BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013-2014
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ 5
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế 5
1.1.1. Khái niệm chung 5
1.1.2. Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế 6
1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu 8
1.2.1. Khái niệm Xuất khẩu 8
1.2.2. Các yếu tố tác động tới xuất khẩu 10
1.3. Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế 14
1.3.1. Vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế 14
1.3.2. Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng
trưởng 15
1.4. Mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
……………………………………………………………………… 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN 2007- 201318
2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt nam từ năm 2007 tới 2013 18
2.2. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2013 23
2.3. Áp dụng mô hình kinh tế lượng vào mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013 34
2.3.1. Mô hình giả thuyết 34
2.3.2. Kết quả và kiểm định mô hình 35
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC NHỮNG TÁC ĐỘNG
TÍCH CỰC CỦA XUẤT KHẨU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TỪ TĂNG
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-
Thái Bình Dương
VITAS
Vietnam Textile and
Apparel Association
Hiệp hội dệt may Việt Nam
TPP
Trans-Pacific Strategic
Economuc Partnership
Agreement
Hiệp định hợp tác Kinh tế chuyến
lược xuyên Thái Bình Dương
FTA
Free Trade Area
Hiệp định thương mại tự do
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
ODM
Original Equipment
Manufacturer
Nhà sản xuất thiết bị nguyên thủy
NIEs
New Industrilize Countries
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2007- 2013
18
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2007- 2013 23
Biểu đồ 2.3.2.1: Đồ thị phần dư theo y^ 37
Biểu đồ 2.3.2.2:. Đồ thị phần dư theo biến giải thích export 37
Biểu đồ 2.3.2.3: Đồ thị phần dư theo thời gian 40
Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị phần dư theo phần dư trễ 1 giai đoạn 41
Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị của nhiễu 43
Biểu đồ 2.3.2.5: Đồ thị tổng sản phẩm trong nước theo tổng kim ngạch xuất khẩu 43
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài
Xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng và ngày càng đóng góp to lớn cho sự
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, tác động tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế, sự
ổn định kinh tếvĩ mô và tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu có khối
lượng lớn, chất lượng cao còn làm tăng vị thế kinh tế quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Với chiến lược kinh tế mở, các quốc gia đều thực thi những biện pháp tác động thúc
đẩy xuất khẩu hàng hóa, nhằm phát huy lợi thế quốc gia trên trường quốc tế, trong đó các
biện pháp tài chính thường được vận dụng và khai thác triệt để theo chiều hướng tạo
thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa.
Sau 5 năm là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và
đang tiếp tục đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do với các nước lớn, môi
trường thương mại đang và sẽ có nhiều cơ hội cùng những thách thức mới đối với hàng
xuất khẩu của Việt Nam. Những năm vừa qua, Việt Nam cũng đã có nhiều cố gắng cho
mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu, hướng tới 100 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, trong khi
xuất khẩu tăng liên tục là một điểm sáng của nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng trung bình
của Việt Nam bắt đầu suy giảm nhanh và liên tục từ giai đoạn cuối 2007- 2013.
Để tìm được những lí giải thỏa đáng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa những kiến thức lý luận về mối
quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế bằng mô hình kinh tế lượng; tìm hiểu
những vấn đề thực tiễn trong nước và quốc tế để rút ra những kết luận chung về nguyên
nhân, cơ hội, thách thức, những thành công, hạn chế của mối quan hệ này. Trên cơ sở đó
đề xuất hoàn thiện các chính sách quản lý của Việt Nam trong thời gian tới nhằm thúc
đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu
sau:
- Làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế;
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013;
3
- Sử dụng mô hình kinh tế lượng để rút ra mối quan hệ về mối quan hệ giữa xuất khẩu và
tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu;
- Áp dụng mô hình trên vào thực tiễn và đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu chiến
lược của đất nước;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác lợi thế từ mối quan hệ này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động
xuất khẩu hàng hóa; mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế; những cơ hội và thách thức mới
trong tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về hoạt động và mối liên hệ giữa xuất khẩu và tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam
- Về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu tăng trưởng kinh tế và các hoạt động xuất khẩu
hàng hóa hữu hình, không đề cập đến dịch vụ, vốn, sức lao động.
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các hoạt động và tình hình phát triển kinh
tế thực tiễn hàng năm trong giai đoạn từ 2007- 2013.
Sự gia tăng đó được thể hiện cả ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh
sự gia tăng tuyệt đối, trong khi đó tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối giữa
các thời kì (năm).
Có thể sử dụng các thước đo sau để phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP- Gross domestic product) là tổng giá trị của tất cả
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ
kinh tế của quốc gia trong từng thời kì nhất định (thường tính cho 1 năm).
Về nguyên tắc, Tổng sản phẩm trong nước được tính theo 3 phương pháp:
Phương pháp sản xuất (còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng).Theo phương pháp này,
GDP được xác định bằng cách tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp (hoặc
ngành) cộng với thuế nhập khảu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài.
Phương pháp thu nhập ( từ thu nhập tạo ra trong quá trình sản xuất hàng hóa chứ khong
phải là giá trị của bản thân hàng hóa)
Phương pháp chi tiêu về sản phẩm dịch vụ cuối cùng
GDP = C + I + G + (X-M)
Trong đó:
C là khoản chi tiêu của cá hộ gia đình về hàng hóa dịch vụ
I là tổn đấu tư của khu vực tư nhân (không tính các khoản đầu tư tài chính nuwh cổ
phiếu, trái phiều, tiền gửi tiết kiệm)
6
G là chi tiêu của CHính phủ (không tính các khoản thanh toán chuyển giao như chi cho
các dịch vụ an sinh xã hôi, phúc lợi và trợ cấp thất nghiệp)
X-M là xuất khẩu ròng (giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ đi kim ngạch nhập khẩu)
Tổng sản phẩm quốc dân (GNI- Gross National Income) đo lượng toàn bộ thu nhập
hay giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kì nhất định,
không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể tính trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế,
cũng có thể tính theo GDP ( GNI) bình quân đầu người. Quy mô và tốc độ tăng trưởng
doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất
nhất định.Như vậy tổng cung liên quan chặt chẽ đến sản lượng tiềm năng. Xét theo quan
điểm dài hạn, sự gia tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có tác động quyết định đến
tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố tác động đến sản lượng tiềm năng và do đó quyết định đến tổng mức
cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất. Thông thường, các yếu tố sản xuất chủ
yếu thường được kể đến là: Vốn (K), lao động (L), tài nguyên thiên nhiên (R) và công
nghệ (T). Cũng vì thế, hàm sản xuất phản ánh mối quan hệ hàm số giữa kết quả đầu ra
của nền kinh tế (Y) với các yếu tố sản xuất đầu vào được biểu thị khái quát dưới dạng
sau:
Y=F(K,L,R,T)
Các mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và mô hình tăng trưởng kinh tế hiện
đại cố gắng lượng hóa sự đống góp của các yếu tố sản xuất vafoq úa trình tăng trưởng
kinh tế.
Từ các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, về lý thuyết cũng như thực tiễn,
người ta luôn nghiên cứu tìm ra mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của lịch sử.
Ở giai đoạn đầu của sự phát triển mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (dựa
vào khai thác lợi thế của các nguồn lực sãn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động).
Cùng với sự phát triển của lịch sử, các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm, các quốc
gia đã dần chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng kết
8
hợp giữa chiều rộng và chiều sâu. Đến trình độ phát triển cao của nền kinh tế xã hội, mô
hình tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều sâu.
Đối với Việt Nam, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay chủ yếu phát triển theo
chiều rộng (khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô, đầu tư dàn trải theo chiều rộng cho
khu vực kinh tế nhà nước).
1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu
thực hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài.Vì vậy, sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Tuy nhiên, xét một cách cụ thể hơn thì
nguyên nhân cơ bản và sâu xa của việc trao đổi mua bán đó là xuất phát từ sự đa dạng về
điều kiện tự nhiên nên một nước có thể chuyên môn sản xuất một số mặt hàng có lợi thế
hơn và xuất khẩu để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác nhằm mục đích lợi nhuận.
Nhưng sự khác nhau về điều kiện sản xuất chỉ là một trong những lý do để thúc đẩy các
nước mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với nhau. Quan trọng hơn cả là hai bên cùng có
lợi do có sự khác nhau về sở thích và lượng cầu đối với hàng hoá. Chính vì vậy, nước ta
mặc dù với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất hầu như lớn hơn tất cả các mặt hàng
của các cường quốc kinh tế, chúng ta vẫn có thể duy trì quan hệ thương mại với các nước
đó. Trong những năm qua, vấn đề phát triển ngoại thương nói chung và hoạt động xuất
khẩu nói riêng luôn là mục tiêu chiến lược để phát triển kinh tế được Đảng và Nhà nước
ta luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu.
b, Các hình thức của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế về hàng hóa
Thương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua
bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình.
Ví dụ: trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa ) nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy
móc… là những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hàng hóa.
Thương mại quốc tế về dịch vụ:
10
Thương mại quốc tế về dịch vụ là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua
bán, trao đồi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua các hoạt động
của con người.
Một đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế hiện nay là vai trò ngày càng tăng
của hoạt động thương mại dịch vụ, với những lĩnh vực đa dạng như: viễn thông, ngân
hàng, tài chính, vận tải, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, giải trí…
Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư:
giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể
xuất khẩu xuống so với mức giá quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu
giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này. Trong một số
trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi
nhiều và vẫn có lợi cho nước xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá
quốc tế.Một mức thuế suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh
tranh.
Như vậy, thuế xuất khẩu nói riêng và thuế xuất nhập khẩu nói chung đều làm giảm
“lượng cầu quá mức” đối với hàng hoá có thể nhập khẩu và giảm “lượng cung quá mức”
đối với hàng hoá xuất khẩu.
Các công cụ phi thuế quan
Công cụ quota ( Hạn ngạch xuất khẩu) : Hình thức này áp dụng như một công cụ
chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu
hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định theo mặt hàng, theo từng quốc
gia, theo từng thời gian nhất định.
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Nó bao gồm quy định vệ sinh, đo lường, an
toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh
phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các
máy móc, dây truyền thiết bị cộng nghệ.
Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp trực tiếp hoặc
cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó chính phủ
còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các bạn hàng nước ngoài để có thể có
các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài.
12
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến hoạt động
xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm
nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ: Xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của
thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và vận chuyển gốm, vv …
nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các
doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu hết sức thuận lợi.
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập lợp những điều kiện, những yếu tố
bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp
không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm để điều khiển nó theo
ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu
hướng vận động của nó.
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi trường
kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh
nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực
hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có
thể ở các tầng (thứ bậc) khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/giám tiếp … Nhưng
về mặt nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp. Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là những nhân tố ảnh
hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hệ thống chính trị và các quan điểm
chính trị xã hội suy cho cùng tác động trực tiếp tới phạm vi lĩnh vực, mặt hàng … của đối
tác kinh doanh. Trong những năm của thập kỷ 90 tình hình chính trị xã hội của nhiều
quốc gia trên thế giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng bất lợi đối với quan hệ
song phương và đa phương với các quốc gia và công ty trên thế giới, chỉ trên cơ sở nắm
vững các nhân tố của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu và chiến
lược kinh doanh đúng đắn. Trong chiến lược và kế hoạch kinh doanh đều phải xác định
đối tác và những lực lượng nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
14 1.3. Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã được phân tích trong nhiều
tiêu dùng và tích lũy, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Xu hướng có tính quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp
sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông
nghiệp sang kinh tế công- nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp
phát triển. Nội dung cụ thể của xu thế này thể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng
ngày càng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong
tổng GDP, giai đoạn đầu tốc độ tăng của công nghiệp sẽ cao hơn dịch vụ, nhưng giai
đoạn sau,, khi nền kinh tế đã phát triển cao, thì dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn.
Trong sự vận động chung, ngoại thương với các hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa và dịch vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nó tác động đến toàn bộ quá trình
tái sản xuất hàng hóa, từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng. Đặc biệt đối với
các ngành sản xuất vật chất cơ bản như công nghiệp, nông nghiệp… ngoại thương đã tác
động trực tiếp đến cả đầu vào và đẩu ra của quá trình tái sản xuất, do đó đã góp phần thúc
đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoại thương cũng tạo ra các “ mối liên hệ
ngược”, “ mối liên hệ gián tiếp”, giữa các ngành, tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế
năng động.
Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận
lợi cho sản xuất, kinh doanh.
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận lưu thông hàng hóa giữa trong nước và ngoài
nước, chức năng cơ bản của ngoại thương là: tổ chức chủ yếu quá trính lưu thông hàng
hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị
trường trong và ngoài nước, thỏa mãn nhu cầu sản xuất của xã hội về hàng hóa theo số
lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí thấp nhất.
1.3.2. Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng
16
trưởng
giảm khó khăn về ngoại tệ và do đó có thể giúp các nước tiếp cận với thị trường toàn cầu
dễ dàng hơn. Cuối cùng, những lập luận này gần đây đã được hỗ trợ nhờ cơ sở lý luận về
thuyết tăng trưởng “nội sinh”, trong đó nhấn mạnh rằng xuất khẩu có thể thúc đẩy tăng
trưởng dài hạn vì sẽ thúc đẩy phát triển công nghệ và học hỏi kinh nghiệm từ các nước
khác.
1.4. Mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng
kinh tế
Từ mối liên quan giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu của nhóm
sẽ đưa ra cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tếthông
qua mô hình kin tế lượng và sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để từ đó
tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế và sự phụ thuộc
của tăng trưởng kinh tế vào xuất khẩu. Thông qua sự thành lập được mô hình kinh tế
lượng, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm định độ chính xác và phù hợp của mô hình để từ đó đưa
ra sự nhận xét về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng một cách chính xác nhất.
18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN 2007- 2013
2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt nam từ năm 2007 tới 2013
Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế từ 2007- 2013
Tình hình kinh tế nước ta đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành
tựu mới nhưng đồng thời cũng phát sinh và bộc lộ rõ hơn những mặt hạn chế và bất cập,
có thể khái quát bằng một số chỉ tiêu thống kê định lượng dưới đây.
Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình.
Mặc dù chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
toàn cầu diễn ra từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đều đạt tốc độ tăng trưởng
tương đối tích cực.
Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SẢN PHẨM
TRONG NƯỚC GDP (%)
TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG
SẢN PHẨM TRONG
NƯỚC GDP (%)
19
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 đạt 8,46%, năm năm 2008
đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32% và năm 2010 ước tính đạt 6,78%, năm 2011 đạt 5,89%,
năm 2012 đạt 5,03%, năm 2013 GDP đạt 5,42%
Cụ thể:
Bước vào năm 2007 chúng ta có thuận lợi cơ bản là sau hơn 20 năm đổi mới thế
và lực của nền kinh tế nước ta cũng như những kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều
hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều đã được tăng lên đáng kể.
Việc nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo thêm
cơ hội để nền kinh tế nước ta hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào kinh tế thế giới. Tuy
nhiên, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: trong khi nền kinh tế còn nhiều mặt
yếu kém, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp thì
giá của nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu vào quan trọng phải nhập khẩu tăng cao.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá so
sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản tăng 3,41%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% ;khu vực dịch vụ
tăng 8,68%. Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển
mở lớn và tốc độ mở nhanh, do đó dễ bị ảnh hưởng từ những biến động của thị trường
thế giới.
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách
thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế
thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường
vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của
nước ta. Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng tổng sản
phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong nhiều
năm gần đây; nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm
trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9%. Tính chung cả năm 2009,
tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.