SỰ MẤT CÂN ĐỐI GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
BÀI TẬP CUỐI KỲ
MÔN: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
SỰ MẤT CÂN ĐỐI GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ
GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO
ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Mã số: 60140120

Giảng viên : PGS.TS Lê Ngọc Hùng
Học viên : Đặng Trần Cường
Chuyên ngành : Đo lường & Đánh giá trong giáo dục
Khoá : ĐLĐG 2013

Hà Nội, 2015
MỤC LỤC
TT Nội dung Trang
I Tổng quan
1 Lý do chọn đề tài
2 Câu hỏi nghiên cứu
II
Vấn đề mất cân đối trong huy động và phân bổ nguồn lực tài
chính cho giáo dục đại học
Nguyên nhân
III Giải pháp
1 Đối với chính sách huy động nguồn lực tài chính :
2 Đối với các cơ sở đào tạo công lập, ngoài công lập
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
I. Tổng quan
1. Lý do chọn đề tài :

tôi xin chọn đề tài “ Sự mất cân đối giữa nghiên cứu khoa học và giảng dạy của
3
giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam “ làm đề tài tiểu
luận cho môn học “ Các vấn đề xã hội trong giáo dục.
2. Câu hỏi nghiên cứu :
Câu hỏi 1 : Vì sao lại có sự mất cân đối giữa nghiên cứu khoa học và giảng dạy
của giảng viên?
Câu hỏi 2: Giải pháp nào để thúc đẩy nghiên cứu khoa học.
II. Vấn đề mất cân đối giữa nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Nguyên nhân :
Nguyên nhân 1: Sự bất cập, chồng chéo trong quản lý và thiếu hụt nhân sự
Như chúng ta đều biết, do hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam sao
chép từ mô hình của Liên Xô cũ nên các hoạt động nghiên cứu phần lớn có tính
chất hàn lâm và đơn ngành. Công tác nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở các
viện nghiên cứu quốc gia như Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam trực thuộc Chính phủ cùng với các viện nghiên cứu
về những chuyên ngành hẹp trực thuộc các Bộ ngành chủ quản. Song song đó,
NCKH cũng được thực hiện ở các cơ sở GDĐH trực thuộc Chính phủ, các
trường ĐH trực thuộc Bộ GD-ĐT và các bộ ngành khác. Tuy có phát triển về số
lượng nhưng các tổ chức khoa học và công nghệ (KH-CN) chưa tạo thành một
mạng lưới mạnh theo quy hoạch, phân bổ còn bất hợp lý giữa các vùng, miền và
lĩnh vực hoạt động, còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Các viện nghiên cứu
lớn chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. HCM, trong khi các địa phương nghèo
còn rất thiếu các tổ chức KH-CN mạnh. Hai viện nghiên cứu quốc gia chưa thực
sự trở thành hạt nhân, đầu tàu thúc đẩy và lan tỏa phát triển KH-CN trong
ngành, lĩnh vực trọng điểm. Điều này thể hiện qua việc chưa có viện nghiên cứu,
trường đại học (ĐH) nào đạt trình độ quốc tế, kể cả trong khu vực ASEAN.
Hiệu quả hoạt động của đa số tổ chức KH-CN thấp, chưa thoát khỏi thói quen
được bao cấp, ngại chuyển đổi; số đã chuyển đổi thì vẫn gặp nhiều trở ngại
trong hoạt động tự chủ. Đội ngũ nhân lực KH-CN tuy gia tăng về số lượng,

chất lượng đào tạo và nghiên cứu ở các cơ sở GDĐH. Số kinh phí mà Bộ KH-
CN quản lý được phân bổ cho các viện nghiên cứu nhưng những cơ sở này có
rất ít gắn bó với hoạt động đào tạo. Gần đây, một số viện nghiên cứu lớn ở Việt
Nam xúc tiến thành lập đơn vị đào tạo sau ĐH trong đơn vị nhưng đây chỉ là
những bước khởi đầu. Trong khi đó, các trường ĐH chủ yếu tập trung cho giảng
dạy và ngay cả ở những trường có thực hiện việc nghiên cứu thì cũng có rất ít
nghiên cứu thực sự có tác dụng dẫn đến phát triển công nghệ, công bố khoa học
hoặc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập (Ca & Hung 2008: ). Ngay cả
ĐH Quốc gia Hà Nội và TP.HCM, hai cơ sở GDĐH được xem là “đầu tàu” ở
Việt Nam thì số ấn phẩm khoa học cũng còn rất khiêm tốn về số lượng và chất
lượng so với trường đại học Chulalongkorn, Thái Lan
5
Bảng 1: Chỉ tiêu về năng lực khoa học và tầm ảnh hưởng của ĐHQG-
HCM, ĐHQG-HN, và Chulalongkorn
Chỉ tiêu
ĐHQG-
TP.HCM
ĐHQG-
HN
ĐH
Chulalongkorn
Ấn phẩm khoa học 569 414 6.047
% hợp tác quốc tế 53,6 66,9 36,5
Chỉ số tập trung 0,9 0,8 0,6
% trên các tập san “top 25” 26,9 32,9 39,2
Chỉ số xuất sắc 7,2 5,3 9,9
Chỉ số ảnh hưởng (c) 1,1 0,9 0,9
Nguồn: SCImago Institutions Rankings 2011
Theo bảng 1, nếu cộng số ấn phẩm khoa học của hai ĐH Quốc gia HN và
TP.HCM thì chỉ có 983 bài trong khi số ấn phẩm của trường ĐH Chulalongkorn

công bố
quốc tế
Số lần
được
trích dẫn
trung
bình
Bốn trường đại học Việt Nam hàng đầu 83 6.6 44 4.5 39 8.8
Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam 82 6.3 31 4.9 51 7.5
Việt Nam (tổng số cả nước) 403 10 117 6.6 286 14.1
Trường ĐH Chulalongkorn 416 12 295 7.1 121 15.3
Trường ĐH Mahidol 465 13.9 320 8.3 145 16.9
Nguồn: Phạm Duy Hiển (2010: 620)
Bảng 1 và Bảng 2 cho thấy, năng suất nghiên cứu chủ yếu tạo ra ở các
viện nghiên cứu chứ không phải ở các trường đại học. Theo tính toán của chúng
tôi, nếu không có gì thay đổi và với tỉ lệ tăng trưởng như hiện nay, đến năm
6
2020, tổng số ấn phẩm khoa học của Việt Nam là khoảng 5.000 bài, tức chỉ bằng
số ấn phẩm khoa học của Thái Lan vào năm 2009. Điều này cho thấy Việt Nam
còn một khoảng cách xa so với các nước trong khu vực chứ chưa nói các quốc
gia phát triển. Mặc dù vậy, trong đề án đổi mới KH-CN của Bộ KH-CN trình
Thủ tướng Chính phủ thì Việt Nam có số bài báo “gấp 3 lần Thái Lan xét theo
cùng thời điểm đạt mức thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD” vì “số lượng
bài báo, công trình khoa học của Việt Nam được công bố quốc tế giai đoạn
2006-2010 tăng 2 lần so với giai đoạn 2001-2005, 4 lần so với giai đoạn 1996-
2000 và hơn 6 lần so với giai đoạn 1991-1995”. Theo đó, “số lượng bài báo,
công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1991-1995 là 837;
2001-2005: 2.517; 2006-2010: 5.286. Công bố quốc tế năm 2011 (1.544) gấp
gần 2 lần giai đoạn 1991-1995 và cao hơn giai đoạn 1996-2000 (1.420)”. Dường
như có sự sai lệch trong con số thống kê giữa Bộ KH-CN (7.803 bài) và tác giả

khuyến khích giảng viên tham gia NCKH và viết bài báo quốc tế bằng những
phần thưởng vật chất nhưng sau một thời gian, khi phần thưởng không còn thì
cũng là lúc các giảng viên không còn quan tâm nhiều đến NCKH nữa. Một
nguyên nhân khác là do trình độ chuyên môn, khả năng tư duy nghiên cứu còn
hạn chế nên phần nhiều các giảng viên không thích nghiên cứu bởi bản thân họ
không nắm được phương pháp NCKH và không biết phải thực hiện như thế nào,
đặc biệt đối với các ngành khoa học xã hội. Đọc một số luận văn và luận án do
các ứng viên trong nước làm mới thấy được khoảng cách rất lớn về NCKH của
Việt Nam và thế giới. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng
có thể nói những thách thức về cơ chế tài chính, lương bổng, năng lực nghiên
cứu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, hóa chất, tài liệu tham khảo
quốc tế … khiến nhiều giảng viên rất ngại khi phải làm nghiên cứu.
Nguyên nhân 3: Đầu tư và phân bổ kinh phí nghiên cứu

Về ngân sách nghiên cứu, Việt Nam rõ ràng là kém xa so với một số nước trong
khu vực. Đầu tư cho KHCN ở Việt Nam trong năm 2006 là 428 triệu USD,
chiếm khoảng 0,17% GDP; năm 2012 tăng lên 653 triệu USD (13.000 tỷ VND),
chiếm khoảng 0,27% GDP. Mặc dù tỉ lệ này cao hơn so với mức độ đầu tư ở
Indonesia (0,05% GDP) và Philippines (0,12% GDP), nhưng thấp hơn so với
Thái Lan (0,3% GDP, 1,79 tỉ USD), Malaysia (0,5% GDP, 1,54 tỉ USD) và
Singapore (2,2% GDP, 3 tỉ USD) (Nguyễn Văn Tuấn & Phạm Thị
Ly, 2011:611). Tính trung bình cứ một triệu USD thì Việt Nam công bố được 8
công trình khoa học trên các tập san quốc tế. Hiệu suất này tương đương với
Thái Lan và Indonesia, có phần cao hơn so với Malaysia và Philippines (6 bài/1
triệu USD), nhưng thấp hơn Singapore nơi có hiệu suất cao nhất với 13 bài
báo/1 triệu USD (Tuan Nguyen and Ly Pham, 2010: 673). Nghị quyết 14/2005
8
về đổi mới toàn diện GDĐH qui định cần phải tăng nguồn thu từ NCKH và các
dịch vụ liên quan lên đến 25% trước năm 2020 nhưng không rõ là tham vọng
này được đặt trên cơ sở nào và tính khả thi của nó đến đâu trong khi hiện nay

việc đầu tư cho KH-CN bằng cách tạo điều kiện khuyến khích doanh nghiệp tự
đầu tư đổi mới công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có nguồn vốn từ
quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển KH-CN là 10% thu nhập doanh nghiệp” cũng chẳng
9
mang đến hiệu quả cao. Điều không rõ là 10% thu nhập doanh nghiệp dành cho
phát triển KH-CN được thực hiện thế nào theo Luật KH-CN vì như trên đã đề
cập, phần lớn các doanh nghiệp của ta là vừa, nhỏ và siêu nhỏ với thiết bị công
nghệ yếu kém nên 10% lợi nhuận trước thuế cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hiện ở
Việt Nam rất ít doanh nghiệp đầu tư một bộ phận nghiên cứu phát triển, nếu có
chỉ là nghiên cứu nhỏ như thay đổi mẫu mã, bao bì, còn nghiên cứu công
nghệ cao hầu như không có. Thật vậy, “trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp nước ta đa phần ở mức trung bình và lạc hậu, khoảng 80%-90% công
nghệ nhập ngoại, trong đó 75% máy móc dây chuyền công nghệ thuộc thế hệ
những năm 1980-1990, 75% thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang”
Về tình hình kinh phí, Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân đã nhìn nhận:
“Nhiều năm qua, trong 2% kinh phí dành cho KH-CN (khoảng 13.000 tỷ đồng)
có khoảng 40-43% là kinh phí đầu tư phát triển và Bộ KH-ĐT trực tiếp phân bổ
khoản kinh phí này cho các bộ ngành, địa phương”. Điều đặc biệt đáng quan tâm
là “Bộ KH-CN hoàn toàn không nắm được tình hình phân bổ cũng như hiệu
quả sử dụng của khoản kinh phí đó. Các bộ ngành, địa phương khi nhận trực
tiếp kinh phí từ Bộ KH-ĐT gần như không báo cáo với Bộ KH-CN”. Song song
đó, Bộ trưởng cho biết thêm: “Kinh phí còn lại khoảng 57-60% là dành cho kinh
phí sự nghiệp KH-CN, Bộ KH-CN với Bộ Tài chính thỏa thuận thống nhất
phương án phân bổ cho các bộ ngành, các địa phương nhưng hầu hết khoản tiền
này được dành cho chi thường xuyên, tức là nuôi bộ máy cán bộ khoa học cũng
như các viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu trong cả nước. Một phần rất
ít ỏi chiếm khoảng hơn 10% mới dành cho nghiên cứu, tức là các đề tài từ cấp
cơ sở đến cấp Nhà nước”. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi năng suất
NCKH của Việt Nam trở nên thấp kém. Việc hợp tác hữu hiệu giữa các tổ chức
nghiên cứu khác nhau bị hạn chế do mỗi nhóm trực thuộc các bộ chủ quản khác

của các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, và cấp đơn vị vì phần lớn các đề
tài nghiên cứu sau khi được nghiệm thu thường được cất vào hộc tủ và ít khi
được đưa vào sử dụng vì những kết quả nghiên cứu và đề xuất độc lập của các
chuyên gia phần nhiều không được các cấp chính phủ quan tâm và được cho là
“kém khả thi” trong bối cảnh “hệ thống” hiện nay của Việt Nam. Thời gian qua,
có khá nhiều báo cáo nghiên cứu của một số tổ chức, cơ quan trong nước và
quốc tế có uy tín về tình hình kinh tế, tài chính, ngân hàng, xã hội, giáo dục, y
tế… ở Việt Nam nhưng những báo cáo này thường ít được các cấp chính
phủ lắng nghe và thực thi vì có ý kiến cho rằng “chưa phù hợp” với tình hình ở
Việt Nam. Ở các quốc gia quốc gia phát triển, trước khi đưa ra những quyết định
quan trọng, nhà nước thường dựa vào các kết quả nghiên cứu khảo sát độc lập
của các nhóm chuyên gia uy tín để làm cơ sở nhưng ở ta, việc này được
xem như “chưa cần thiết” vìmọi việc đã được chỉ đạo.
Bên cạnh đó, việc phê duyệt nội dung nghiên cứu đáng lẽ phải do giới
khoa học chủ động nhưng lại được quyết định từ trên xuống; kinh phí nghiên
cứu được giao cho các Bộ ngành khác nhau không dựa trên những tiêu chí rõ
ràng; các quy định về thanh quyết toán không hợp lý và mất nhiều thời gian làm
11
nản lòng người nghiên cứu. Về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Quân nhận xét:
“Cơ chế tài chính cũng như cơ chế quản lý về KH-CN của chúng ta cho đến thời
điểm này chưa hội nhập được với thế giới mặc dù chúng ta là thành viên của
WTO. Các nước đều làm việc theo nguyên tắc, các nhà khoa học đề xuất nhiệm
vụ vào lúc nào sẽ được cấp kinh phí và được tổ chức thực hiện ngay lúc đó, như
vậy mới có tính thời sự. Nhưng chúng ta thường phải lập kế hoạch KH-CN
trước hơn một năm. Cho đến khi được giao tiền thì thường các nhiệm vụ KH-
CN ấy đã trở nên lạc hậu. Đấy là chưa nói đến việc điều chỉnh nội dung và điều
chỉnh kinh phí… rất phức tạp về mặt thủ tục. Cho nên khi các nhà khoa học
nhận được kinh phí nhiều khi cũng không thực hiện được bởi với tốc độ trượt
giá và lạm phát của chúng ta, sau một đến hai năm những dự toán đó không có ý
nghĩa nữa. Đồng thời chúng ta cũng không sử dụng cơ chế của quỹ cho cấp phát

về phương pháp nghiên cứu, phần lớn các ứng viên thường viết đề tài nghiên
cứu được thực hiện theo “phép biện chứng duy vật với quan điểm toàn diện,
phát triển và lịch sử cụ thể; cơ sở lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Mác -
Lênin”, đồng thời “quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước” về một lĩnh vực
cụ thể nào đó hay “trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp và phương pháp chuyên gia để nghiên
cứu”[31]. Trong khi đó, ở các nước tiên tiến, khi nghiên cứu về KHXH, giới học
giả thường sử dụng các phương pháp như điều tra tự nhiên (naturalistic inquiry);
nhận thức vấn đề (epistemology), điều tra hiện tượng (phenomenology), tìm
hiểu hiện tượng văn hóa/ vấn đề (enthnography), nghiên cứu thông qua từng
trường hợp cụ thể (case study) v.vv để đi sâu đến từng chân tơ kẽ tóc của vấn
đề thông qua việc tóm tắt tổng quan các xu hướng và quan điểm, phản biện, phát
hiện, nghiên cứu dựa trên một khung ý tưởng hoặc lý thuyết (conceptual or
theoretical frameowork), thảo luận vấn đề, đưa ra đề xuất, và gợi ý cho những
nghiên cứu tiếp theo chứ không hề thấy sử dụng phương pháp “duy vật biện
chứng” và “chủ nghĩa xã hội khoa học” vì hai thuật ngữ này quả thật rất mơ hồ.
Đối với các ngành kinh tế ở Việt Nam, tiêu đề nghiên cứu thường na ná nhau ở
chỗ đề xuất “giải pháp” một cách hết sức hời hợt. Việc hình thành các chợ luận
án, luận văn trên mạng thông qua việc thuê mướn, sao chép và cắt dán càng làm
cho tình hình NCKH, đặc biệt là các ngành KHXH ngày càng trở nên hỗn loạn.
Ngoài ra, việc chia sẻ thông tin về kết quả nghiên cứu ngay trong giới NCKH
cũng rất hạn chế bởi tâm lý e sợ copy ý tưởng. Nếu có tìm ở web site của các
trường ĐH Việt Nam thì cũng không thể nào biết được giảng viên nào có
chuyên môn sâu và nghiên cứu về đề tài gì trong khi ở các nước, việc này là rất
dễ dàng nên các nghiên cứu viên và sinh viên rất dễ tiếp cận học hỏi và có thể
tham gia vào mạng lưới nghiên cứu liên kết. Ở Việt Nam, cho đến nay, việc gắn
kết các nhóm nghiên cứu liên ngành là không phổ biến và việc thương mại hóa
kết quả nghiên cứu ở Việt Nam thường ít được chú ý.


bạch; hiệu quả của đầu tư cho nghiên cứu KHCN chưa được đo lường đánh giá
cụ thể; năng lực NCKH của giảng viên và nghiên cứu viên còn rất hạn chế; chế
độ lương bổng thấp; sự thiếu hụt về cơ sở vật chất, hạn chế về tự do học
14
thuật; trang thiết bị và nguồn lực còn yếu đã không khuyến khích được việc
NCKH trong các trường ĐH và các viện nghiên cứu.
III. Giải pháp :
Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu: Chính
sách này cần thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp, từ việc tăng thêm ngân sách
hàng năm của Nhà nước đến việc tăng tỷ lệ ngân sách dành cho hoạt động
nghiên cứu khoa học ở từng trường, tăng kinh phí cho các đề tài nghiên cứu và
đầu tư thêm cho các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu. Tất nhiên, không
phải tăng kinh phí một cách “bình quân chủ nghĩa” mà nên đầu tư “có trọng
điểm” đối với các đề tài thực sự cần thiết và chắc chắn mang lại hiệu quả nếu
được thực hiện tốt. Có như vậy mới khuyến khích được người đảm nhiệm đề tài,
nhưng bên cạnh đó, chủ nhiệm đề tài cũng phải là những người có “tâm” và đủ
“tầm”.
- Giới hạn giờ giảng của giảng viên: Một nghịch lý đặt ra là với những
người có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu thì lại cũng chính họ là những
người có thể đảm nhiệm và phải đảm nhiệm số giờ giảng nhiều hơn (theo quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo); bởi thế, quỹ thời gian của họ được dành phần
lớn cho việc giảng dạy. Trong thực tế, giảng viên tại các trường đã và đang
giảng dạy rất nhiều giờ (gấp 200%, 300%, thậm chí 400% định mức). Vì thế,
thời gian dành cho nghiên cứu hầu như không còn. Để khắc phục tình trạng này,
cần có chính sách giới hạn số giờ giảng của giảng viên. Trước hết, Bộ Giáo dục
& Đào tạo nên xem xét để giảm định mức giờ giảng của chức danh Giáo sư, Phó
giáo sư, để họ dành thời gian nhiều hơn cho việc nghiên cứu. Với các trường,
cần có sự khống chế số giờ giảng tối đa được phép của giảng viên, tránh hiện
tượng giảng viên chỉ là “thợ dạy”.
- Có cơ chế để quy đổi giờ NCKH thành giờ giảng với một tỷ lệ nhất định,

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Xã hội học giáo dục” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 2011 – Tác giả Lê
Ngọc Hùng.
2. Bauer, T. (2011). The Challenge of Knowledge Sharing: Practices of the
Vietnamese Science Community in Ho Chi Minh City and the Mekong
Delta, ZEF Development Studies)
3. Ca Tran Ngoc and Nguyen Vo Hung (2008). The Evolving Role of
Academic Institutions in the Knowledge Economy: the Case of Vietnam,
Policy Research Institute, Lund, Sweden, accessed online
at on 10/11/2010
4. Gibbons, M. Limoges, C., Nowotny, H., Schwartzman, S., Scott, P., &
Trow, M. (1994). The new production of knowledge: The dynamics of
science and research in contemporary societies. London; Thousand
Oaks, Calif; New Delhli: SAGE
5. Harman, G., Hayden, M. and Nghi Pham, T. (2010). Reforming Higher
Education in Vietnam: Challenges and Priorities. In G. Harman, M.
Hayden, and T. Nghi Pham Vol. 29, (eds), Springer.
6. Harman, G., & Le, T.B.N. (2010). The research role of Vietnamese
universities. In G.
7. Harman, M. Hayden & T.N. Pham (Eds). Reforming Higher Education in
Vietnam, Vol. 29, pp87-102, Springer.
8. Hien, P. (2010). A comparative study of research capabilities of East
Asian countries and application for Vietnam. Higher Education, 60 (6),
615-625.
9. Nowotny, H., Scott, P., & Gibbons, M. (2001). Rethinking science:
knowledge and the public in an age uncertainty. Cambridge: Policy Press
10. Tuan Nguyen and Ly Pham (2011). The role of university in knowledge-
based economy in Vietnam, 200 years of Humboldt, International
experiences and Vietnam. Knowledge Publishing House, 2011
11. Tuan V. Nguyen (n.d.). Science in Vietnam, PPT presentation.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status