800 có 193. Chúng được đặt
dưới chế độ phép tắc và kiểm duyệt rất nghiêm ngặt - đặc biệt ở nước phổ dưới
thời Frédéric II - và chịu những phán quyết rất độc đoán của chính quyền. Do đó
những báo đó tồn tại không lâu và nội dung không có gì đáng chú ý.
Tuy nhiên, một số tờ báo cũng sống lâu, như tờ Magdeburgische Zeitung
đã làm đảo lộn làng báo Tây Âu, trừ nước Anh – thì Cách Mạng, lần đầu tiên đã
xác định, và có lúc đã thực thi, những nguyên tắc lớn của tự do báo chí. Và suốt
thế kỉ XIX, những nguyên tắc ấy sẽ trở thành nội dung yêu sách của các nhà báo
trên toàn thế giới. Cho đến nay, điều XI của bản Tuyên ngôn Nhân quyền ngày
26-8-1789: “sự tự do giao lưu tư tưởng và chính kiến là một trong những quyền
quý nhất của con người: mọi công dân đều có thể tự do nói, viết, in, trừ khi lạm
dụng tự do ấy thì phải chịu trách nhiệm trong những trường hợp do luật pháp
quy định” vẫn là lời tuyên bố nổi bật nhất của nguyên tắc tự do báo chí. Đồng
thời, việc bãi bỏ hệ thống hội đoàn cũng gỡ bỏ mọi cản trở cho hoạt động của
các xí nghiệp và cho việc hành nghề.
Thời kì cách mạng làm cho báo chí có bước bột phát đặc biệt tương xứng
với mối quan tâm sít sao của công chúng đối với biết bao sự kiện long trời lở
đất: từ 1789 – 1800, ra đời tới hơn 1.500 đầu báo mới, nghĩa là trong 11 năm,
tăng gấp đôi so với cả 150 năm cộng lại. Thời kì này đã phát hiện ra sức mạnh
của chính trị của báo chí, mà trước đó chỉ đóng vai trò thứ yếu. Sau ngày 10-8-
1972, các báo bị đàn áp dữ dội; và dưới thời Đế Chế, báo chí bị kiểm soát găt
gao là những bằng chứng cho thấy từ nay báo chí trở thành nguy cơ đáng gườm
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đối với những chính quyền chuyên chế. Song song với những sự kiện thời sự,
đời sống báo chí vô cùng sục sôi.
3.2. Từ đầu XIX đến 1871
Đây là thời kì công nghiệp hóa và dân chủ hóa báo chí. Tuy nhiên, ngay
trong thời kì này, sự tự do của báo chí lại bị kiểm duyệt gắt gao.
Ở tất cả các nước, các chính phủ đều muốn kìm chế sự phát triển của báo
chí, vì nó gây khó dễ cho thực thi quyền lực : các nhà lập pháp tài tình tạo ra
một lô những luật, quy chế, biện pháp để hạn chế tự do báo chí ngăn trở việc
phát hành. Song kìm kẹp và đàn áp chỉ mang lại hiệu quả nhất thời do sự tiến
hóa về chính trị nói chung (mở rộng quyền bầu cử, tiến bộ của chế độ đại
nghị...) làm tăng mối quan tâm của tầng lớp xã hội ngày càng rộng rãi đối với
như Francfort, Cologne hoặc Hambourg, báo chí mới được nói về chính trị với
chút ít độc lập. Sự ganh đua giữa Phổ và Áo cũng làm cho tình hình báo chí viết
tiếng Đức có những nét riêng.
Ở Berlin, tờ nhật báo đầu tiên Berliner Abenblattern (Báo Berlin buổi tối)
của Kleist (1810 – 1811) bị đình chỉ vì sợ bị Napoleon quở trách.
Chính quyền Đức liên tục có những hạn chế báo chí. Hội nghị chính trị
năm 1819 mở rộng hiệu lực các luật kiềm chế ra toàn bộ các quốc gia Đức, rồi
liên tiếp các năm 1824, 1831, 1832 lại bổ sung, ngày càng cứng rắn hơn. Ngoài
chế độ kiểm duyệt thì quy định chỉ những báo nào được chính quyền ưu ái mới
được đăng quảng cáo, đó cũng là một vũ khí đáng kể.
=> Qua hai giai đoạn lịch sử báo chí ở các nước TBCN trên, phần nào ta
thấy được tổng quan bức tranh báo chí ở nhà nước TBCN.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN SỰ CAN THIỆP CỦA TBCN ĐỐI VỚI BÁO
CHÍ
Suy cho cùng, báo chí ở nước nào cũng là công cụ phục vụ cho lợi ích của
chính quyền. Chính vì vậy nhà nước nào cũng phải can thiệp tới báo chí. Tất cả
mọi nguyên nhân can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí đều quy tụ về
một nguyên nhân chính đó là nhà nước TBCN muốn sử dụng báo chí như một
công cụ để phục vụ cho lợi ích của mình.
1. Báo chí là công cụ trong lĩnh vực chính trị
Không phải ngẫu nhiên mà báo chí được coi là “quyền lực thứ tư”. Với
phạm vi rộng, sức tác động tới công chúng lớn của báo chí, nhà nước TBCN
không thể bỏ qua công cụ hữu hiệu này để tác động đến đời sống chính trị của
người dân.
Trên phạm vi thế giới, do phạm vi ảnh hưởng và sức mạnh tác động to lớn
của mình, các tập đoàn báo chí đã trở hành một thế lực hay một thứ quyền lực
toàn cầu. Nó tác động vào dư luận xã hội một cách tự nhiên, vạch ra hướng đi
cho nhận thức, thúc đẩy việc hình thành thái độ, quan điểm chính trị - xã hôi.
cho mình.
Ngay tại một quốc gia nào đó không thống nhất về chính trị như Trung
quốc, Malaixia, .. thì đảng chính trị cầm quyền và nhà nước vẫn chủ động tạo ra
các nguồn lực và điều kiện kinh tế, xã hội kỹ thuật, công nghệ để xây dựng các
tập đoàn báo chí nhằm mục đích tạo ra sức mạnh truyền thông chi phối sự luận
xã hội, phục vụ cho các yêu cầu , nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên khi đã trưởng
thành các tập đoàn báo chí không chỉ trở thành thế lực truyền thông chính trị, mà
còn trở thành thế lực kinh tế và chịu ảnh hưởng mạng mẽ bởi các quy luật kinh
tế trong quá trình tồn tại. Cho nên mối quan hệ giữa chính trị và truyền thông có
thể nói rất là mật thiết. Ở đây, cũng cần phải hiểu chính trị ở khía cạnh sâu rộng
của nó (tức ngoài yếu tố quyền lực), bao gồm các tương quan ảnh hưởng trên địa
hạt tư tưởng, văn hoá, lịch sử, kinh tế, giáo dục, thông tin..., nói chung là toàn xã
hội.
Báo chí là tiếng nói ủng hộ chính phủ nhà nước TBCN trong các cuộc
chiến tranh:
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
VD1: CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Lúc cuộc chiến mới nổ ra, rất nhiều tờ báo lên tiếng ủng hộ những nỗ lực
của chính phủ. Họ không bao giờ đặt câu hỏi: “Quân đội Mỹ có quyền gì để đặt
chân đến Việt Nam?”. Công việc của họ là khiến các độc giả, thính giả cảm thấy
lạc quan và tự hào về quân đội mình. Điều này cũng giống như cuộc chiến tranh
tại Triều Tiên, các phóng viên chiến trường luôn vẽ ra một khung cảnh “màu
hồng” gửi về công chúng nước nhà.
Trong cuộc chiến ở Việt Nam, đã có lúc giới truyền thông cũng ủng hộ
chính sách tàn bạo của Mĩ ở Việt Nam.
Tạp chí Journal of Broadcasting có đăng một bài khá tường tận của nhà xã
hội học George Baylay nghiên cứu về phương thức của ba hệ thống ti- vi Mỹ
ABC, CBS và NBC trình bày cuộc chiến này từ 1965 cho đến 1970. Theo ông,
gần phân nửa tài liệu chiến tranh liên hệ đến hoạt động của bộ binh và không lực
nhưng nhà cầm quyền Mỹ vẫn không tài nào đưa ra được những chứng cứ để
hợp thức hóa cuộc chiến của họ) mà bỏ qua những hậu quả có thể đến với người
dân Irac (và cả người dân Mỹ) một khi cuộc chiến đã xảy ra. Hay như việc đăng
công khai danh sách những nguyên thủ thế giới ủng hộ Mỹ trong cuộc hạ bệ
Tổng thống Irac Saddam Hussein như thủ tướng Anh, thủ tướng Tây Ban Nha…
Báo chí là công cụ để đưa tin có lợi cho chính phủ và bóp méo sự thật.
Đọc những ví dụ sau đây để thấy rõ điều đó
VD1: BỘ MÁY TRUYỀN THÔNG VÀ BỘ MÁY CHIẾN TRANH
Ở Liên Xô trước đây, ai cũng biết hay nghe đến tờ nhật báo Pravda (Sự
thật). Dưới sự chỉ đạo và điều khiển của Nhà nước Xô-viết và Đảng Cộng sản
Liên Xô, Pravda đã từng sản suất ra biết bao câu chuyện không tưởng mà chúng
ta có thể gọi là huyền thoại. Ở Mĩ, ông George W. Bush và Đảng Cộng hòa
không thể khoe rằng họ làm chủ một cơ quan truyền thông như Pravda, và cũng
không thể nói rằng họ làm chủ hệ thống báo chí, đài truyền thanh, đài truyền
hình ở Mĩ, nhưng họ vẫn có thể tin tưởng vào hệ thống truyền thông Mĩ vì hệ
thống này cũng vâng dạ như tờ Pravda của Liên Xô cũ.
Bất kể bao nhiêu lời nói dối mà ông Bush và đồng nghiệp của ông nói về
mối đe dọa của Iraq đến nền an ninh nước Mĩ, giới truyền thông Mĩ chẳng bao
giờ chất vấn, chẳng bao giờ đặt những câu hỏi khó cho giới cầm quyền ở
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Washington. Bush và chính phủ của ông biết rằng họ có thể dựa và tin tưởng
vào lòng ái quốc của giới truyền thông Mĩ, những người chỉ tường trình cuộc
chiến ở Iraq như là báo cáo trận đấu thể thao của đội nhà. Và, ông Bush, không
như các nhà lãnh đạo của Liên Xô, không cần phải hạ lệnh, ra chỉ thị, hay bổ
nhiệm một cơ quan kiểm duyệt nào cả, bởi vì trong hệ thống truyền thông ở Mĩ
đã có sẵn một cơ chế tự kiểm duyệt.
Tháng 2 năm 2003, tờ Observer ở London tiết lộ rằng chính phủ ông Bush
đã và đang dọ thám các thành viên của Liên hiệp quốc để theo dõi thái độ của họ
trước ý đồ xâm lược Iraq của Mĩ. Đó là một hành động, lén đã đành, nhưng còn
cựu tướng lãnh, quan chức cao cấp, chính trị gia … đã trở thành một truyền
thống. Như Edward Said nhận xét, hệ thống truyền thông của Mĩ đã trở thành
một bộ phận trong guồng máy quân sự, guồng máy chiến tranh của Mĩ. Thành
ra, không ai ngạc nhiên khi thấy những tiếng nói chủ chốt trong các cuộc gọi là
“debate” hay “tranh luận” về chiến tranh và chính sách ngoại giao trên các hệ
thống truyền hình và truyền thanh thường là những cựu quan chức trong chính
phủ Mĩ. Điều này cũng giái thích tại sao những cái gọi là “nguồn tin đáng tin
cậy”, nhân viên báo chí, nhân viên Ngũ giác đài, phát ngôn viên Tòa bạch ốc,
hay những nhân vật thân cận với chính quyền Mĩ thường chiếm đại đa số trong
đội quân “chuyên gia” (experts) mà chúng ta nghe và thấy hàng ngày.
Những đại công ty thống trị thế giới truyền thông càng ngày càng tập
trung. Ben Bagdikian, tác giả cuốn sách nổi tiếng Media Monopoly (Độc quyền
truyền thông), ước tính rằng chỉ có 6 đại công ti đang nắm hầu hết hệ thống
truyền thông tại Mĩ. Chủ hãng NBC là General Electric, một công ti sản xuất vũ
khí cho quân đội Mĩ. Ngay cả các công ti truyền thông nhỏ, tuy không có liên
hệ với quân đội, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của chính phủ Mĩ.
Giới truyền thông Mĩ có mục tiêu chính là làm lợi qua việc buôn bán
thông tin và quảng cáo. Truyền thông, dù là báo chí, radio, hay truyền hình, đều
kiếm tiền bằng cách buôn bán khán giả đến các công ti đặt quảng cáo và họ biết
rằng cái business của họ sẽ lỗ lãi nếu họ chạy theo những loại thông tin có khả
năng làm tổn hại đến các nhà cầm quyền. Ảnh hưởng kinh tế trong việc tường
trình và cung cấp thông tin chi phối đến những gì khán giả nhìn và thấy. Chẳng
hạn như thay vì chi ra một số tiền gửi kí giả đi thu thập thông tin về việc vi
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phạm nhân quyền đối với các tù nhân đang bị giam giữ và hành hạ tại căn cứ
không quân Bagram (A Phú Hãn), các công ti truyền thông chỉ việc gõ cửa Tòa
bạch ốc và họ sẽ có ngay một “Thông cáo báo chí” phủ nhận những vi phạm
nhân quyền ở đó. Vừa rẻ tiền, lại vừa làm hài lòng giới cầm quyền.
Điều này có nghĩa là các cơ sở truyền thông độc lập đóng một vai trò
có trách nhiệm trong cuộc tấn công vào tòa nhà thương mại quốc tế hôm
9/11/2001. Cũng theo một cuộc thăm dò khác, 55% dân Mĩ tin rằng Saddam
Hussein trực tiếp yểm trợ Al Qaeda!
Cho đến nay, không ai có bằng chứng về hai mối quan hệ đó. Thực ra,
đại đa số các học giả Mĩ và giới ngoại giao quốc tế đều cho rằng cả hai tuyên bố
của ông Bush là sai. Nhưng đây là một câu hỏi mà quần chúng không bao giờ
nghe giới kí giả chất vấn: làm sao xã hội Mĩ có thể truyền bá những huyền
thoại như thế, và xem đó là những bằng chứng về sự ủng hộ của công chúng Mĩ
cho cuộc chiến?
Chính phủ ông Bush, qua các phát ngôn viên của Tòa bạch ốc và Ngũ
giác đài, đưa ra nhiều lí do để gây chiến, và giới truyền thông ngoan ngoãn trình
bày những lí do đó cho quần chúng như là những tín lí của chính phủ. Thành ra,
trong trường hợp này, giới truyền thông đã tự họ biến thành những người trong
guồng máy chính phủ, thay vì theo đuổi truy tìm sự thật
Trong những huyền thoại về truyền thông ở Mĩ, có một huyền thoại rất
phổ biến: đó là tự do báo chí. Nhưng trong thực tế, hệ thống truyền thông Mĩ
không bao giờ tự do, hay chỉ tự do đối với những người làm chủ các công ti sản
xuất vũ khí, các công ti thương mại khổng lồ, tức là những nhân vật và cơ quan
nắm quyền điều hành nước Mĩ. Giới truyền thông Mĩ có những quan điểm hẹp
về thế giới bên ngoài, những quan điểm mà trong đó chấp nhận cái “quyền” của
giới quân sự Mĩ và tự do thị trường để chi phối đến cuộc sống của người dân
trên thế giới. Do đó, những cái gọi là “tranh luận” trên hệ thống truyền thông
mà công chúng thấy là những người đồng ý với nhau về cơ bản, nhưng thỉnh
thoảng bất đồng ý kiến về cách thức buôn bán các hương trình nghị sự của nhà
nước.
VD2: CHIẾN TRANH IRAG (NĂM 2003)
25