Luân văn
Đề tài: "Quản lí nhà nước hoạt động bảo
hiểm ở Việt Nam hiện nay"
1
Mục lục
Phần III 27
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm.
27
2. Tiếp tục mở rộng và tăng cường quản lý có hiệu quả đối tượng tham gia hoạt động bảo
hiểm 28
3. Hoàn thiện tổ chưc bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác BH,
công tác quản lý và theo dõi hoạt động BH ở cơ sở 29
4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm
tra và sử lý vi phạm Luật BH 29
2
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và
với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm
ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh
tế. Tăng trưởng và phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài của mọi doanh nghiệp
bảo hiểm đang hoạt động trong nền kinh tế. Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường
phát triển ngày càng mạnh mẽ thì sự cạnh tranh trong ngành bảo hiểm diễn ra cũng
ngày càng gay gắt hơn.
Thực tế hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không
ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Thị
trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa
thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn.
Quản lý Nhà nước là hết sức quan trọng và không thể thiếu được ở bất kì xã
hội nào. Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong
những trường hợp cần thiết, Nhà Nước cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị
trường này. Việc quản lí Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ngày càng trở nên
và đòi hỏi những hàng hoá, dịch vụ đa dạng, phức tạp tạo ra thị trường to lớn cho
việc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp. Trong bất cứ tình hình chế
4
độ xã hội nào, sức mua cho chỉ tiêu ngân sách Nhà nước tạo ra là sức mua lớn nhất
thị trường và là lực lượng tiêu thụ mạnh nhất.
+ Nhà nước là người có tư cách là quyền lực, thực hiện việc kiểm tra kiểm soát
tài chính, kinh doanh, các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có các hoạt động bảo
hiểm. Những việc kinh doanh phạm pháp, những việc bê bối của các doanh nghiệp
bảo hiểm…được Nhà nước xử lý theo pháp luật, đảm bảo cho các doanh nghiệp
hoạt động theo yêu cầu của nền kinh tế và đời sống nhân dân.
Trong bất kỳ xã hội nào, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa như nước ta thì Nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội
trong đó có hoạt động bảo hiểm là một tất yếu khách quan đồng thời đòi hỏi chủ
quan xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta.
2. Bảo hiểm
A. Các khái niệm:
+ Định nghĩa 1
Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít
+ Định nghĩa 2
Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam
đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình
hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xẩy ra rủi ro sẽ nhận được một
khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người
bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các
phương pháp của thống kê
+ Định nghĩa 3
5
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách
kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn
thất cộng đồng và có thể dự tính được
- Trên góc độ tài chính, bảo hiểm kinh doanh là một hoạt động dịch vụ tài chính
nhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra.
- Trên góc độ pháp lý, bảo hiểm kinh doanh thực chất là một bản cam kết mà một
bên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm.
Do đó, bảo hiểm kinh doanh là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các
nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo
hiểm.
+ Bảo hiểm xã hội :
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm
thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình
họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động.
3. Quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm
A. Bảo hiểm xã hội
+ Bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với từng đối tượng, từng loại doanh nghiệp
(cứ doanh nghiệp sử dụng 10 người lao động trở lên) để đảm bảo cho người lao
động được hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp
+ Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước bằng chính sách, pháp luật, chế độ…
7
+ Ban hành hệ thống pháp lệnh làm chuẩn mực pháp lý cho các loại hình bảo
hiểm:
- Quy định điều kiện bắt buộc và thủ tục hành chính cho sự ra đời và hoạt động
của cơ quan bảo hiểm.
- Quy định về chế độ và thủ tục về bảo hiểm và thực hiện bảo hiểm
- Quy định về cơ chế hoạt động của cơ quan bảo hiểm, chẳng hạn quy định mức
dự trữ cần thiết, cơ chế đầu tư phát triển quỹ bảo hiểm
+ Thống nhất quản lý bảo hiểm từ trung ương đến cơ sở thông qua hệ thống lao
động thương binh xã hội. Thống nhất về chế độ, mức chi trả, hình thức, phương
pháp tính toán. Chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta phản ánh bản chất tốt đẹp của
nhà nước xã hội chủ nghĩa
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong hợp đồng bảo hiểm,
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
+ Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa
hồng bảo hiểm;
+ Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu
cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;
+ Tổ chức thông tin và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm;
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
+ Chấp thuận việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt
động ở nước ngoài;
+ Quản lý hoạt động của văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
9
+ Tổ chức việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn, nghiệp
vụ về bảo hiểm;
+ Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp Luật về kinh doanh bảo hiểm
10
Phần II
Thực tế quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam
hiện nay
1 . Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo hiểm hiện nay
Các cơ quan quản lý Nhà nước được phân cấp rõ ràng trong việc thực hiện
chế độ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều 121 Luật
KDBH quy định:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
+ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về
kinh doanh bảo hiểm.
+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theo
quy định của pháp Luật.
về bảo hiểm xã hội; ban hành các văn bản pháp qui về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm
quyền; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
Chính phủ thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội thống nhất để quản lý
quỹ và thực hiện các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo qui định của pháp
luật đối với người lao động
2. Thực trạng ban hành văn bản qui phạm pháp luật về BH.
A. Mặt tích cực:
Việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về hoạt động bảo hiểm đã thể
hiện nhiều điểm tích cực. Nhiều văn bản đã được ban hành để điều chỉnh kịp thời
những vấn đề chưa chính xác, chưa hợp lý; làm căn cứ để các đơn vị, cơ quan,
12
doanh nghiệp bảo hiểm làm căn cứ để hoạt động đúng chuyên môn, đúng chính
sách, cơ chế.
Một trong những nội dung rất được dư luận đồng tình trong Luật Kinh
doanh Bảo hiểm sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua trong năm 2010 là quy định
đưa sản phẩm bảo hiểm ra đấu thầu rộng rãi để tăng tính cạnh tranh, giảm tính độc
quyền trong kinh doanh bảo hiểm. Trước khi Luật Kinh doanh Bảo hiểm sửa đổi
được thông qua, thị trường bảo hiểm tồn tại một khái niệm được giới bảo hiểm gọi
là “bảo hiểm nội ngành”. Đó là những trường hợp các doanh nghiệp nhà nước
thành lập các công ty bảo hiểm. Các công ty này cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong
nội ngành, thiếu cạnh tranh, không bảo đảm tính công khai, minh bạch trên thị
trường về mức phí bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm làm cho thị trường bảo hiểm bị
chia cắt và phát triển thiếu tính cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra còn tình trạng các
doanh nghiệp trực thuộc hợp tác với công ty mẹ, nhằm khép kín dịch vụ bảo hiểm
trong nội ngành. Một số doanh nghiệp bảo hiểm hợp tác với cơ quan quản lý nhà
nước, chủ đầu tư để chỉ định, ép buộc mua bảo hiểm hoặc can thiệp trực tiếp vào
hoạt động kinh doanh bảo hiểm, dẫn đến hiện tượng chia cắt thị trường và tạo ra sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc bổ sung hợp tác xã vào diện các loại hình doanh nghiệp được kinh
doanh bảo hiểm cũng cho thấy sự thay đổi kịp thời trong việc ban hành văn bản
người này vi phạm pháp luật khi bị tai nạn giao thông thì cơ quan bảo hiểm vẫn
phải thanh toán. Trách nhiệm chứng minh này thuộc về cơ quan có thẩm quyền.
Mặt khác theo thông tư 09, để được thanh toán bảo hiểm y tế, người bệnh cần phải
có giấy xác nhận không vi phạm pháp luật về giao thông của cơ quan có thẩm
quyền. Tuy nhiên, thông tư lại không làm rõ "cơ quan có thẩm quyền" là cơ quan
nào, ai là người đưa ra giấy xác nhận này. Cách quy định như vậy dẫn đến sự hiểu
14
nhầm là trách nhiệm này thuộc về "người bệnh", gây phiền hà, bế tắc cho người
hưởng bảo hiểm y tế. Cũng theo Bộ Tư pháp, có nhiều ý kiến cho rằng cơ quan có
thẩm quyền xác nhận là Cảnh sát giao thông. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy,
nếu người bị tai nạn có đến xin giấy xác nhận thì cảnh sát giao thông cũng không
có cơ sở để cấp loại giấy này. Trên thực tế, nhiều trường hợp tai nạn xảy ra nhưng
cơ quan có thẩm quyền không đến kịp, hiện trường bị xáo trộn, người gây tai nạn
trốn, người bị hại không có người làm chứng thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không
thể kết luận nguyên nhân gây ra tai nạn. Như vậy nếu theo thông tư này sẽ có
nhiều trường hợp bị tai nạn giao thông sẽ không được thanh toán bảo hiểm ngay cả
khi họ không có lỗi. Ngoài ra theo quy định tại khoản 2, Điều 114 của Luật Bảo
hiểm xã hội, để được hưởng chế độ khi bị TNGT phải cung cấp bản sao biên bản
của công an giao thông. Nhưng trong thực tế thì rất khó thực hiện vì không phải tất
cả vụ TNGT đều có công an giao thông đến lập biên bản. Do thiếu các biên bản,
có nhiều trường hợp không được hưởng chế độ TNGT.
Cũng liên quan đến BHYT, việc cùng chi trả chi phí trong khám chữa bệnh
BHYT đã gây khó khăn cho một số nhóm đối tượng như người nghèo, người
hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội bị bệnh nặng có chi phí khám chữa bệnh lớn như ung
thư, chạy thận nhân tạo… Luật Bảo hiểm y tế quy định đã vi phạm pháp luật thì
không được chi trả viện phí. Tuy nhiên trên thực tế, số người làm công tác giám
định hiện nay rất ít, không thể giải quyết được tất cả các trường hợp TNGT. Với
quy định như hiện nay, giám định viên cũng không đủ thẩm quyền để đề nghị công
an xác minh các trường hợp TNGT. Như vậy, ngành bảo hiểm sẽ phải gánh thêm
nhiều trách nhiệm.
nhượng hợp đồng bảo hiểm. Mặt khác, hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng
16
bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự lại có sự khác biệt rất
lớn về đối tượng bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm,
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm
Vấn đề quy định về tuổi nghỉ hưu và mức hưởng lương hưu như quy định
của Luật BHXH hiện tại cũng được xem là chưa hợp lý, tuổi nghỉ hưu còn thấp,
nhất là đối với nữ, trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, làm kéo dài thời
gian hưởng lương hưu; quy định về điều kiện giảm tuổi nghỉ hưu, nghỉ hưu trước
tuổi quá rộng nên số người nghỉ hưu trước tuổi ngày càng tăng Những hạn chế
này ảnh hưởng trực tiếp đến việc cân đối thu chi quỹ hưu trí, tử tuất trong tương
lai. Để việc cân đối thu chi quỹ hưu trí, tử tuất đảm bảo lâu dài, BHXH kiến nghị
tăng dần tuổi nghỉ hưu theo hướng cứ 2 năm tăng thêm 1 tuổi, đến khi tuổi của
nam đủ 65 tuổi và tuổi nghỉ hưu của nữ đủ 60 tuổi.
Tình trạng chồng chéo văn bản hướng dẫn Luật cũng là vấn đề hạn chế
trong việc ban hành các văn bản qui định. Ví dụ, ngay sau khi Luật BHXH được
ban hành, Chính phủ và các Bộ, ngành đã tập trung xây dựng một hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật thực hiện các quy định của Luật BHXH bao gồm các nội
dung về hướng dẫn việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH bắt buộc đối với cán
bộ, công chức, người lao động Tuy nhiên, hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện
chưa kịp thời và đồng bộ. Một số nội dung hướng dẫn trong các văn bản còn chưa
rõ ràng. Bên cạnh đó, việc ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung cũng chưa kịp
thời gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Tại Hội thảo tháo gỡ
vướng mắc trong thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT do Bảo hiểm xã hội Việt
Nam tổ chức mới đây, các ý kiến đều cho rằng cần có những chế tài mạnh mẽ hơn,
chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo việc thực thi chính sách.
3. Thực trạng tổ chức quản lý và thực hiện chính sách của nhà nước đối với
hoạt động bảo hiểm hiện nay.
A. Mặt tích cực:
17
Việc tổ chức quản lý việc thực hiện bảo hiểm ở một số nơi còn chưa sát sao.
Sau một năm Luật BHYT đi vào cuộc sống, nhưng đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng
Ninh vẫn còn gần 40.000 trẻ em, chiếm 1/3 tổng số trẻ em dưới 6 tuổi chưa được
cấp thẻ bảo hiểm y tế, gây khó khăn cho cơ sở khám chữa bệnh và ngành Bảo hiểm
trong công tác thống kê, thanh toán chi phí khám bệnh.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước hiện nay chưa có phần mềm thống kê các
báo cáo của các DNBH gửi đến Vụ Bảo hiểm- Bộ Tài chính. Các chuyên viên phải
cập nhật bằng tay từ số liệu báo cáo của DNBH. Hiện đã có 25 DNBH phi nhân
thọ, 10 DNBH nhân thọ, 8 DN môi giới bảo hiểm nên việc tổng hợp các số liệu
của các báo cáo rất phức tạp, tốn thời gian, công sức và dễ dẫn đến sai xót. Từ
thực trạng trên chúng ta thấy, hiện các DNBH đã mở rất nhiều chi nhánh, công ty
thành viên, văn phòng kinh doanh trên toàn quốc song việc không cập nhật được
đầy đủ, kịp thời chính xác các thông tin về kinh doanh bảo hiểm của những đơn vị
này, gây khó khăn cho công tác quản lý DNBH.
4. Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BH; Giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động BH hiện nay.
A. Mặt tích cực:
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm cũng như
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động BH
đã thể hiện nhiều điểm tích cực. Nhiều đợt thanh tra đã phát hiện, ngăn chặn và xử
lý kịp thời những sai phạm. Ví dụ như năm 2010, qua thanh tra, thanh tra Sở Y tế
TP phát hiện Bệnh viện đa khoa tư nhân Phổ Quang (2B Phổ Quang, Q.Tân Bình)
có nhiều sai phạm trong thực hiện hợp đồng với BHXH TP. Cụ thể là nhiều trường
hợp bác sĩ chỉ định thuốc và xét nghiệm không phù hợp với chẩn đoán. Ví dụ
19
thuốc Telfat 180mg (kháng dị ứng) liều thông thường 1 viên/ngày, nhưng bác sĩ kê
toa cho bệnh nhân bị áp xe lạnh sau mổ nhọt với liều 4 viên/ngày. Bệnh nhân được
chẩn đoán hạ canxi nhưng cho làm xét nghiệm cholesterol (mỡ trong máu), HDL
(mỡ tốt trong máu), LDL (mỡ xấu trong máu), HbsAg (viêm gan siêu vi B), AST
(ung thư gan); bệnh nhân rối loạn tiêu hóa cho làm ECG (điện tim); bệnh nhân
sung doanh thu, tăng quỹ dự phòng, điều chỉnh giảm chi phí hoạt động Năm
2011, phấn đấu đạt tổng doanh thu phí BH toàn thị trường đạt 35.290 tỷ đồng, tăng
18,8% so với năm 2010. Đây là mục tiêu khá cao, nhưng với những kết quả mà
nhiều DNBH đã đạt được trong năm qua, mục tiêu này hoàn toàn trong tầm tay.
Ông Trịnh Thanh Hoan, Cục trưởng Cục Quản lý giám sát BH cho biết, để hoàn
thành mục tiêu tổng doanh thu phí BH toàn thị trường đạt 35.290 tỷ đồng, cùng
với nỗ lực của DN, Cục tiếp tục hoàn thiện các chính sách theo hướng phát triển
thị trường BH toàn diện, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và người dân. Các hoạt
động hỗ trợ DNBH, như tổ chức các khóa đào tạo cơ bản về BH, quản trị DN, đầu
tư… sẽ được Bộ Tài chính triển khai trong năm 2011, đáp ứng nhu cầu của các tổ
chức, cá nhân. Cục cũng tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đề xuất Bộ Tài chính cắt
giảm quy trình, hồ sơ của một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực BH, tạo điều
kiện thuận lợi cho thị trường phát triển.
Nghị định 85/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
chứng khoán và TTCK được ban hành thay thế Nghị định 36/2007/NĐ-CP đã
mạnh tay hơn trong việc xử lý CTCK trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp cho nhân viên. Theo đó, từ ngày 20/9/2010, CTCK sẽ bị phạt từ 50 - 70
triệu đồng nếu không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và không trích lập
đầy đủ quỹ bảo vệ NĐT. Với yêu cầu CTCK phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
21
nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty (bồi thường thiệt hại
cho bên thứ 3), công ty bảo hiểm sẽ là nơi chi trả những khoản thiệt hại do sơ sót
của CTCK và nhân viên CTCK gây ra cho khách hàng. Tuy nhiên, đã 4 tháng qua
trôi qua, nhưng theo khảo sát của ĐTCK, đến nay vẫn không có nhiều CTCK tuân
thủ quy định này, cho dù hoạt động của CTCK tiềm ẩn nhiều rủi ro như: nhập lệnh
sai, tư vấn cho khách hàng không chính xác, đưa ra giá bảo lãnh phát hành không
phù hợp dẫn đến đợt phát hành không thành công, không chuyển được lệnh vì
đường truyền trục trặc… Những nghiệp vụ này đều thuộc diện CTCK phải mua
bảo hiểm.
Để nâng cao hiệu quả công tác của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, mới đây
ra. Thế nhưng, trong số 27 DN này lại chỉ có 7 DN có đóng BHXH cho NLĐ. Ông
Cao Văn Sang, Giám đốc BHXH TPHCM, bổ sung: “Theo Sở Kế hoạch - Đầu tư
TPHCM, sở này đã cấp phép cho hơn 120.000 DN. Nhưng kết quả khảo sát thực tế
chỉ có khoảng 80.000 DN hoạt động. Như vậy có hơn 40.000 DN mất tích!?”.
Tuy nhiên, hiện BHXH TPHCM chỉ quản lý được 38.227 DN, tổ chức, đơn vị
đang tham gia BHXH cho 1,61 triệu người. Như vậy, nếu làm phép tính đơn giản,
có đến gần 52.000 DN thực tế hoạt động nhưng không tham gia BHXH và kèm
theo đó là hàng chục, thậm chí hàng trăm ngàn lao động cũng không được hưởng
quyền lợi.
Về vấn đề xử lý sai phạm. Hiện vẫn chưa có chế tài hiệu quả đối với các DN
cố tình chây ì trốn đóng BHXH và chiếm dụng tiền lương tham gia BHXH của
NLĐ. Tại TPHCM, đến cuối năm 2010, có tới 19.139 DN, đơn vị, cơ quan, trong
đó có cả các DN Nhà nước nợ đọng BHXH của trên 687.100 NLĐ. Tổng số nợ
BHXH bắt buộc đến cuối năm 2010 tại TPHCM gần 374 tỉ đồng. Giải pháp cơ
quan BHXH TP cho là hiệu quả nhất là khởi kiện các DN cố tình chây ì, thế nhưng
23
thủ tục hết sức nhiêu khê, phức tạp. Tòa Lao động xử vụ kiện dân sự nhưng trước
đó phải có việc xử phạt hành chính của thanh tra lao động. Thậm chí thanh tra lao
động xử phạt xong, BHXH đi kiện, tòa không nhận và bảo đã có cơ quan chức
năng giải quyết rồi, cứ vậy mà thực hiện, tòa không xử. Một giải pháp khác là trích
trừ tài khoản của DN trả nợ cho BHXH thì DN đối phó bằng cách rút hết tiền trong
tài khoản, thậm chí có DN còn cung cấp cho thanh tra lao động tài khoản “đểu”,
chỉ còn vài ngàn đồng. Chưa hết, khi thanh tra lao động ra quyết định xử phạt, DN
không đóng, thanh tra cũng không có biện pháp cưỡng chế. Đơn cử như trường
hợp Công ty H&M Vina (quận Tân Phú) không ký HĐLĐ, không tham gia BHXH
cho 130 NLĐ suốt 7 năm qua và bị xử phạt 86 triệu đồng nhưng đến nay vẫn
không nộp phạt. BHXH chỉ được phép kiểm tra nhưng không được quyền xử phạt
DN vi phạm. Trong khi đó, các ngành chức năng liên quan thực hiện thanh kiểm
tra DN về thực hiện BHXH còn ít và chưa hiệu quả, quá trình thanh tra còn lồng
ghép trong các cuộc thanh tra về thực hiện pháp luật lao động nên hiệu quả không
không dám nhận.
Một vấn đề nữa về hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra đó là đội ngũ
làm giám định BHYT còn quá ít, chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu. Vì thế mới xảy ra
hiện tượng thời gian dài, việc lập và chuyển danh sách trẻ em dưới 6 tuổi, người
nghèo và cận nghèo để mua thẻ BHYT ở một vài địa phương chưa đủ và kịp thời,
chỉ đạt 70%. Không ít bác sĩ phản ánh, trong khi BHXH không có văn bản hướng
dẫn cụ thể, nhưng lại “ có quyền” vặn người bệnh khi họ không có giấy tờ tùy
thân hay ảnh hợp lệ (chứng minh nhân dân, bằng lái xe ). Nhiều trường hợp, cán
bộ giám định BHXH “ bắt” bệnh nhân về xin xác nhận của BHXH địa phương
trong khi bệnh của họ đang giai đoạn nguy kịch. Điều này đã gây phản ứng gay gắt
của người dân, mà cơ sở y tế lại là nơi phải chịu trận vì những qui định “vô cảm”
25