Các nguyên tắc trong Giáo dục Mầm non Nhật Bản - Pdf 20

Các nguyên tắc trong Giáo dục Mầm non Nhật Bản
Trẻ có thể bộc lộ hoàn toàn khả năng của mình và cơ hội
phát triển của trẻ sẽ trở nên rõ ràng nhất khi trẻ hoạt động
một cách chủ động. Sẽ đạt được các mục tiêu giáo dục đề
ra một cách dễ dàng hơn nếu những mục tiêu này dựa trên
các nguyên tắc rõ ràng và gắn liền với các hoạt động hàng
ngày của trẻ.
Bài viết này sẽ đề cập tới các nguyên tắc "Giáo dục lấy trẻ
làm trung tâm", những nguyên tắc này gắn liền với sự chủ
động trong các hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của
trẻ. Đồng thời, bài này cũng đề cập tới cách áp dụng những
nguyên tắc này vào thực tế.
* Nguyên tắc: "Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm" phát
triển tính độc lập và tự tin của trẻ
Một trong những mục tiêu giáo dục trong giai đoạn trước
tuổi học là nhằm phát triển tính độc lập và tự tin. Ở đây,
"tính độc lập" đề cập tới khả năng suy nghĩ mà không cần
phải tuân theo bất kỳ chỉ dẫn nào. Vì thế, trẻ độc lập là
những trẻ có chính kiến riêng và sẽ hoàn thành được các
công việc sau khi đã trải qua một quá trình liên tục của
những cố gắng và sai lầm. Tuy nhiên, điều này không có
nghĩa rằng trẻ đơn giản chỉ cư xử một cách ích kỷ mà
không quan tâm tới ai khác nữa. Trẻ độc lập có thể tự đưa
ra những quyết định sau khi đã xem xét đến nhiều tác nhân
có liên quan (như những người khác hoặc hoàn cảnh quanh
mình) nhưng trẻ không bị điều khiển bởi bất cứ "thế lực"
nào. Vì thế, các nhà Giáo dục Mầm non nên làm thế nào để
giúp trẻ phát triển tính độc lập?
Đầu tiên, phải chú trọng đến tính chủ động của trẻ (như: ý
kiến, sự nhiệt tình, những dự định riêng của trẻ). Tuy vậy,
nếu giáo viên để trẻ làm cái chúng thích thì trẻ sẽ không

phát triển tiềm năng. Giáo viên nên làm một "chỗ dựa" để
có những hỗ trợ tối thiểu cần cho trẻ phát triển thành công
và tiến lên một mức phát triển mới.Vì vậy, làm thế nào để
giáo viên có thể xác định được vùng phát triển gần của mỗi
trẻ?
Có 3 điểm quan trọng: Những kinh nghiệm của giáo
viên; khả năng bắt chước của trẻ; và lịch sử cuộc sống
của trẻ.
- Những kinh nghiệm của giáo viên: sẽ giúp họ xác định
nên nói như thế nào và giúp trẻ ở mức độ nào. Ví dụ: Giáo
viên có thể nghĩ: "Cậu bé này cũng giống như một cậu bé
trước đây mình đã từng chăm sóc: cũng phải mất một chút
ít thời gian cho cậu ta khởi động, nhưng khi đã bắt nhịp
được thì chắc chắn cậu ta có thể tự hoàn thành công việc
của mình vì cậu ta có khả năng tập trung cao giống với cậu
bé năm ngoái mình giúp đỡ". Giáo viên có thể suy đoán
được vùng phát triển gần của trẻ dựa vào kinh nghiệm như
thế. Tốt nhất nên tránh đưa ra quá nhiều gợi ý hoặc hướng
dẫn cho một trẻ. Chỉ nên đưa một gợi ý nhỏ vào lúc bắt đầu
hoạt động và thay đổi cách nói với trẻ khi chúng có thể đi
tiếp sang những giai đoạn tiếp theo.
- Bắt chước là một mặt khác của vùng phát triển gần. Nếu
trẻ có thể bắt chước giáo viên hoặc các bạn hoàn thành một
công việc thì gần như chắc chắn là trẻ có thể tự hoàn thành
công việc tương tự. Hai nhân tố: kinh nghiệm của giáo viên
và khả năng bắt chước của trẻ cùng nhau cung cấp một dấu
hiệu rõ ràng hơn về vùng phát triển gần.
- Lịch sử cuộc sống của trẻ giúp giáo viên trong việc tiếp
cận tiềm năng phát triển và trong cách ứng xử với những
trẻ cụ thể. Nhưng không nên so sánh trực tiếp lịch sử cuộc

trẻ trong hoàn cảnh thực tế như thế nào?
Những điều quan trọng.
1. Kích thích trẻ suy nghĩ
Giáo viên nên để cho trẻ một khoảng thời gian để suy nghĩ.
Người lớn tránh đưa ra tất cả các câu trả lời và tránh áp đặt
trẻ phải theo mình.
Ví dụ: Trong học kỳ hai, một cậu bé 4 tuổi không thể hiểu
được nghĩa của ký tự Hiragana (chữ viết Nhật Bản) ở trên
bảng bởi vì cậu bé đọc chúng từ bên phải sang, mà lẽ ra
phải đọc từ trái sang. Cậu bé hỏi cô giáo:
Cậu bé: KU CHI KA" là gì ạ?
Cô giáo: Đây là "KA CHI KU". Đọc từ trái sang. (Vừa chỉ
hướng vừa đọc).
Cậu bé: "KA CHI KU" là gì ạ?
Cô giáo: Đó là những con vật nuôi trong nhà, chúng sống
trong ngôi nhà của con người.
Cậu bé: (Sau khi suy nghĩ một chút, trông cậu có vẻ hài
lòng với sự giải thích của cô giáo và gật đầu)
Nhận xét: Chỉ trả lời cái trẻ hỏi. Nếu trẻ không thỏa mãn
với câu trả lời đó, chúng có thể hỏi những câu tiếp. Không
nên đưa ra những giải thích thêm hay ngay lập tức đưa ra
câu trả lời mà không đợi trẻ suy nghĩ.
2. Kích thích trẻ suy nghĩ từ nhiều quan điểm khác
nhau.
Nên đưa ra gợi ý chứ không đưa ra mệnh lệnh hay sự cấm
đoán. Ví dụ, sẽ tốt hơn khi nói với trẻ "Làm như thế
nào ?", "Tại sao con làm theo cách đó", hay "Cô nghĩ
là ", "Con đang nghĩ gì?" hơn là nói "Làm đi !" và "Cấm
làm ". Đưa ra những lời gợi ý khiến cho trẻ tự suy nghĩ,
điều này sẽ kích thích đại não. Hơn nữa, thầy cô nên

giấy đã được vẻ một nửa con ngựa bình thường cho trẻ).
Cô giáo: Cô rất muốn nhìn thấy con kỳ lân ở trong các
truyện kể. (Như thể cô nói với chính mình)
Trẻ: Không, cô không thể nhìn thấy nó trong bất kỳ truyện
nào. Nó chỉ là tưởng tượng.
Cô giáo: Thế thì vẽ một cái sừng lên đầu con ngựa này, và
cô có thể nhìn thấy điều mà cô muốn.
Trẻ: Nó không có tai và có một cái đầu hói (Trẻ chỉ tiếp tục
miêu tả mà không vẽ)
Cô giáo: Ô, thế thì thật thú vị. Như thế này à? Còn cái này
thì sao? (Khi trẻ không thể vẽ, cô giáo cố gắng vẽ cho trẻ,
theo những điều mà trẻ miêu tả).
Trẻ: (Trẻ lặng yên nhìn cô giáo vẽ).
Cô giáo: Những cái sừng như thế này đúng không? (Cô vẽ
hai cái sừng).
Trẻ: Nó không có hai sừng.
Cô giáo: Chỉ một sừng thôi à?
Trẻ: Vâng. (Trẻ gật đầu)
Cô giáo: Một sừng. Thế này được chưa? (Côvẽ một con
ngựa khác với một cái sừng và các chân lộ ra ngoài)
Trẻ: Nó không chạy. Con đã nói nó chỉ đứng, không phải ạ!
Cô giáo: Như thế này không đúng à? (Cô lại thêm một cái
sừng vào con ngựa đầu tiên, với hai chân khép)
Trẻ: Nó có cánh.
Cô giáo: Ô, cô hiểu rồi. Nó có phải là Pegasus không?
Trẻ: (Trẻ im lặng. Có vẻ như trẻ chưa biết về Pegasus. Sau
vài giây lưỡng lự trẻ nói tiếp) Nó có một cái nếp nhăn khi
nó nhắm mắt.
Cô giáo: Con đã quan sát rất kỹ. (Cô vẽ một con ngựa khác,
với cái chân khép và đang bay lên không trung bằng hai

những gợi ý nhỏ để trẻ thay đổi bản chất hay phạm vi tưởng
tượng của mình, sau đó kiểm tra lại phản ứng của trẻ. Khi
chúng không thể hiểu hoặc không chấp nhận những gợi ý
đó, giáo viên nên nhận ra rằng trình độ của trẻ không cao
như mình đã nghĩ. Điều cơ bản là không áp đặt quan điểm/
gợi ý của mình. Tóm lại, giáo viên nên "chờ đợi và quan
sát", "kiên nhẫn và không nóng vội", "không nên hối thúc
trẻ".
GS. TS Nobuko Uchida -
Hiệu phó Trường đại học Ochanomizu
(Ghi chép trong Hội thảo Quốc tế Giaó dục Mầm non
Việt Nam - Nhật bản giữa ĐHSP HN và các trường ĐH
Nhật Bản về công tác GDMN)
Ngọc Mai mamnon.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status