Về mối quan hệ giữa dịch thuật và nghiên cứu văn học ở Việt Nam - Pdf 28

Về mối quan hệ giữa dịch thuật và nghiên cứu văn học ở Việt Nam
Nguyễn Duy Bình

Trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam, dịch thuật đã đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc tiếp nhận các trường phái, lý thuyết phê bình của nước
ngoài. Không phải ngẫu nhiên mà thời kỳ nào dịch thuật phát triển thì phê bình
văn học cũng phát triển theo. Chúng ta có thể hình dung lịch sử phê bình văn
học Việt Nam được hình thành từ những diễn ngôn phê bình và việc dịch các
công trình nghiên cứu – phê bình văn học nước ngoài góp phần rất lớn trong việc
hình thành, thay đổi và chuyển dịch diễn ngôn đó. Trong giới hạn bài tham luận
này, đầu tiên, chúng tôi sẽ cố gắng tái tạo lịch sử diễn ngôn phê bình văn học và
diễn ngôn dịch thuật của Việt Nam. Sau đó, từ một số khái niệm về diễn ngôn, tri
thức, quyền lực của Michel Foucault, chúng tôi sẽ làm rõ sự tác động của diễn
ngôn dịch thuật lên diễn ngôn phê bình như một công cụ kiến tạo tri thức, cắt
nghĩa sự tác động trở lại của phê bình văn học đối với dịch thuật trong mối quan
hệ quyền năng và từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng và vai trò
của công tác dịch lý thuyết văn học.
Bàn về mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực, Foucault viết: “Không có quan hệ
quyền lực nếu một trường tri thức tương quan không được hình thành, cũng không có
tri thức nào không đồng thời đòi hỏi và hình thành các quan hệ quyền lực…”.[1] Việc
dịch sách lý luận, với tư cách là một diễn ngôn, không thể không bị chi phối bởi
các quan hệ quyền lực. Theo ngôn ngữ Foucault, dịch giả lý thuyết văn học nước
ngoài chịu sự chi phối của thư khố (archive). Thư khố, như Foucault đã giải
thích: “không phải là tổng thể các văn bản được lưu trữ trong một nền văn minh, cũng
không phải toàn bộ các vết tích được cứu vớt và lưu giữ trong nền văn minh đó mà là tất
cả những quy luật chi phối sự xuất hiện và sự biến mất của các phát ngôn, sự tồn dư và
sự xóa bỏ, đời sống nghịch lý đầy sự kiện và sự vật của chúng.”[2] Ở đây, chúng ta
phải tính đến sự tác động của quyền lực Nhà nước, quyền lực chính trị trong việc
hình thành diễn ngôn dịch thuật và diễn ngôn phê bình. Từ cuối thế kỷ 19 đến
đầu thế kỷ hai mươi, diễn ngôn phê bình Việt Nam bắt đầu manh nha từ sự
chuyển mình của đất nước khi tiếp xúc với phương Tây. Vào giai đoạn này, việc

Giai đoạn 1954-1975 là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử tri thức Việt Nam. Đó là
giai đoạn mà miền Nam và miền Bắc duy trì hai chế độ khác nhau. Ở miền Bắc,
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trở thành một quan điểm nghệ thuật thống
trị, phục vụ cho đường lối văn học phục vụ chính trị. Cho dù không phát triển
rầm rộ, dịch thuật tiếp tục đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng một hệ thống
lý luận văn học lúc bấy giờ. Mở đầu bằng bản dịch Bàn về văn học nghệ thuật của
Mao Trạch Đông, và sau đó là hàng loạt bản dịch các cuốn sách của J. Fréville, K.
Marx, F.Engels, V.I. Lénine, M. Gorky, L. Timophiep v.v… [9] Tất cả các công
trình dịch thuật này đã góp phần hình thành diễn ngôn phê bình Marxist mà
chúng ta có thể tìm thấy trong các cuốn sách, bài viết của Trường Chinh, Tố Hữu,
Trịnh Xuân An, Hoàng Trinh v.v… Hành trình trở thành nhà nghiên cứu -phê
bình văn học của Đỗ Đức Dục cho chúng ta thấy rõ ý thức “nghiên cứu văn học
nước ngoài […] không thể tách rời nghiên cứu với dịch thuật và giới thiệu.”[10] Đỗ
Đức Dục tâm sự:
Suốt năm năm đầu ở Viện Văn học để làm sự nghiệp mới, tôi quyết tâm “đóng
cửa đọc sách” với ý muốn trong một thời gian nhất định phải nắm cho được lý
luận cơ bản về văn học. Đó là thời kỳ tôi say mê đọc nào là Mác và Ăngghen bàn
về văn học nghệ thuật, nào là Lênin bàn về văn học nghệ thuật, nào là Plêkhanốp,
Măcxim Gorki, Timophêep, Nubarốp… Cùng những sách đó tôi ngốn ngấu
những Nguyên lý văn học, Nguyên lý mỹ học Mác-Lênin và cả […] Lịch sử văn học
Pháp của Đê Grăng, của G. Lăngxông, của E. Phaghê… Lịch sử văn học Xô Viết,
Lịch sử văn học Trung Quốc…[11]
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa suy cho cùng là tri thức được thiết lập bởi
thể chế chính trị nhằm tạo ra “cái khung lý luận”[12] để thiết trị văn học nghệ
thuật. Tri thức này gói gọn trong chủ trương: “Phương pháp phân tích giai cấp,
quan điểm lịch sử và tỉnh Đảng Cộng sản là tư tưởng chỉ đạo trong nghiên cứu văn
học.”[13] Và thực tế cho thấy, việc kiến tạo tri thức để quản lý văn học nghệ thuật
này đã có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà phê bình Việt Nam. Năm 1969, Trịnh
Xuân An viết:
Có người đặt vị trí của phê bình trong nền văn học như người lính gác. Đã là

kinh tế – văn hóa – chính trị – xã hội “do lịch sử để lại”. Năm 1991, Nguyên Ngọc
còn đánh giá: “Các sách lý luận văn học nước ngoài cho đến nay còn quá ít, và nói
chung chỉ một dòng, một chiều, còn nghèo nàn. Lý luận văn học thế giới mấy chục năm
qua phát triển rất mạnh mẽ. Chúng ta tất phải tìm lấy con đường đi, con đường phát
triển đúng và tốt nhất của riêng ta.”[15] Thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21,
nền học thuật nước nhà đang có những khởi sắc, “cởi mở hơn, tầm nhìn được mở
rộng hơn”[16]. Nhiều công trình của M. Kundera, Y. Lotman, K. Hamberger, P.
Ricoeur, A. Compagnon, J. Derrida, O. Paz, U. Eco, R. Barthes v.v… đã được dịch
và giới thiệu rộng rãi cho bạn đọc Việt Nam và nhờ vậy, nền phê bình – lý luận
văn học nước ta đã có những bước tiến quan trọng, nhiều nhà phê bình đã áp
dụng có chọn lọc và nhuần nhuyễn những lý thuyết văn học của phương Tây: từ
phân tâm học đến thi pháp học, từ hậu hiện đại đến giải cấu trúc…. Những nhà
lý luận – phê bình văn học như Trương Đăng Dung, Phương Lựu, Trần Đình Sử,
Nguyễn Văn Dân, Đỗ Lai Thúy, Lộc Phương Thủy v.v… đang thực sự là những
nhà nghiên cứu đầu đàn của Việt Nam hiện tại, nhất là trong lĩnh vực tiếp nhận
các lý thuyết văn học nước ngoài. Họ tạo nên một quyền lực phê bình có tầm ảnh
hưởng rất lớn đến nền lý luận – phê bình của nước nhà.
Dịch lý luận hình thành một tri thức và tri thức này có tác động mạnh mẽ vào
trường văn học, trong đó có phê bình, lý luận văn học. Cơ chế tác động của hoạt
động dịch lý luận lên hoạt động nghiên cứu, phê bình tuân theo cái mà Foucault
gọi là “quy tắc hình thành” diễn ngôn: hình thành các khách thể, hình thành
các phương thức diễn ngôn, hình thành các khái niệm, hình thành cácchiến lược.
Quả thế, các công trình lý thuyết văn học được dịch sang tiếng Việt đã gợi ý rất
nhiều đề tài mới, các điển phạm (canons) cho các nhà nghiên cứu – phê bình Việt
Nam, tạo cơ sở để họ có một lập trường khoa học rõ ràng để từ đó có một diễn
ngôn phê bình hợp lý. Sách dịch lý luận cũng cung cấp cho các nhà nghiên cứu –
phê bình những khái niệm mới, những khái niệm mà bản thân họ có quyền điều
chỉnh, thay đổi sao cho hợp lý. Phạm Quốc Lộc và Lê Nguyên Long không phải
không có lý khi cho rằng: “Dịch giúp thiết lập nên những điển phạm (canon); sau
những lần tiếp xúc mới, chính dịch lại góp phần giải phá những điển phạm cũ, hình

trẻ tuổi phải bắt đầu bằng việc khảo cổ học qua trình dịch thuật tri thức lý luận
văn học nước ngoài, tìm hiểu các điều kiện hình thành của các diễn ngôn phê
bình văn học trong lịch sử văn học nước nhà để từ đó có sự lựa chọn đúng đắn
các công trình lý thuyết cần dịch. Và quá trình này chắc chắn sẽ mang lại nhiều
hiệu quả hơn nếu họ nhận thức được quyền lực của chính mình và các (vi) quyền
lực đang chi phối mình, Họ cũng cần phải biết rút ra những bài học kinh nghiệm
từ những lớp người đi trước và cố gắng làm việc theo nhóm để nâng cao sức
mạnh truyền chuyển. Tương lai của nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã bắt đầu
phụ thuộc vào họ.
Tài liệu tham khảo
1. Albert Thibaudet, Physiologie de la critique, 1930.
2. Đào Duy Hiệp, “Phê bình văn học phương Tây ở Việt Nam – Tiếp nhận và ứng
dụng”, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 5, năm 2006.
3. Đỗ Lai Thúy, “Phê bình văn học, nhìn nghiêng từ phương pháp”, Nghiên cứu
văn học Việt Nam, những khả năng và thách thức, NXB Thế Giới, 2009.
4. Kiều Thanh Quế (Mộc Khuê), “Dịch thuật”, Ba mươi năm văn học, NXB Tân
Việt, 1941. Trang web: hŠp://lyluanvanhoc.com/?p=2606.
5. Lê Thị Phong Tuyết (chủ biên), Đỗ Đức Dục, Hành trình văn học, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội, 2003.
6. Lộc Phương Thủy, “Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận
văn học Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1/2005.
7. Michel Foucault, “Réponse au Cercle d’Epistémologie”, Cahiers pour l’Analyse.
Généalogies des sciences, số 9, 1968.
8. Michel Foucault, Surveiller et punir, Gallimard, 1975.
9. Nguyên Ngọc, “Vai trò văn học dịch trong sự phát triển văn học dân tộc” (Bản
sơ kết cuộc hội thảo “Văn học dịch trong nền văn học dân tộc” do Viện văn học
và Hội nhà văn tổ chức vào ngày 7 tháng 12 năm 1990 tại Hà Nội), Tạp chí văn
học, số 2, 1991.
10. Phạm Quốc Lộc, Lê Nguyên Long, “Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí
luận mới cho Việt Nam hiện nay,” Nghiên cứu văn học, tháng 12 năm 2009.

chí văn học, số 5 năm 1969. Tr. 82.
[15] Nguyên Ngọc, “Vai trò văn học dịch trong sự phát triển văn học dân tộc”
(Bản sơ kết cuộc hội thảo “Văn học dịch trong nền văn học dân tộc” do Viện văn
học và Hội nhà văn tổ chức vào ngày 7 tháng 12 năm 1990 tại Hà Nội), Tạp chí
văn học, số 2, 1991, tr. 3.
[16] Lộc Phương Thủy, “Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận
văn học Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1/2005.
[17] Phạm Quốc Lộc, Lê Nguyên Long, “Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí
luận mới cho Việt Nam hiện nay,” Nghiên cứu văn học, tháng 12 năm 2009.
Nguồn: Tham luận Hội thảo Nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam hiện nay
ngày 12- 1- 2012 tại Viện Văn học. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status