Đề tài " VẬN DỤNG NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH KINH DOANH CỦA XÃ HỘI " - Pdf 20


ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG NỘI DUNG PHÁP LUẬT
VỀ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH KINH
DOANH CỦA XÃ HỘI Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :


Đề bài:
Theo anh chị, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước như hiện nay thì việc vận dụng nội dung pháp luật về kinh tế trong
quản lý nhà nước và quá trình kinh doanh của xã hội được thực hiện thế nào?
Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam và ở địa phương của anh chị?
Bài làm:
Từ thực tiễn lịch sử phát triển các xã hội qua các thời đại nói chung và
trong thế giới đương đại nói riêng, từ những thất bại cay đắng của các nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung cao độ từ trung ương theo mô hình CNXH Xôviết
cuối thế kỷ XX, và từ những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới CNXH ở
Việt Nam những năm qua là những minh chứng đầy sức thuyết phục những thất
bại, thành công trong thực hiện cơ chế giải quyết mối quan hệ kinh tế và chính
trị, không thể lấy chủ quan chính trị, bạo lực thay cho các yêu cầu của các quy
luật kinh tế khách quan trong tiến trình phát triển. Việc giải quyết các mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị hướng tới phát triển theo định hướng XHCN vừa
phải tuân thủ các nguyên tắc khoa học, vừa mang tính nghệ thuật trong giải
quyết các tình huống rất cụ thể với những bước đi, trình tự hợp lý, nội dung phù
hợp với hoàn cảnh mỗi quốc gia và trong quan hệ kinh tế - chính trị khu vực và
toàn cầu.

hướng lên CNXH, phải lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm trong toàn bộ công
cuộc đổi mới kinh tế và chính trị. Đây là vấn đề đã xác định ngay từ đầu của
quá trình đổi mới, coi đó là tiền đề, điều kiện, là trọng tâm để phát huy mọi nội
lực, nhằm sớm lấp đầy lỗ hổng yếu kém kinh tế, tạo nền cho đổi mới nói chung
và đổi mới chính trị nói riêng. Kết quả đối mới kinh tế, của tăng trưởng, phát
triển là cơ sở của đổi mới chính trị, vạch đường cho đổi mới chính trị.
Hơn hai mươi năm qua, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là viên
gạch đầu tiên được đặt đúng vào đường ray của thời kỳ quá độ lên CNXH. Từ
đó, nền kinh tế đất nước dần chuyển mình theo hướng từ một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu cao độ chuyển dần sang kinh tế thị trường, nhiều
thành phần, đa dạng hóa sở hữu có sự quản lý, điều tiết của nhà nước. Nhờ đó,
sức mạnh của nội lực trong xã hội, trong các thành phần kinh tế có cơ hội bung
ra. Trên cả nước hiện có hàng trăm nghìn doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ đang
họat động. Khoa học, công nghệ có những bước tiến quan trọng trong tiến trình
đi đến hoàn thành sự nghiệp này vào những năm 20 của thế kỷ XXI. Các quan
hệ kinh tế, chính trị bước đầu dựa trên các quan hệ thị trường, đang hướng tới
đáp ứng các yêu cầu của thị trường, chịu sự tác động của quy luật thị trường,
bình đẳng trong cạnh tranh, hoạt động kinh tế trên cơ sở sự điều tiết của pháp
luật.
Một điểm đáng đặc biệt lưu ý là nền kinh tế thị trường rất năng động và
rất đa dạng xét về chủ thể tham gia. Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung của chúng ta trước đây chỉ có một số loại chủ thể ít ỏi, thì trong nền kinh
tế thị trường hiện nay, chúng ta có nhiều loại chủ thể tham gia vào nền kinh tế.
Sự độc diễn của một vài loại hình doanh nghiệp dĩ nhiên không thể dẫn tới nhu
cầu chuyển đổi và cũng không tạo điều kiện cho sự lựa chọn. Nền kinh tế kế
hoạch hóa trước đây chỉ chủ yếu có doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã.
Sự lựa chọn đương nhiên khó xảy ra và sự chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp
này sang loại hình doanh nghiệp khác cũng rất khó khăn. Tình trạng kể trên
không thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà vì sự cạnh tranh, tức là vì
lợi nhuận và sự sống còn của mình, các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách

trước đây. Chính vì vậy, cần thoát khỏi cách tiếp cận trước đây đối với doanh
nghiệp để có thể tạo ra được trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp nhà nước, một cơ chế ra quyết định thích hợp với nền kinh tế thị trường.
Việc xác lập quyền tự do kinh doanh biểu hiện khá rõ nét ngay cả ở khía cạnh
này. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cần được tự mình quyết định
các vấn đề như: Chấm dứt, chuyển đổi, thu hẹp hay mở rộng doanh nghiệp; Sử
dụng vốn, lao động căn cứ vào nhu cầu thực tế của mình; Ký kết và thực hiện
các hợp đồng, các liên kết kinh tế phù hợp với lợi ích của mình; Khởi kiện hoặc
hòa giải đối với các vi phạm hợp đồng từ phía đối tác; Phát hành trái phiếu, cổ
phiếu khi thấy cần thiết.
Quyền của doanh nghiệp, của nhà đầu tư được pháp luật thể chế hóa theo
những cách thức và cách tiếp cận khác nhau. Nhiều hệ thống pháp luật cho phép
các doanh nghiệp tự xác định quyền của mình trong các điều lệ và quy chế của
doanh nghiệp. Pháp luật coi quy chế, điều lệ của doanh nghiệp là “luật của
doanh nghiệp” và Tòa án, các cơ quan bảo vệ pháp luật khi xem xét một số
tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp cũng có thể coi chúng là “nguồn
luật áp dụng”. Các hệ thống pháp luật này chỉ quy định những nguyên tắc
chung về mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Cách tiếp cận
này có ưu điểm là tạo ra được sự năng động của doanh nghiệp. Một số hệ thống
pháp luật tìm cách quy định quyền của doanh nghiệp trong các luật và nghị
định. Cách tiếp cận này tạo ra được các quy định pháp luật tương đối thống nhất
về quyền của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định như vậy khó phản ánh
hết những đặc thù của các doanh nghiệp. Thông thường, các hệ thống pháp luật
có cách tiếp cận này thường ban hành các văn bản luật về từng loại hình doanh
nghiệp, ví dụ như luật về hợp tác xã, luật doanh nghiệp nhà nước, luật về công
ty.
Một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ quyền tự do kinh doanh là
quyền tự do ký kết các hợp đồng. Đây là yếu tố thể hiện khá rõ nét quyền tự chủ
của doanh nghiệp mặc dù không phải là yếu tố duy nhất. Có thể nói hợp đồng là
hình thức pháp lý cơ bản của việc xác lập các mối quan hệ trong doanh nghiệp

ra những tiền đề pháp lý quan trọng cho tự do kinh doanh. Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế có thể được coi là phản ứng đầu tiên của hệ thống pháp luật nước ta đối
với đòi hỏi của tự do kinh doanh. Bằng việc ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh
tế, lần đầu tiên, hệ thống pháp luật nước ta đã khẳng định ký kết hợp đồng kinh
tế là quyền của các tổ chức kinh tế. Tiếp theo đó, với việc ban hành Bộ luật Dân
sự và Luật Thương mại, chế định hợp đồng được hoàn thiện thêm một bước.
Tuy nhiên, so với những đòi hỏi của thực tiễn thì pháp luật về hợp đồng ở nước
ta cần được tiếp tục hoàn thiện.
Cách tiếp cận cơ bản của pháp luật nước ta về hợp đồng nói chung và
hợp đồng kinh tế nói riêng về cơ bản phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế
thị trường. Những nguyên tắc chung chi phối chế định hợp đồng nước ta bao
gồm: tự do hợp đồng, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và cùng có lợi. Các quy
định cụ thể của pháp luật hợp đồng đều hướng vào việc thể hiện các nguyên tắc
này.
Bên cạnh việc thể chế hóa những đòi hỏi của quyền tự do kinh doanh.
Pháp luật kinh tế còn tạo ra những đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự do kinh
doanh.
- Pháp luật kinh tế bảo vệ những hoạt động thúc đẩy tự do kinh doanh,
đồng thời hạn chế những hoạt động xâm phạm hoặc cản trở tự do kinh doanh,
những hoạt động mà pháp luật kinh tế cho phép và khuyến khích thực hiện bao
gồm: Cạnh tranh lành mạnh; Hạn chế độc quyền; Quyền tự định đoạt của doanh
nghiệp trong việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh; Tự do hợp đồng;
Những hoạt động mà pháp luật kinh tế cấm hoặc hạn chế bao gồm: Độc
quyền, hạn chế cạnh tranh; Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp; Vi phạm nghĩa
vụ cam kết; Gian lận thương mại; Lừa đảo v.v…
- Pháp luật kinh tế tạo ra cơ chế xử lý nhanh chóng các tranh chấp phát
sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc thực hiện quyền tự do kinh doanh phụ thuộc không chỉ vào sự đảm
bảo của Nhà nước trong việc xác lập các yếu tố cần thiết của nó mà còn phụ
thuộc vào thiện chí và trách nhiệm của các đối tác trong quá trình sản xuất kinh

nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển các yếu tố
nuôi dưỡng cho tăng trưởng kinh tế. Chính trị phải phát huy được các nguồn lực
làm động lực phát triển kinh tế, phải nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
người dân. Giữ được định hướng XHCN, nhưng kinh tế không phát triển, đời
sống của đa số nhân dân không được cải thiện, thì định hướng XHCN cũng
chẳng có ý nghĩa gì với dân.
Trong thời kỳ xây dựng, phát triển, mục tiêu hàng đầu là phát triển kinh
tế, lợi ích kinh tế. Do đó, việc phát huy các nguồn lực cho kinh tế không chỉ dựa
vào động viên tư tưởng, lòng hăng hái, nhiệt tình đơn thuần. Để khơi dậy các
nguồn lực, tạo động lực đòi hỏi phải có đường lối, chính sách đúng, có hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh để ràng buộc, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, quy định
rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi tổ chức và mỗi công dân, bảo vệ được các
lợi ích chính đáng của các thành viên tham gia thị trường.
Chính trị cũng cần có tiêu chí hiệu quả, và hiệu quả của chính trị phải thể
hiện ở mức độ tự do, trình độ dân chủ, ở hiệu quả kinh tế và thực hiện công
bằng, bình đẳng xã hội. Đổi mới quan điểm, đường lối của Đảng, đổi mới tổ
chức và vận hành bộ máy nhà nước, phải được xem xét trên quan điểm hiệu
quả, lấy hiệu quả phát triển kinh tế xã hôị làm thước đo. Các chỉ tiêu hiệu quả
kinh tế phải là một trong những tiêu chí hàng đầu làm thước đo, đánh giá tính
hợp lý, đúng đắn, ưu việt trong tổ chức và vận hành của cả hệ thống chính trị
nói chung và của nhà nước nói riêng. Ở Việt Nam trong đổi mới, có thể nói toàn
bộ cơ chế vận hành của hệ thống chính trị: quan hệ giữa Đảng cộng sản cầm
quyền với nhà nước, quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội với Đảng và với
nhà nước là những quan hệ cốt yếu. Các nhân tố, các quan hệ trong hệ thống
chính trị vừa chịu tác động lẫn nhau, vừa chịu tác động của môi trường xã hội
trong và ngoài nước để cuối cùng sản phẩm của vận hành của hệ thống chính trị
hình thành các chính sách công. Do đó, đánh giá đổi mới chính trị, đổi mới hệ
thống chính trị , đánh giá tính ưu việt, hợp lý của chính trị và hệ thống chính trị
không chỉ đánh giá đổi mới về tổ chức, thể chế, con người, mà điều đặc biệt
quan trọng là đánh giá sản phẩm đầu ra của cả hệ thống chính trị, đó là chất

hướng hội nhập kinh tế thế giới.
3. Trong đổi mới kinh tế và chính trị phải phát huy dân chủ, tiến hành
từng bước vững chắc.
Nguyên nhân khách quan cần phát huy dân chủ là những đòi hỏi khách
quan của phát triển kinh tế thị trường và hội nhập, bình đẳng cạnh tranh, bình
đẳng kinh doanh, người dân muốn được tự do, dân chủ tham gia vào công việc
nhà nước, vào hoạch định chính sách công, thậm chí nhu cầu dân chủ còn do áp
lực bên ngoài, chứa đựng yếu tố địch lợi dụng. Hiện nay, kinh tế thị trường
nhiều thành phần ở Việt Nam tuy đã phát triển lên một tầm mới nhưng còn non
trẻ, rất yếu, khả năng cạnh tranh thấp, lại thiếu ổn định và còn mang nhiều dấu
ấn tiểu nông nên các quan hệ kinh tế dễ vượt ra ngoài các chuẩn mực pháp luật,
đạo đức. Mặt khác, gắn với quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đã
và đang hình thành nhiều nhóm lợi ích, nhiều lực lượng, với những áp lực cả có
lợi và bất lợi với cường độ cao đối với Chính phủ, với Đảng cầm quyền. Từ đây
đặt ra vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa dân chủ kinh tế với dân chủ chính trị
đặt ra cho nhà nước trong quá trình hình thành chính cách, cần thiết phải tuân
thủ các bước của cơ chế xây dựng chính sách, trong đó phải đặc biệt phát huy
dân chủ phản biện, giám sát của Đảng, của các chuyên gia, của các tổ chức
chính trị- xã hội và báo chí, của công dân đối với các chính sách từ khi soạn
thảo đến tổ chức thực hiện. Những năm qua, không ít chính sách của nhà nước
đáp ứng được điều này nên phản ánh dúng các yêu cầu của thực tiễn khách
quan tạo điều kiện làm xuất hiện những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn trong
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và trong xuất khẩu; nhịp độ tăng trưởng khá
cao trong suốt 10 năm qua. Nhưng cũng không ít các chính sách mang nặng
tính chủ quan của cơ quan, của cá nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status