[Triết Học] Học Thuyết Chủ Nghĩa Karl Marx - Marx Engels tập 16 phần 4 doc - Pdf 20


294 ph.ăng-ghen

Bình luận về tập I bộ "t bản" 295trong 784 trang sách và phàm là ai có mắt để nhìn thì đều thấy
rằng ở đây yêu cầu cách mạng xã hội đợc đặt ra rất rõ ràng. Vấn
đề đợc đặt ra tới đây không phải là thiết lập các hiệp hội công
nhân nằm trong tay t bản nhà nớc nh cố tác giả Lát-xan đã
nói, mà là xoá bỏ t bản nói chung.
Mác trớc sau bao giờ cũng vẫn luôn luôn là nhà cách mạng,
song trong tác phẩm khoa học, ông ít che giấu những quan điểm
đó của mình hơn bất kỳ ai khác. Nhng về vấn đề sau cách mạng
xã hội, sẽ là cái gì thì ông chỉ nói những nét chung nhất. Chúng
ta biết rằng đại công nghiệp "dẫn đến chỗ làm chín muồi những
mâu thuẫn và đối kháng của hình thức t bản chủ nghĩa của quá
trình sản xuất, và do đó đồng thời làm chín muồi cả những nhân
tố để hình thành xã hội mới và những nhân tố làm đảo lộn xã hội
cũ", và tiếp nữa, việc xoá bỏ hình thức t bản chủ nghĩa của sản
xuất "sẽ khôi phục sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu
của thời đại t bản chủ nghĩa: tức là trên cơ sở hợp tác của
những công nhân tự do và sự chiếm hữu chung ruộng đất và
những t liệu sản xuất do chính bản thân lao động sản xuất
ra"
194
.
Chúng ta đã chắc hẳn sẽ thỏa mãn với điểm đó và căn cứ vào
tập sách vừa xuất bản mà xét, chúng ta phải đi đến kết luận rằng
tập II và tập III của bộ sách này mà tác giả đã hứa sẽ cho xuất
bản cũng sẽ chỉ đem lại cho chúng ta ít điều về vấn đề lý thú này.

trong cuốn sách này có gặp phải số phận nh thế nào đi nữa, thì
chúng tôi vẫn cho rằng công lao bất diệt của Mác là ông đã chấm
dứt cái quan niệm hạn chế đó. Với sự ra đời của tác phẩm này,
ngời ta sẽ không còn có thể không có sự phân biệt nào về mặt
kinh tế chẳng hạn giữa lao động của nô lệ, lao động của nông nô
với lao động làm thuê tự do; ngời ta sẽ không còn có thể bệ thẳng
những quy luật có hiệu lực đối với nền đại công nghiệp hiện đại -
có đặc trng là cạnh tranh tự do - vào những quan hệ của thời cổ
đại hoặc vào những phờng hội thời trung cổ hoặc nếu những
quy luật hiện đại đó không thích hợp với những quan hệ trớc
kia, ngời ta cũng sẽ không còn có thể chỉ cứ việc giản đơn tuyên
bố những quan hệ đó là dị đoan. Trong tất cả các dân tộc, ngời
Đức là những ngời có quan niệm lịch sử nhiều hơn cả, và có
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

296 ph.ăng-ghen

297lẽ hầu nh chỉ có một mình họ là có quan niệm lịch sử, vì thế
cũng chính ngời Đức phát hiện ra những quan hệ lịch sử cả
trong lĩnh vực kinh tế chính trị học thì cũng là điều hợp lẽ tự
nhiên.

Do Ph.Ăng-ghen viết khoảng ngày 3 và
ngày 8 tháng Mời một 1867
Đã đăng trên tờ "D


Mê-ghi-rơ chính thức xác nhận điều này, - mang tính chất
không phải là một hành vi t pháp mà là một sự trả thù chính
trị. Song cho dù, bản án của toà bồi thẩm Man-se-xtơ và lời khai
làm bằng cứ cho bản án này không bị chính bản thân Chính phủ
Anh chỉ trích thì hiện nay Chính phủ Anh cũng vẫn phải lựa
chọn giữa thực tiễn đẫm máu của châu Âu cũ và lòng nhân đạo
độ lợng của nớc cộng hoà trẻ tuổi ở bên kia đại dơng
196
.
Chúng tôi yêu cầu giảm nhẹ bản án. Việc giảm nhẹ bản án
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

298 c.mác

299chẳng những là một hành vi công bằng mà còn là một hành vi
sáng suốt về chính trị nữa.
Theo uỷ nhiệm của Tổng Hội đồng Hội liên hiệp công nhân
Quốc tế:
Giôn Oét-xtơn, chủ tịch
R.Sô, bí th phụ trách liên lạc với Mỹ
Ơ-gien Đuy-pông, bí th phụ trách liên lạc với Pháp
Các Mác, bí th phụ trách liên lạc với Đức
Héc-man I-ung, bí th phụ trách liên lạc với Thụy Sĩ
Ph.La-phác-gơ, bí th phụ trách liên lạc với Tây Ban Nha
Gia-bi-xki, bí th phụ trách liên lạc với Ba Lan
Đéc-kin-đe-ren, bí th phụ trách liên lạc với Hà Lan

Báo "Social Demokrat"
ngày 29 tháng Mời một.
Hội nghị toàn thể đoàn viên -
tổng liên đoàn công nhân
Đức
C.Mác. "T bản. Phê phán
khoa kinh tế chính trị".
1867. Chơng: "Ngày lao
động"
Cuộc thảo luận về ngày lao động
Phôn Hốp-stét-ten (chủ báo
"Social Demokrat") nói: 1) "Trong thời đại chúng ta, sức lao động
là hàng hóa Giá mua" (đáng lẽ phải nói:
giá trị) "của một vật phẩm nào đó" (đáng
lẽ phải nói hàng hóa)" là do thời gian lao
động cần thiết để sản xuất ra nó quyết
định. Ngời công nhân phải làm việc trong
một số giờ nhất định để tái sản xuất cái giá
trị mà anh ta đã nhận đợc nhờ bán sức
lao động của mình; đó là phần tất yếu của
ngày lao động nhng hoàn toàn không phải
là bản thân ngày lao động. Để xác định
ngày lao động cần" (vì sao?) "thêm vào đó

1) "Chúng tôi cho rằng sức lao
động đang bị đa ra mua bán theo
giá trị của nó. Giá trị này cũng

chính ngày làm việc
Thật ra, một phần ngày làm việc
của ngời công nhân đợc xác
định bởi thời gian làm việc cần
thiết để tái sản xuất thờng xuyên
chính ngày làm việc, nhng đại
lợng chung của nó biến đổi cùng
với độ dài, hoặc thời gian lao động
thặng d Nh vậy, ngày làm
việc không phải đại lợng tĩnh
mà là một đại lợng động; mặt
khác, dù sao nó cũng chỉ biến đổi
trong những giới hạn nhất định"
(tr.198, 199) [242, 243].
198

2) "Một" (giới hạn), "cụ thể là giới hạn tối
đa dựa trên khả năng thể chất" (làm sao
giới hạn lại có thể dựa vào khả năng
đợc!) "mà nói chung con ngời có thể
làm việc lâu bao nhiêu, vì muốn duy trì sự
sinh tồn của mình, anh ta cũng cần phải
ngủ, nghỉ ngơi, mặc quần áo và chăm lo vệ
sinh. Giới hạn tối thiểu đợc quyết định
bởi các yêu cầu phụ thuộc vào tình trạng
văn hoá nhất định của mỗi thời đại. Độ
dài của ngày lao động và của lao động thặng
2) "Song các giới hạn tối thiểu của
nó (ngày làm việc) không thể xác
định đợc. Thật ra nếu chúng ta

8 giờ một ngày từ ngày này sang
ngày khác. Trong một phần ngày
đêm sức lực cần phải đợc nghỉ
ngơi, ngủ, trong một phần khác
của ngày đêm con ngời phải
thoả mãn những nhu cầu thân
thể khác nh ăn uống, vệ sinh,
mặc quần áo v.v Ngoài các giới
hạn thuần tuý thể chất này, ngày
làm việc còn gặp phải những giới
hạn tinh thần: ngời công nhân
cần phải có thời gian để thỏa mãn
các nhu cầu tinh thần và xã hội
mà khối lợng và số lợng đợc
xác định bởi tình trạng văn hoá
chung Song giống nh những
giới hạn khác (tức là các giới hạn
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

302 c.mác

Những kẻ ăn cắp văn 303thể chất tối đa và tinh thần) các
giới hạn này cũng có tính đàn hồi
và đa lại những khả năng hết sức
to lớn. Ví dụ chúng ta thấy ngày
làm việc 8, 10, 12, 14, 16, 18 giờ"

tôi đã bị giết" (Hay thật! sau khi bị giết
anh ta vẫn cứ phải nói thế!) "Vì vậy" (vì
anh ta nói nh thế!) độ dài của lao động
4) "Nhà t bản thực hiện quyền
mua của mình khi họ cố kéo dài
hết mức ngày làm việc và, nếu có
thể, tạo một ngày thành hai ngày
làm việc. Mặt khác, bản chất đặc
biệt của mặt hàng đợc đem bán
sẽ ớc định giới hạn tiêu dùng của
ngời mua, và ngời công nhân
thực hiện quyền bán của mình khi
họ cố rút ngắn ngày làm việc đến
một mức bình thờng nhất định
Tôi muốn (ngời công nhân nói)
phải đợc xác định vì lợi ích của ngời
công nhân để cho hàng hóa này, tức là sức
lao động, đợc duy trì và đợc sử dụng
càng lâu dài càng tốt. Làm nh vậy ngời
công nhân chỉ đòi thực hiện quyền lợi tất
nhiên của mình" (anh ta vừa mới phàn
nàn là đã bị sử dụng, vậy mà lúc này lại
đòi hỏi đợc ngời ta sử dụng, coi đó là
một quyền lợi tất nhiên!)
bảo vệ tài sản duy nhất của mình
là sức lao động Sử dụng sức lao
động của tôi và biển thủ nó - là
những vấn đề hoàn toàn khác
biệt Anh trả tiền công sức lao
động một ngày của tôi, nhng đòi

thuộc Vơng quốc liên hiệp) đã ấn
định ngày làm việc trung bình
hàng tuần là 10 giờ Có những
nhân viên kiểm soát đặc biệt
chuyên theo dõi việc thi hành luật
pháp, những viên thanh tra công
nghiệp trực thuộc Bộ nội vụ, cứ
nửa năm nghị viện sẽ đăng các
báo cáo của họ (tr.207) [251].
ở một số bang Bắc Mỹ đang
thực hiện rút ngắn ngày làm việc
cho trẻ em (tr.244) [281], rút ngắn
ngày làm việc ở toàn bộ nớc
Pháp (tr.251) [286] cho trẻ em ở
một số tổng của Thụy Sĩ (tr.251)
[286], ở áo (tr.252) [286], ở Bỉ
không có một luật pháp nào nh
vậy (trang vừa dẫn). ở Liên
bang
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

304 c.mác

305
Bắc Mỹ mọi phong trào độc lập
của công nhân đều bị tê liệt trong


Bình luận về tập I
Bộ "t bản" của c.mác
viết cho báo "beobachter"
199các mác. t bản. phê phán
khoa kinh tế chính trị. tập i.
hăm-buốc, mai-xnơ, 1867
1*Dù có thái độ nh thế nào đi nữa đối với khuynh hớng của
cuốn sách này, chúng ta vẫn thấy mình có đủ căn cứ để nói rằng
cuốn sách đó thuộc số những tác phẩm làm vẻ vang cho tinh
thần Đức. Điều đáng chú ý là tác giả tuy là một ngời Phổ nhng
là một ngời Phổ vùng Ranh mà những ngời Phổ vùng Ranh
cách đây không lâu vẫn còn thích gọi mình là "những ngời Phổ
bất đắc dĩ", hơn nữa trong mời năm vừa qua tác giả lại bị trục
xuất, phải sống xa nớc Phổ. Bản thân nớc Phổ từ lâu đã không
còn là một nớc có bất kỳ một sáng kiến khoa học nào, đặc biệt
là một sáng kiến nh vậy trong lĩnh vực lịch sử, chính trị hoặc
xã hội không thể có đợc ở nớc này. Về nớc Phổ, đúng ra, có
thể nói rằng nớc Phổ là đại biểu của tinh thần Nga chứ không
phải của tinh thần Phổ.
_____________________________________________________________________________________________
1* Karl Marx. Das Kapital. Kritik der politischen Oekonomie. Erster Band. Hamburg.
Meissner, 1867.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software

thợng cổ qua suốt thời kỳ trung cổ cho đến tận ngày nay, và
theo chỗ chúng ta biết trong khoa học cha bao giờ có ai khẳng
định nghiêm túc rằng A-đam Xmít và Ri-các-đô đã nói lên kết
luận cuối cùng về sự phát triển tơng lai của xã hội hiện đại.
Trái lại, học thuyết của phái tự do về tiến bộ cũng bao hàm cả
tiến bộ về mặt xã hội và chỉ có những ngời gọi là xã hội chủ
nghĩa thích nghịch biện ngông cuồng mới miêu tả sự việc tựa hồ
nh chỉ có họ mới hoàn toàn chi phối đợc tiến bộ xã hội. Cần
phải thừa nhận rằng công lao của Mác so với những ngời xã hội
chủ nghĩa bình thờng là ông đã chỉ ra rằng ngay cả ở nơi mà sự
phát triển cực kỳ phiến diện của những điều kiện hiện nay đi
liền với những hậu quả trực tiếp khủng khiếp cũng có tiến bộ.
Ta có thể thấy điều đó ở khắp mọi chỗ miêu tả những sự tơng
phản - do toàn bộ chế độ công xởng đẻ ra, - giữa sự giàu có với
sự nghèo khổ v.v Chính nhờ quan niệm có tính chất phê phán
đó đối với vấn đề, tác giả đã đa ra đợc - chắc chắn là trái với ý
muốn của ông, - những luận cứ đanh thép nhất chống lại mọi
chủ nghĩa xã hội quan phơng [Sozialismus von Fach].
Còn đối với những khuynh hớng, những kết luận chủ quan
của tác giả, đối với cái cách tác giả hình dung và trình bày kết
quả cuối cùng của quá trình phát triển xã hội hiện nay thì lại
hoàn toàn khác. Chúng chẳng giống tý nào với cái mà chúng ta
gọi là phần chính diện của cuốn sách. Nếu có chỗ nào đó cho
phép nói về điểm này, thì có lẽ có thể chỉ rõ rằng những ý tởng
chủ quan đó của tác giả bị ngay sự trình bày khách quan của
chính ông bác bỏ.
Nếu toàn bộ chủ nghĩa xã hội của Lát-xan là thóa mạ các nhà
t bản và phỉnh nịnh bọn địa chủ quý tộc Phổ hủ lậu thì ở đây
chúng ta thấy điều hoàn toàn ngợc lại. Ông Mác chỉ ra một cách
rõ ràng tính tất yếu lịch sử của phơng thức sản xuất t bản chủ

Đã đăng trên báo "Der Beobachter" số 303,
ngày 27 tháng Chạp 1867
In theo bản thảo
Nguyên văn là tiếng Đức

Ph.Ăng-ghen

Bình luận về tập I
Bộ "t bản" của c.mác viết cho báo
"gewerbeblatt aus wĩrttemberg"
200các mác. t bản.
phê phán khoa kinh tế chính trị. tập i.
hăm-buốc, mai-xnơ, 1867
1*Nếu chúng ta lu ý đến cuốn sách này thì hoàn toàn không
phải vì khuynh hớng xã hội chủ nghĩa đặc thù mà tác giả công
khai nói rõ ngay trong lời tựa.
Chúng ta lu ý đến nó vì cuốn sách này, không kể là khuynh
hớng của nó nh thế nào, chứa đựng những nghiên cứu khoa
học và tài liệu thực tế, đáng đợc hết sức chú ý. ở đây chúng ta
sẽ không nghiên cứu phơng diện khoa học của cuốn sách vì điều
đó không phải là nhiệm vụ chúng ta đề ra cho bài này, mà chỉ

nay, của tất cả các nớc và do đó cũng quan tâm đến cả những
cái không trực tiếp liên quan đến ngành của họ, sẽ tìm thấy ở
đây một nguồn phong phú và bổ ích và sẽ cảm ơn chúng tôi về
việc chúng tôi đã làm cho họ lu ý đến cái nguồn đó. Đã lâu rồi
cái thời đại mà mỗi ngành kinh tế tồn tại tự nó, biệt lập và bình
yên, giờ đây tất cả các ngành kinh tế đều phụ thuộc lẫn nhau,
phụ thuộc vào tiến bộ trong những nớc xa nhất cũng nh tiến
bộ trong nớc ở ngay sát cạnh, và cũng phụ thuộc vào tình hình
thị trờng thế giới luôn biến động. Và nếu những hiệp ớc mới
của Liên minh thuế quan
201
nhanh chóng dẫn tới chỗ giảm thuế
quan bảo hộ trớc kia nh ta có thể mong đợi thì tất cả các chủ
nhà máy của chúng ta sẽ cần phải tìm hiểu về đại thể lịch sử
công nghiệp hiện đại để biết trớc phải xử sự ra sao khi có
những biến đổi nh vậy. Trình độ học vấn cao hơn từ trớc đến
nay đã luôn luôn cứu ngời Đức chúng ta, mặc dù chúng ta bị
phân tán về chính trị; trong trờng hợp này trình độ học vấn cao
hơn sẽ là vũ khí tốt nhất mà chúng ta có thể dùng để chống lại
những ngời Anh duy vật thô lỗ.
Điều trên đây dẫn chúng ta tới một vấn đề khác. Khi có luật
mới của Liên minh thuế quan thì chắc chắn chẳng bao lâu sẽ đến
lúc mà trong các quốc gia thành viên của liên minh, chính các
chủ nhà máy đòi hỏi phải quy định nh nhau thời gian lao động
trong các nhà máy. Rõ ràng sẽ là bất công nếu chỉ riêng trong
một mình nớc Đức, thời gian lao động, đặc biệt là thời gian lao
động của trẻ em và phụ nữ, hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của
chủ nhà máy trong khi ở nớc khác nó bị hạn chế đáng kể. Vị tất
có thể không cần có hiệp nghị về các quy chế chung trong vấn đề
này, đặc biệt là nếu thuế quan bảo hộ thật sự đợc giảm bớt.

In theo bản thảo
Nguyên văn là tiếng Đức
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

312 ph.ăng-ghen

Bình luận về tập I bộ "t bản" 313

Ph.Ăng-ghen

Bình luận về tập I Bộ "t bản"
của c.mác viết cho báo
"neue badische landeszeitung"
202các mác. t bản.
phê phán khoa kinh tế chính trị. tập i.
hăm-buốc, mai-xnơ, 1867
1*Chúng tôi xin nhờng cho những ngời khác nghiên cứu phơng

cho họ. Những cuộc điều tra của các ủy ban ở nớc Anh, ví dụ,
những cuộc điều tra về điều kiện lao động trong các ngành công
nghiệp riêng biệt thì ngợc lại, ở đây ngời ta chẳng những nghe
ý kiến của các chủ xởng và các đốc công mà còn nghe cả ý kiến
của công nhân, cho đến cả ý kiến của các thiếu nữ ít tuổi, và
ngời ta chẳng những hỏi ý kiến những ngời kể trên mà còn hỏi
ý kiến cả những thầy thuốc, những thẩm phán hoà giải, những
nhà tu hành, những thầy giáo và nói chung tất cả những ngời
có thể cung cấp những thông tin nào đó về một vấn đề nhất định.
Đã vậy, mỗi câu hỏi và mỗi câu trả lời đều đợc ghi tốc ký, đợc
in đúng từng chữ và đợc đính kèm vào toàn bộ tài liệu đợc
dùng làm căn cứ cho báo cáo của uỷ ban trong đó có nêu các kết
luận và các kiến nghị của uỷ ban. Nh vậy, bản báo cáo và các
tài liệu kèm theo báo cáo đồng thời cũng cho ta thấy một cách
hết sức cặn kẽ các thành viên của uỷ ban có hoàn thành nhiệm
vụ của mình hay không và hoàn thành nh thế nào; ngoài ra nó
còn làm cho một số thành viên uỷ ban khó có thái độ thiên lệch
đối với việc này. Ta có thể tìm thấy trong cuốn sách kể trên
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

314 ph.ăng-ghen

Bình luận về tập I bộ "t bản" 315những chi tiết về điều đó cũng nh vô số ví dụ. ở đây, chúng tôi
chỉ muốn nhấn mạnh một điểm thôi, cụ thể là ở Anh đi đôi với việc
mở rộng tự do thơng mại và công nghiệp là việc mở rộng sự hạn
chế do pháp luật ấn định đối với ngày lao động của trẻ em và phụ


Do Ph.Ăng-ghen viết trong nửa đầu tháng
Giêng 1868
Đã đăng trên báo "Neue Badische
Landeszeitung" số 20, ngày 21 tháng Giêng
1868
In theo bản đăng trên báo

Nguyên văn là tiếng Đức
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Bình luận về tập I bộ "t bản" 317 Ph.Ăng-ghen

Khoa kinh tế chính trị từ trớc đến nay vẫn dạy chúng ta
rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải và là thớc đo tất cả
mọi giá trị, thành thử hai vật phẩm mà việc sản xuất đòi hỏi
phải tổn phí một thời gian lao động nh nhau thì cũng đều có
một giá trị nh nhau, và vì nói chung chỉ những giá trị bằng
nhau mới có thể trao đổi với nhau, cho nên những vật phẩm đó
cũng cần phải đợc trao đổi với nhau. Nhng đồng thời khoa kinh
tế chính trị cũng lại dạy rằng có một loại lao động tích luỹ đặc
biệt mà khoa đó gọi là t bản; rằng nhờ những nguồn phụ chứa
đựng trong nó, t bản đó nâng cao năng suất của lao động sống
lên gấp trăm, gấp nghìn lần và vì thế đòi hỏi phải có một sự đền
bù nào đó mà ngời ta gọi là lợi nhuận. Nh tất cả chúng ta đều
biết, trong thực tế, sự việc đã diễn ra nh sau: những lợi nhuận
của lao động đã tích luỹ, lao động chết, thì ngày càng lớn, những
t bản của các nhà t bản ngày càng khổng lồ, trong khi đó tiền công
của lao động sống thì ngày càng nhỏ, và số công nhân chỉ sống
bằng tiền công ngày càng đông đảo hơn và nghèo khổ hơn. Vậy
giải quyết mâu thuẫn đó nh thế nào? nếu công nhân nhận đợc
toàn bộ giá trị lao động mà họ đã bỏ vào sản phẩm của họ, thì lợi
nhuận cho nhà t bản lấy ở đâu ra? Nhng vì chỉ có những giá trị
bằng nhau mới trao đổi đợc với nhau, cho nên ở đây cũng phải
nh vậy. Mặt khác, làm thế nào mà những giá trị bằng nhau lại
có thể đem trao đổi với nhau, làm thế nào mà ngời công nhân
lại có thể nhận đợc toàn bộ giá trị của sản phẩm của mình nếu
- nh nhiều nhà kinh tế chính trị học đã thừa nhận - một khi
sản phẩm đó đợc đem phân chia giữa họ và nhà t bản? Khoa
kinh tế chính trị trớc kia vẫn chịu bó tay trớc mâu thuẫn đó,

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

không thể xuất hiện do chỗ ngời bán đã bán hàng hóa cao hơn
giá trị của nó, hay ngời mua đã mua hàng hóa thấp hơn giá trị
của nó, vì mỗi ngời trong bọn họ đều lần lợt khi thì làm ngời
mua, khi làm ngời bán, và do đó cái mà trong một trờng hợp
họ bị mất đi thì trong trờng hợp khác họ lại đợc lại. Giá trị
thặng d cũng không thể xuất hiện do chỗ những ngời mua và
ngời bán lừa bịp lẫn nhau, bởi vì điều đó sẽ không sản sinh ra
giá trị mới hay giá trị thặng d nào cả, mà chỉ phân phối lại
số t bản hiện có giữa các nhà t bản một cách khác đi thôi.
Mặc dầu nhà t bản mua hàng hóa theo giá trị của chúng và
bán lại hàng hóa theo giá trị của chúng, nhng hắn ta vẫn
rút ra đợc nhiều giá trị hơn là số mà hắn đã bỏ ra. Vậy thì điều
đó diễn ra nh thế nào?
Trong những quan hệ xã hội hiện nay, nhà t bản tìm thấy
trên thị trờng hàng hóa một thứ hàng hóa có cái đặc tính là:
việc tiêu dùng nó là một nguồn sinh ra giá trị mới, là sự sáng tạo
ra một giá trị mới, và hàng hóa đó chính là sức lao động.
Giá trị của sức lao động là gì? Giá trị của mỗi hàng hóa đợc
đo bằng số lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Sức
lao động tồn tại dới hình thức một ngời công nhân đang sống,
ngời công nhân đó cần đến một số lợng t liệu sinh hoạt nhất
định để sinh sống cũng nh để nuôi sống gia đình mình, gia đình
này đảm bảo cho sức lao động tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi
ngời công nhân chết. Vậy số thời gian lao động cần thiết để sản
xuất ra những t liệu sinh hoạt đó đại biểu cho giá trị của sức
lao động. Nhà t bản trả công cho công nhân hàng tuần, và nh
thế là mua cái quyền sử dụng lao động của ngời công nhân trong
một tuần. Cho tới đây, nói chung các ngài kinh tế học sẽ phải
đồng ý với chúng tôi trong vấn đề về giá trị của sức lao động.
Và bây giờ nhà t bản bắt công nhân của hắn ta làm việc.

giả thiết tuỳ tiện, bởi vì ngày nào mà nhà t bản chỉ còn thờng
xuyên nhận đợc của công nhân số lao động ngang với số mà hắn
trả cho công nhân trong tiền công, thì ngày đó hắn tất sẽ đóng
ngay cửa xởng của hắn lại, vì trong trờng hợp đó toàn bộ lợi
nhuận của hắn đều sẽ tan thành mây khói.
Đến đây chúng ta đã giải quyết đợc tất cả những mâu thuẫn
kể trên. Bây giờ nguồn gốc của giá trị thặng d (trong đó lợi
nhuận của nhà t bản chiếm một phần lớn) đã hoàn toàn rõ ràng
và dễ hiểu. Giá trị của sức lao động đợc trả tiền, nhng giá trị
đó thấp hơn rất nhiều so với giá trị mà nhà t bản có thể bòn rút
đợc ở sức lao động, và số chênh lệch đó tức lao động không đợc
trả công, chính đã cấu thành cái phần của nhà t bản hay nói
cho đúng hơn, cấu thành cái phần mà giai cấp các nhà t bản đã
thu đợc. Bởi vì ngay cả số lợi nhuận mà trong thí dụ trên đây
ngời lái buôn bông đã rút ra đợc từ số bông của hắn nếu giá
bông không tăng - nhất định phải gồm lao động không đợc trả
công. Ngời lái buôn đã bán hàng hóa của mình cho một chủ
xởng sản xuất vải, chủ xởng này, ngoài số tiền 100 đồng ta-le
kia, lại còn có thể rút ra đợc cho mình một số lợi nhuận nữa từ
sản phẩm của hắn, và do đó hắn sẽ chia với ngời lái buôn cái
phần lao động không trả công đã chiếm đợc. Chính phần lao
động không đợc trả công đó là cái nói chung nuôi sống tất cả
các thành viên không lao động trong xã hội. Với số lao động
không đợc trả công đó ngời ta đóng các khoản thuế của nhà
nớc và của địa phơng trong chừng mực những thuế đó đánh vào
giai cấp các nhà t bản, nộp địa tô cho bọn địa chủ, v.v Toàn bộ
chế độ xã hội hiện tồn dựa trên lao động không đợc trả công
đó.
Mặt khác, sẽ thật là phi lý nếu giả định rằng lao động không
đợc trả công chỉ xuất hiện trong những điều kiện hiện nay,


322 ph.ăng-ghen

Bình luận về tập I bộ "t bản" 323Chúng ta giả định rằng công nhân làm việc ba ngày trong
tuần lễ để hoàn lại số tiền công của mình và ba ngày để sản xuất
ra giá trị thặng d cho nhà t bản. Nói một cách khác, nh thế
nghĩa là trong một ngày lao động mời hai giờ anh ta làm việc
sáu giờ để tạo ra tiền công và sáu giờ để tạo ra giá trị thặng d.
Trong một tuần lễ ngời ta chỉ có thể rút ra đợc sáu ngày, và
nếu có thêm vào đó cả ngày chủ nhật nữa thì cũng chỉ có bảy
ngày thôi, nhng trong mỗi một ngày, ngời ta có thể rút đợc
sáu, tám, mời, mời hai, mời lăm giờ lao động và thậm chí còn
nhiều hơn thế nữa. Ngời công nhân đã bán cả một ngày lao
động cho nhà t bản để lấy tiền công hàng ngày của mình. Vậy
thế nào là một ngày lao động? Là tám giờ hay mời tám giờ?
Nhà t bản quan tâm đến việc làm cho ngày lao động càng dài
càng tốt. Ngày lao động càng dài thì nó càng tạo ra đợc nhiều
giá trị thặng d. Công nhân đã cảm thấy một cách đúng đắn
rằng mỗi giờ lao động mà anh ta làm ngoài số để hoàn lại tiền
công, đều bị cớp đi ở anh ta một cách không chính đáng; qua
kinh nghiệm của bản thân, anh ta cảm thấy lao động trong một
thời gian quá dài nghĩa là gì. Nhà t bản đấu tranh vì lợi nhuận
của hắn, công nhân đấu tranh vì sức khoẻ của mình, vì vài giờ
nghỉ ngơi hàng ngày của mình, có thể chẳng những lao động, ngủ
và ăn ra, mà còn có thể tự biểu hiện nh là một con ngời cả về
những mặt khác nữa. Nhân tiện cũng xin nhận xét qua rằng
hoàn toàn không phải là tuỳ ở thiện ý của riêng từng nhà t bản

nghiệp, và đồng thời cũng thảo luận cả việc chế định lao động
công xởng. Chúng ta mong rằng sẽ không có một vị đại biểu nào
do công nhân Đức bầu ra, tới tham gia thảo luận đạo luật đó mà
lại không nghiên cứu kỹ trớc quyển sách của Mác. ở đây ngời
ta sẽ có thể thu nhận đợc rất nhiều điều. Sự chia rẽ trong các
giai cấp thống trị ở Đức thuận lợi cho công nhân hơn là những sự
chia rẽ đã xảy ra trớc đây ở Anh, bởi vì quyền đầu phiếu phổ
thông buộc các giai cấp thống trị phải ve vãn công nhân. Trong
những điều kiện đó, bốn hay năm đại biểu của giai cấp vô sản
cũng đã là một lực lợng rồi, nếu nh họ biết lợi dụng địa vị của
mình, nếu nh trớc hết họ biết đây là vấn đề gì, biết cái mà bọn
t sản không biết. Và nhằm mục đích đó, quyển sách của Mác
cung cấp cho họ tất cả mọi tài liệu dới dạng hoàn chỉnh.
Chúng ta sẽ không nói đến cả một loạt những nghiên cứu tuyệt
vời khác, chủ yếu là có ý nghĩa về mặt lý luận, và chúng tôi sẽ
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

324 ph.ăng-ghen

Bình luận về tập I bộ "t bản" 325bàn ngay đến chơng cuối, nói về tích luỹ t bản. Trong chơng
này, trớc hết ta thấy chứng minh rằng phơng thức sản xuất t
bản chủ nghĩa, tức là phơng thức sản xuất đòi hỏi phải có sự
tồn tại một bên là các nhà t bản và bên khác là các công nhân
làm thuê, - phơng thức sản xuất đó không những thờng xuyên
tái sản xuất ra t bản cho nhà t bản, mà đồng thời cũng luôn
luôn sản xuất ra sự nghèo khổ của công nhân; do đó đảm bảo duy

lại là không thể thiếu đợc đối với giai cấp các nhà t bản, nh
ta thấy rõ điều đó qua thí dụ nớc Anh. Trong mọi hoàn cảnh,
đội quân này đợc dùng để đè bẹp sức phản kháng của những
công nhân có việc làm thờng xuyên và để kìm giữ tiền công của
họ mức thấp. "Của cải xã hội càng nhiều , thì nhân khẩu thừa
tơng đối hay đội quân hậu bị công nghiệp càng đông Nhng
đội quân hậu bị đó càng đông so với đội quân lao động tại ngũ
(thờng xuyên có việc làm) thì số nhân khẩu thừa cố định hoặc
những tầng lớp công nhân mà sự nghèo khổ của họ tỷ lệ nghịch
1*

với sự giày vò của lao động của họ lại càng thêm đông đảo. Sau
hết, những tầng lớp cùng khổ trong giai cấp công nhân càng
đông và đội quân hậu bị công nghiệp càng lớn, thì sự bần cùng
chính thức càng lớn. Đó là quy luật tuyệt đối, phổ biến của tích
luỹ t bản chủ nghĩa" (tr.631) [907].
Đó là một vài quy luật trong số những quy luật chủ yếu của
chế độ xã hội t bản chủ nghĩa hiện đại, đợc chứng minh một
cách hết sức khoa học, và các nhà kinh tế học quan phơng thậm
chí cũng tránh không dám mu toan bác bỏ chúng. Nhng nh
thế thì chúng ta đã nói hết cha? Cha đâu. Mác nhấn mạnh
những mặt xấu của nền sản xuất t bản chủ nghĩa một cách gay
gắt nh thế nào thì ông cũng chứng minh một cách rõ ràng nh
thế rằng hình thái xã hội đó là cần thiết để phát triển lực lợng
sản xuất của xã hội tới một trình độ cao đến mức làm cho tất cả
mọi thành viên trong xã hội đều có thể phát triển nh nhau một
cách xứng đáng với con ngời. Tất cả các hình thái xã hội trớc
đây đều quá nghèo nàn để có thể làm đợc điều đó. Chỉ có nền sản
_____________________________________________________________________________________________
1* Trong bản dịch tiếng Pháp tập I bộ "T bản" đã đợc chính Mác duyệt lại, Mác
Ph.Ăng-ghen

Tóm tắt tập i
Bộ "t bản" của c.mác
204
c. mác. t bản. tập i
quyển thứ nhất.
quá trình sản xuất của t bản

Do Ph.Ăng-ghen viết năm 1868

giá trị sử dụng; giá trị này tồn tại trong tất cả các hình thái xã
hội, còn trong xã hội t bản chủ nghĩa thì giá trị sử dụng đồng
thời là cái chứa đựng vật chất của giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi phải có tertium comparationis
1*
để đo nó: đó là
lao động, thực thể xã hội chung của giá trị trao đổi, cụ thể là thời
gian lao động xã hội cần thiết đã đợc vật hoá trong nó.
Giống nh hàng hóa là cái có hai mặt: giá trị sử dụng và giá
trị trao đổi, lao động chứa đựng trong hàng hóa cũng có hai mặt:
một mặt là hoạt động sản xuất nhất định, nh lao động của
ngời thợ dệt, lao động của ngời thợ may v.v., lao động có ích,
và mặt khác là sự tiêu hao thuần tuý sức lao động của con ngời,
là lao động trừu tợng đợc kết tinh. Cái thứ nhất sản xuất ra
giá trị sử dụng, cái thứ hai sản xuất ra giá trị trao đổi và chỉ có
cái thứ hai này mới có thể so sánh đợc về mặt số lợng (những
sự khác nhau giữa lao động lành nghề và lao động không lành
nghề, giữa lao động phức tạp và lao động giản đơn chứng thực
điều đó).
Nh vậy thực thể của giá trị trao đổi là lao động trừu tợng,

_____________________________________________________________________________________________
1* Nghĩa đen: vật thứ ba để so sánh; ở đây có nghĩa là thớc đo.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

330 ph.ăng-ghen

Tóm tắt tập I bộ "t bản" của C.Mác. chơng I 331


một hàng hóa mà đợc đem so với tất cả mọi hàng hóa với tính
cách là hình thức biểu hiện giản đơn của lao động thể hiện trong
bản thân nó. Nhng bằng cách hoán vị đơn giản, hình thức này
sẽ dẫn tới
3) Hình thái thứ hai đảo ngợc của giá trị tơng đối:
y hàng hóa b = x hàng hóa a
v hàng hóa c = " " "
u hàng hóa d = " " "
t hàng hóa e = " " "
v.v., v.v
ở đây hàng hóa có đợc hình thái tơng đối chung của giá trị,
trong đó tất cả hàng hóa đều tách khỏi giá trị sử dụng của mình
và với t cách là hoá thân của lao động trừu tợng, chúng đợc
đánh giá là bằng x hàng hóa a. Hơn nữa x hàng hóa a là hình
thái chủng loại của vật ngang giá đối với tất cả các hàng hóa
khác, nó là vật ngang giá chung của chúng; lao động đã đợc vật
hoá trong nó trực tiếp biểu hiện nh là sự thực hiện của lao động
trừu tợng, nh là lao động nói chung. Còn bây giờ -
4) Mỗi hàng hóa trong loạt kể trên đều có thể đảm nhận vai
trò vật ngang giá chung, nhng trong cùng một lúc thì bao giờ
cũng chỉ có một trong số đó có thể đảm nhận đợc vai trò đó, vì
nếu tất cả các hàng hóa đều là vật ngang giá chung, thì đến lợt
mình, mỗi hàng hóa đều loại số còn lại ra khỏi số vật ngang giá
chung đó. Hình thái thứ ba không phải do x hàng hóa a, mà do
những hàng hóa khác, tạo ra một cách khách quan. Do đó, một
hàng hóa nhất định phải đảm nhận vai trò đó, - sau này hàng
hóa đó có thể thay đổi - và chỉ do nh vậy, hàng hóa mới hoàn
toàn trở thành hàng hóa. Hàng hóa đặc biệt này, cái hàng hóa
mà hình thái vật ngang giá chung gắn liền với hình thái tự
nhiên của nó là tiền tệ.

hàng hóa đều muốn nhận đợc, thông qua trao đổi, những giá trị
sử dụng đặc biệt cần thiết cho anh ta; bởi vậy trao đổi là một quá
trình có tính chất cá nhân. Mặt khác anh ta muốn bán hàng hóa
của mình với t cách là giá trị, nghĩa là thông qua bất kỳ hàng
hóa nào, không kể là hàng hóa của anh ta có là giá trị sử dụng
đối với ngời chủ của hàng hóa khác hay không, bởi vậy trao đổi
đối với anh ta là một quá trình xã hội chung. Nhng cùng một
quá trình không thể vừa là một quá trình có tính chất cá nhân
lại vừa là một quá trình xã hội chung đối với tất cả những
ngời chủ hàng hóa. Đối với mỗi ngời chủ hàng hóa thì hàng
hóa của anh ta là vật ngang giá chung, còn tất cả các hàng hóa
khác là một số lợng nhất định những vật ngang giá đặc thù của
hàng hóa của anh ta. Nhng vì tất cả những ngời chủ hàng
hóa đều giống nhau ở điểm đó, nên không một hàng hóa nào là vật
ngang giá chung cả, và vì vậy không một hàng hóa nào có hình
thái giá trị tơng đối chung trong đó các hàng hóa có thể đồng
nhất với nhau với t cách là giá trị và có thể so sánh đợc với
nhau với t cách là những lợng giá trị. Nh vậy, hàng hóa đối
diện với nhau hoàn toàn không phải với t cách là hàng hóa, mà
chỉ với t cách là những sản phẩm (tr.47).
Hàng hóa chỉ có thể so với nhau với t cách là những giá trị,
và vì vậy, với t cách là những hàng hóa, khi chúng đợc đem
đối lập với một hàng hóa khác nào đó, với t cách là vật ngang
giá chung. Nhng chỉ có hành vi xã hội mới có thể làm cho một
hàng hóa nhất định trở thành vật ngang giá chung - tiền tệ.
Mâu thuẫn nội tại của hàng hóa với t cách là sự thống nhất
trực tiếp giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, với t cách là
sản phẩm của lao động t nhân có ích và với t cách là hoá
thân trực tiếp có tính chất xã hội của lao động trừu tợng của
con ngời - mâu thuẫn đó không chịu nằm im cho tới khi nó

thuật cần phải phát triển hơn nữa thớc đo giá trị thành tiêu
chuẩn giá cả; tức là phải xác định một lợng vàng nhất định để
đo những lợng vàng khác nhau. Điều đó hoàn toàn khác với
thớc đo giá trị, vì bản thân thớc đo giá trị phụ thuộc vào giá
trị của vàng, nhng đối với tiêu chuẩn giá cả thì giá cả của vàng
thế nào cũng không quan trọng (tr.59).
Khi giá cả đợc biểu hiện bằng những tên gọi để tính toán của
vàng thì tiền đợc dùng làm tiền để tính toán.
Nếu giá cả với t cách là chỉ số của lợng giá trị của hàng
hóa, đồng thời cũng là chỉ số của tỉ số trao đổi giữa hàng hóa đó
và tiền, thì cũng không thể từ đó rút ra điều ngợc lại, là chỉ số
của tỉ số trao đổi giữa hàng hóa và tiền nhất thiết phải là chỉ số
của lợng giá trị của hàng hóa. Nếu hoàn cảnh cho phép hoặc
buộc phải bán hàng hóa cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của nó, thì
những giá bán đó không phù hợp với giá trị của hàng hóa, nhng
chúng vẫn đều là giá cả của hàng hóa, bởi vì chúng là: 1) hình
thái giá trị của hàng hóa, là tiền, và 2) là những chỉ số của tỉ số
trao đổi giữa hàng hóa và tiền.
Do đó, khả năng có sự không phù hợp về lợng giữa giá cả
với lợng giá trị đã có ngay trong bản thân hình thức giá cả.
Và điều đó không phải là thiếu sót của hình thức này, - ngợc
lại, chính nét đặc biệt đó lại làm cho hình thức đó thành hình
thức thích hợp của các phơng thức sản xuất mà trong đó quy
tắc chỉ có thể mở đợc đờng đi cho mình xuyên qua sự hỗn độn
với t cách là quy luật của những con số trung bình tác động
một cách mù quáng. Nhng hình thức giá cả cũng có thể che
giấu trong bản thân nó mâu thuẫn về chất, do đó giá cả nói chung
không còn là biểu hiện của giá trị nữa Lơng tâm, danh dự v.v.
cũng có thể có hình thức hàng hóa do giá cả của chúng (tr.61).
Việc đo giá trị bằng tiền, hình thức giá cả, phải có tiền đề là

336 ph.ăng-ghen

Tóm tắt tập I bộ "t bản" của C.Mác. chơng I 337
) Do đó, toàn bộ quá trình là một vòng tuần hoàn mua và
bán. Lu thông hàng hóa. Lu thông hàng hóa hoàn toàn khác
việc trao đổi sản phẩm trực tiếp: một mặt, những giới hạn cá
nhân và địa phơng của việc trao đổi sản phẩm trực tiếp bị phá
vỡ và việc trao đổi chất của lao động của con ngời đợc xúc tiến;
mặt khác, ở đây đã biểu lộ rõ ràng toàn bộ quá trình là do những
quan hệ xã hội quy định, những quan hệ này mang tính chất
những mối quan hệ do tự nhiên sinh ra và không phụ thuộc vào
những ngời đang hoạt động (tr.72). Trao đổi giản đơn thì chỉ
một hành vi trao đổi thôi là chấm dứt, trong hành vi trao đổi này
mỗi ngời đều đổi giá trị không sử dụng lấy giá trị sử dụng,
nhng lu thông thì tiếp diễn vô tận (tr.73).
ở đây, có một giáo điều sai lầm về mặt kinh tế học cho rằng:
dờng nh lu thông hàng hóa nhất định sẽ tạo ra sự cân bằng
giữa mua và bán, vì mỗi hành vi mua đồng thời cũng là hành vi
bán và vice versa
1*
; điều đó có nghĩa là dờng nh mỗi ngời bán
đều kéo theo ngời mua của mình đến thị trờng. 1) Mua và bán,
một mặt, là cùng một hành vi của hai ngời đối lập nhau ở hai
cực, mặt khác, nó là hai hành vi đối lập nhau ở hai cực của cùng
một ngời. Bởi vậy, sự đồng nhất giữa mua và bán giả định rằng
hàng hóa là vô dụng khi nó không bán đợc, cũng nh giả định
rằng trờng hợp đó có thể xảy ra. 2) H-T, ớc tính là một quá

Tổng số giá cả hàng hóa
nhất định thì

Số vòng quay của đơn vị tiền tệ

= Khối lợng tiền hoạt

động với t cách là phơng tiện lu thông (tr.80).
Bởi vậy, tiền giấy có thể loại đợc tiền vàng nếu ném chúng
vào lu thông đã bão hoà.
Vì lu thông của tiền tệ chỉ thể hiện quá trình lu thông hàng
hóa, cho nên tiền lu thông nhanh thì thể hiện của hàng hóa và
tiền chuyển hóan hình thức nhanh, còn lu thông tiền tệ ngng
đọng thì thể hiện sự tách rời mua ra khỏi bán, là sự đình trệ
trong việc trao đổi vật của xã hội. Tất nhiên qua bản thân lu
thông thì không thể nhận thấy do đâu mà có sự đình trệ ấy. Lu
thông chỉ biểu lộ bản thân sự có mặt của hiện tợng đó. Ngời
Phi-li-xtanh giải thích điều đó là do không đủ số lợng phơng
tiện lu thông (tr.81).
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

338 ph.ăng-ghen

Tóm tắt tập I bộ "t bản" của C.Mác. chơng I 339Do vậy: 1) Khi giá cả hàng hóa không thay đổi thì khối lợng
tiền lu thông tăng, nếu khối lợng hàng hóa lu thông tăng
hoặc nếu lu thông tiền tệ bị chậm lại, và vice versa khối lợng

dụng). Trong chừng mực những tiền giấy do thực sự lu thông
thay cho tiền vàng, thì chúng phải phục tùng những quy luật của
lu thông vàng. Chỉ có cái tỷ lệ tiền giấy thay thế vàng mới chịu
sự chi phối của quy luật đặc biệt sau đây: việc phát hành tiền
giấy phải đợc giới hạn bằng số lợng vàng lu thông thật sự do
tiền giấy làm đại diện. Thật ra, mức bão hoà trong lĩnh vực lu
thông thờng dao động, nhng ở mọi nơi qua kinh nghiệm ngời
ta đều xác định đợc mức tối thiểu mà lu thông không bao giờ
tụt xuống dới nó. Mức tối thiểu đó có thể phát hành đợc. Nếu
phát hành nhiều hơn mức đó thì khi mức bão hoà tụt xuống đến
mức tối thiểu, một phần tiền giấy sẽ trở thành thừa ngay lập tức.
Trong trờng hợp nh vậy tổng số tiền giấy trong phạm vi của thế
giới hàng hóa chỉ đại biểu cho số lợng vàng do những quy luật
nội tại của thế giới hàng hóa quyết định, do đó, tiền giấy chỉ đại
diện cho số lợng vàng có thể lấy tiền giấy để đại diện.
Bởi vậy, nếu khối lợng tiền giấy vợt gấp đôi khối lợng
vàng có thể hấp thu đợc, thì mỗi đơn vị tiền giấy sẽ mất giá đi
một nửa giá trị danh nghĩa của nó. Y nh là vàng đã có sự thay
đổi giá trị của nó trong chức năng thớc đo giá cả của nó (tr.89).

c. tiền
a) Việc tích trữ tiền
Ngay từ những mầm mống đầu tiên của sự phát triển của nó,
lu thông hàng hóa đã đẻ ra sự cần thiết và lòng khát khao giữ
lấy kết quả của H-T, tức là T; từ một khâu trung gian giản đơn
trong sự trao đổi vật chất, sự thay đổi hình thức đó trở thành
một mục đích tự nó. Tiền bị đọng đứng lại ở dạng tiền tích trữ,
ngời bán hàng hóa trở thành ngời tích trữ tiền (tr.91).
Hình thức đó chiếm u thế chính trong những giai đoạn đầu
của lu thông hàng hóa. Châu á. Cùng với sự phát triển hơn nữa

cho tiền đang lu thông trong tình hình mức bão hoà của lĩnh
vực lu thông thờng xuyên dao động (tr.95).
b) Phơng tiện thanh toán
Cùng với sự phát triển của lu thông hàng hóa, đã nảy sinh
những quan hệ mới: việc chuyển nhợng hàng hóa có thể tách rời
với việc thực hiện giá cả của hàng hóa về mặt thời gian. Những
hàng hóa khác nhau đòi hỏi phải có những thời gian khác nhau
để sản xuất ra chúng, chúng đợc chế tạo ra trong những thời
gian khác nhau trong năm, một vài loại hàng hóa lại phải
chuyển đến các thị trờng xa xôi v.v Bởi vậy A có thể là ngời
bán trớc khi B, ngời mua, có khả năng thanh toán. Thực tiễn sẽ
điều tiết những điều kiện thanh toán nh sau: A trở thành chủ
_____________________________________________________________________________________________
1*- thần kinh của các vật.
2*- dới dạng vật phẩm bằng vàng và bạc.
nợ, B trở thành con nợ, còn tiền thì trở thành phơng tiện thanh
toán. Bởi vậy, quan hệ giữa chủ nợ và con nợ trở thành càng có
tính chất đối kháng hơn (quan hệ giữa chủ nợ và con nợ có thể
xuất hiện không phụ thuộc vào lu thông hàng hóa, ví dụ nh
trong thế giới cổ đại và trong thời trung cổ) (tr.97).
Trong mối quan hệ đó tiền làm chức năng: 1) là thớc đo giá
trị khi xác định giá cả của hàng hóa bán ra, 2) là phơng tiện
mua trên ý niệm. Khi tích trữ tiền, T bị rút khỏi lu thông, còn ở
đây với t cách là phơng tiện thanh toán T đi vào lu thông,
nhng chỉ sau khi H đã ra khỏi lu thông. Ngời mua là con nợ
phải bán để có khả năng trả, nếu không tài sản của anh ta sẽ
phải bán đấu giá. Nh vậy, bây giờ do tất yếu xã hội bắt nguồn
từ những quan hệ của bản thân quá trình lu thông, T đã trở
thành mục đích tự nó của việc bán (tr.97-98).
Sự không trùng khớp về mặt thời gian giữa mua và bán đẻ ra


nơi nào mà một chuỗi những khoản thanh toán nối tiếp nhau và
hệ thống trang trải lẫn nhau nhân tạo đã phát triển đầy đủ. Khi
có những rối loạn phổ biến trong vận trình của cơ chế đó, dù là
những rối loạn đó phát sinh từ đâu, thì tiền đột nhiên và trực tiếp
trút bỏ hình thức là tiền kế toán thuần tuý trên ý niệm, biến
thành tiền kim loại và bây giờ thì tiền đã không thể thay thế đợc
bằng một hàng hóa thông thờng nữa (tr.99).
Tiền tín dụng nảy sinh từ chức năng của tiền là phơng tiện
thanh toán; bản thân những văn tự nợ cũng lu thông khi chúng
chuyển nợ từ ngời này sang ngời khác. Với sự phát triển của
tín dụng thì chức năng của tiền là phơng tiện thanh toán cũng
đợc mở rộng; với t cách là phơng tiện thanh toán, tiền có
đợc những hình thức tồn tại riêng của nó, chính là dới những
hình thức tồn tại này tiền tìm đợc vị trí cho mình trong lĩnh
vực giao dịch buôn bán lớn, trong khi đó thì tiền đúc bị đẩy chủ
yếu là vào lĩnh vực buôn bán nhỏ (tr.101).
Trong điều kiện nhất định, khi sản xuất hàng hóa đã phát
triển và đã đạt đợc quy mô đủ rộng, chức năng của tiền làm
phơng tiện thanh toán vợt ra ngoài giới hạn của lĩnh vực lu
thông hàng hóa. Tiền trở thành hàng hóa chung của các khế ớc.
Tô, thuế v.v. đợc chuyển từ chỗ nộp bằng hiện vật sang thanh toán
bằng tiền. Tham khảo nớc Pháp dới thời Lu-i XIV (Boa-ghin-
be và Vô-băng). ở châu á, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật v.v., thì trái lại
(tr.102).
Sự phát triển của tiền thành phơng tiện thanh toán đẻ ra sự
cần thiết phải tích luỹ tiền trớc các kỳ hạn thanh toán. Việc
tích trữ tiền với t cách là hình thức làm giàu độc lập biến mất
theo đà phát triển hơn nữa của xã hội, lại xuất hiện với t cách
là quỹ dự trữ các phơng tiện thanh toán (tr.103).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status