SÀNG LỌC VÀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH Ở 3
THÁNG GIỮA THAI KỲ TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Sử dụng các giá trị trung vị của bộ ba xét nghiệm
sàng lọc được xác lập từ bộ thuốc thử T21 Gamma (Bỉ) bằng kỹ thuật ELISA trên
máy bán tự động để tính nguy cơ cho tất cả thai phụ tham gia làm xét nghiệm sàng
lọc nhằm phát hiện các trường hợp có nguy cơ cao mang thai bị hội chứng Down,
hội chứng Edward và dị tật ống thần kinh.
Phương pháp nghiên cứu:Tiền cứu, cắt dọc.
Kết quả: 2435 mẫu huyết thanh của tất cả thai phụ tình nguyện được xử lý
dựa trên các giá trị trung vị vừa được xác lập để tính nguy cơ mang thai bị dị tật
cho mỗi thai phụ. Kết quả cho thấy tỉ lệ sàng lọc dương tính của trisomy 21 ở
nhóm thai phụ <35 tuổi là 5% (với ngưỡng ³1:250) và 6,8% (với ngưỡng ³1:350),
nhưng ở nhóm thai phụ ³35 tuổi là 26% (với ngưỡng ³1:250) và 33% (với ngưỡng
³1:350). Số trường hợp bất thường nhiễm sắc thể được phát hiện ở 216 thai phụ
tham gia chọc hút dịch ối để phân tích nhiễm sắc thể đồ (karyotype) là 22, trong
đó có 12 trường hợp bị trisomy 21, 7 trường hợp trisomy 18, 1 trường hợp Turner
45X, 1 trường hợp Klinefelter 47 XXY và 1 trường hợp tam bội 69XXX. Xét
nghiệm sàng lọc phát hiện được 10 trường hợp trisomy 21(83,3%), 5 trường hợp
Trisomy 18 (71,4%), ngoài ra trong 11 dị tật ống thần kinh gồm 4 trường hợp vô
sọ, 5 não úng thủy và 2 hở thành bụng thì xét nghiệm sàng lọc phát hiện được 7
trường hợp (63,6%).
Thảo luận và kết luận: Bộ ba xét nghiệm sàng lọc trước sinh ở 3 tháng
giữa thai kỳ là một công cụ hữu ích phục vụ chương trình sàng lọc trước sinh cho
các thai phụ nhằm phát hiện thai phụ mang thai bị trisomy 21, tuy nhiên việc sử
dụng bộ ba xét nghiệm này để sàng lọc các bất thường nhiễm sắc thể khác
trisomy 18, trisomy 13 thì cần phải nghiên cứu với số lượng lớn hơn để có kết
luận phù hợp. Nghiên cứu này được phối hợp thực hiện giữa đại học Y Dược, Tp
Hồ Chí Minh và bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Tp Hồ Chí Minh.
xét nghiệm triple test (AFP, hCG tự do, uE3) làm xét nghiệm sàng lọc. Sau khi xác
định được các giá trị trung vị của các thông số của bộ ba xét nghiệm sàng lọc trong
dân số thai phụ bình thường ở 3 tháng giữa của thai kì, chúng tôi áp dụng các giá trị
này trong việc tính nguy cơ mang thai bị hội chứng Down, hội chứng Edward, dị tật
ống thần kinh cho mọi thai phụ tham gia sàng lọc ở 3 tháng giữa của thai kì và kiểm
chứng lại tỉ lệ phát hiện và tỉ lệ dương tính giả của bộ kit sàng lọc.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Xác định nguy cơ cho mỗi thai phụ tham gia sàng lọc trước sinh
Mẫu bệnh phẩm: Huyết thanh của tất cả các thai phụ có tuần tuổi thai từ 14-
21 tuần tình nguyện tham gia sàng lọc trước sinh
Thuốc thử: T21 kit - Gamma (Bỉ)
Phần mềm tính nguy cơ
Phần mềm T21 Gamma -Bỉ
Phương pháp
Phương pháp thu mẫu
Lấy khoảng 2ml máu tĩnh mạch của thai phụ. Cho mẫu máu vào tube để
tách huyết thanh (thời gian từ khi lấy máu đến khi tách huyết thanh không quá 4
giờ). Lưu mẫu trong tube 1,5ml và trữ ở -30
o
C.
Nghiên cứu tiền cứu, sau khi xác định nguy cơ cho mỗi thai phụ thì những
thai phụ có nguy cơ cao (như tuổi mẹ từ 35 tuổi trở lên, có bệnh sử gia đình về
tình trạng chuyển đoạn nhiễm sắc thể, có tiền căn sinh con dị tật bẩm sinh, có
những dấu hiệu bất thường được ghi nhận qua siêu âm hay có kết quả xét nghiệm
sàng lọc ≥1/350) đều được tư vấn cho thực hiện xét nghiệm chẩn đoán là chọc hút
dịch ối dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Sau đó, dịch ối được phân tích nhiễm sắc
thể đồ qua nuôi cấy tế bào ối hay làm FISH tùy thuộc tuổi thai lớn hay điều kiện
của thai phụ.
(33%)
T
ổng
cộng
2435
277
(11,4%)
359
(14,7%)
Trong 2435 trường hợp, tuổi thai từ tuần thứ 16 cho đến 18 tuần +6 ngày
chiếm 43,4% (1057/2435).
2. Số thai phụ nhớ ngày đầu kỳ kinh cuối là 2050 trường hợp, trong đó sự
phù hợp về tuổi thai theo ngày đầu kì kinh cuối và theo siêu âm là 1453 (71%) khi
mà chênh lệch tuổi thai <1 tuần, còn nếu chênh lệch tuổi thai giữa siêu âm và cách
tính tuổi thai theo ngày đầu kì kinh cuối ³1 tuần được coi là không phù hợp (29%).
Cân nặng của thai phụ trải từ 35kg đến 81kg, trong đó số thai phụ có cân
nặng từ 40 đến 60 chiếm ưu thế là 85% (2073/2435).
Số thai phụ có nguy cơ cao với xét nghiệm sàng lọc (>=1:350) được tư vấn
di truyền và tham gia chọc hút dịch ối là 226 trường hợp (63%=216/359).
Bảng 2: Tỉ lệ phát hiện hội chứng Down và các bất thường nhiễm sắc thể
khác
Tỉ lệ phát hiện (%)
Bất thư
ờng nhiễm sắc
thể
S NT
D
Ngưỡ
ng nguy cơ
65
%
8
72,7
%
³1:350
11,3
%
10
83,3
%
5
71,4
%
0
15
75
%
8
72,7
%
Bảng 3: Mối liên hệ giữa tuổi mẹ và thai bị dị tật
Tu
ổi mẹ
Dow
n
có nhiều nước chưa thực hiện được. Viêt nam cũng đã bước đầu áp dụng chương
trình sàng lọc ở một số trung tâm sản khoa lớn với hy vọng sau thời gian thử
nghiệm sẽ là cơ hội cho mọi thai phụ được thực hiện xét nghiệm sàng lọc. Mặc dù
xét nghiệm sàng lọc có những hạn chế nhất định như tỉ lệ phát hiện dị tật của từng
nhóm xét nghiệm thay đổi tùy theo sự phức tạp và chi phí giá thành của nhóm xét
nghiệm đó [3], có một tỉ lệ dương tính giả nhất định, nếu thai phụ có xét nghiệm
sàng lọc dương tính thì lo lắng nhưng đứng về mặt xã hội cũng như gia đình thì
xét nghiệm sàng lọc mang lại lợi ích lớn lao, vì đó là các xét nghiệm đơn giản dễ
thực hiện với một số đông dân số, ít xâm hại tới thai nhi, xét nghiệm sàng lọc phát
hiện được các thai phụ có nguy cơ cao do sự thay đổi của các thông số sinh hóa
trong máu mẹ và tư vấn cho các thai phụ này thực hiện xét nghiệm chẩn đoán di
truyền, như vậy xét nghiệm sàng lọc đã làm giảm số thai phụ cần làm thủ thuật
chẩn đoán, làm giảm số thai nhi bị tai biến do làm thủ thuật, đồng thời nhờ xét
nghiệm sàng lọc mà tỉ lệ phát hiện thai nhi bị dị tật cao hơn so với chỉ dựa vào tuổi
thai phụ [4,5]. Từ 1984-1989, khi chưa thực hiện xét nghiệm sàng lọc rộng rãi, ở
các vùng phía Nam, Vương quốc Bỉ, tỉ lệ trẻ bị hội chứng Down lúc sinh là 1/794,
nhưng tới những năm 1993-1998, do nhờ có xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán
trước sinh mà tỉ lệ trẻ bị hội chứng Down sinh ra là 1/1606. Tỉ lệ giảm đáng kể này
là do áp dụng xét nghiệm “triple test” trên một qui mô rộng lớn cho mọi thai phụ
và chọn lựa ngưng thai kỳ cho các thai phụ mang thai bị hội chứng Down [24].
Điều đó chứng tỏ xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán một số dị tật bẩm sinh là điều
không thể thiếu vì nó mang lại lợi ích cho xã hội, cho chính bản thân gia đình của
trẻ bị dị tật, nhằm cải thiện chất lượng dân số đặc biệt ở các nước đông dân.
Với sự hợp tác từ 12/2004 cho tới 12/2005 của Đại học Y Dược và Bệnh
viện Từ Dũ, 2435 thai phụ đã được tiến hành xét nghiệm sàng lọc bằng bộ ba xét
nghiệm sàng lọc ở 3 tháng giữa thai kỳ. Trong đó có 1707 thai phụ < 35 tuổi và
728 thai phụ có độ tuổi ³ 35 tuổi. Tỉ lệ thai phụ ³ 35 tuổi chiếm 30%, trong khi đó
tuổi sinh sản trung bình theo nghiên cứu này là 27,96. Tuổi sinh sản này có thể cao
hơn so với thực tế vì khi tiến hành tính các giá trị trung vị cho các thông số sinh
hóa máu mẹ, chúng tôi mới chỉ tập trung được ở 4 tỉnh thành là TP HCM, Bình
phụ thuộc loại nguy cơ thấp nhưng muốn làm chẩn đoán để kiểm tra.
Do xét nghiệm sàng lọc đang ở giai đoạn đầu, thai phụ chưa được hiểu biết
nhiều và một số lý do khác mà số làm chẩn đoán chỉ đạt 1/3. Những thai phụ có nguy
cơ cao không làm chẩn đoán, trẻ sinh ra chỉ được theo dõi trên kiểu hình chứ không
được phân tích nhiễm sắc thể đồ máu cuống rốn để khẳng định vì lý do tài chính hạn
hẹp của đề tài.
Trong số thai phụ thực hiện xét nghiệm chẩn đoán, có 22 trường hợp rối loạn
nhiễm sắc thể và 11 trường hợp dị tật ống thần kinh. Trong 22 trường hợp rối loạn
nhiễm sắc thể có 12 hội chứng Down, 7 hội chứng Edward, 1 Turner, 1 Kleifeter và
1 ca 69XXX. Trong 12 trường hợp trisomy 21, có 8 trường hợp (66,7%) được phát
hiện khi dùng ngưỡng chọn là ³1:250 và nếu chọn ngưỡng là ³1:350 thì có 10 trường
hợp (83,3%) (bảng 2) trisomy 21 được phát hiện. Kết quả này rất đáng khích lệ việc
thực hiện sàng lọc trong dân số có xét nghiệm sàng lọc dương tính, đặc biệt với
trisomy 21.
Ngoài 12 trường hợp Down, thì xét nghiệm sàng lọc nhận diện 5/7 (71,4%)
trường hợp Trisomy18 (hội chứng Edward) (bảng 2). Như vậy tính tổng thể, trong
nhóm rối loạn nhiễm sắc thể được khẳng định bằng chẩn đoán (20 trường hợp),
nếu lấy ngưỡng nguy cơ ³1:250 thì sẽ phát hiện được 65% (13/20) trường hợp bất
thường nhiễm sắc thể với tỉ lệ dương tính giả 11,1%. Còn nếu lấy ngưỡng nguy cơ
³1:350 thì sẽ phát hiện được 75% (15/20) bất thường nhiễm sắc thể với tỉ lệ dương
tính giả 11,3%. Vì phần mềm tính nguy cơ T21 chỉ xét 2 mức độ ngưỡng nguy cơ
cho Trisomy 21 là 1:250 và từ 1:250 tới 1:350, còn các bất thường nhiễm sắc thể
khác chỉ có một ngưỡng nguy cơ là 1:250, nên số trường hợp bất thường nhiễm
sắc thể khác ngoài Down không thay đổi (bảng 2). Đối với dị tật ống thần kinh, xét
nghiệm sàng lọc nhận diện được 8/11 trường hợp. Kết quả chẩn đoán cuối cùng
của dị tật ống thần kinh không dựa vào làm các xét nghiệm AFP và cholinesterase
dịch ối (chưa có điều kiện) mà chủ yếu dựa vào siêu âm để bác sĩ sản khoa tư vấn
cho thai phụ.
Bộ ba xét nghiệm sàng lọc mà chúng tôi đang áp dụng có giá trị trong việc
sàng lọc trisomy 21, còn đối với các bất thường nhiễm sắc thể khác như trisomy
lọc trước sinh, giúp phát hiện những thai phụ có nguy cơ mang thai dị tật (hội
chứng Down, hội chứng Edward, và các khuyết tật ống thần kinh). Thời gian thực
hiện sàng lọc trước sinh có thể thực hiện ở 3 tháng giữa thai kỳ (từ tuần 15 đến
tuần 21) ; nhưng tốt nhất nên tiến hành vào tuần thứ 16 – 18.
2. Để có thể tính toán chính xác về nguy cơ mang thai dị tật, cần chú ý các
yếu tố tuổi thai, tuổi mẹ, cân nặng của mẹ, kết hợp cùng với các giá trị của các chỉ
số sinh hóa (AFP, hCG, uE3). Để đánh giá nguy cơ mang thai T21, T18, NTD, ta
có thể sử dụng phần mềm T21Soft.
3. Việc thực hiện chẩn đoán trước sinh sau sàng lọc cho thấy khả năng phát
hiện các trường hợp nguy cơ bằng kỹ thuật triple test có thể đạt mức 70 – 80%.
Việc nhiều trường hợp hội chứng Down, hội chứng Edward, khuyết tật ống thần
kinh đã được phát hiện cho thấy việc sàng lọc và chẩn đoán trước sinh là rất cần
thiết và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả to lớn.
KIẾN NGHỊ
1. Cần thực hiện việc sàng lọc trước sinh một cách rộng rãi, có thể cho tất
cả các thai phụ, chứ không chỉ khu trú trong nhóm có nguy cơ (tuổi mẹ lớn, có tiền
sử sinh con dị dạng, v.v.). Mặc dù tỷ lệ sinh con dị dạng trong nhóm nguy cơ cao,
nhưng tổng số ca dị dạng trong quần thể thai phụ nói chung là rất lớn, đặc biệt là
loại dị dạng khuyết tật ống thần kinh.
2. Để thuận lợi cho việc sàng lọc trước sinh ở vùng xa, cần một nghiên cứu
chuẩn hóa kỹ thuật sàng lọc qua máu khô.
3. Để việc sàng lọc có hiệu quả cao, cần phải tiến hành công tác tuyên
truyền giáo dục sức khỏe để người dân hiểu lợi ích của hoạt động này. Đồng thời
sàng lọc trước sinh phải kết hợp với tư vấn, chẩn đoán, kể cả kết hợp với chương
trình sử dụng acid folic.
4.Về phía Bộ Y tế, cần nhanh chóng xây dựng một chiến lược sàng lọc và
chẩn đoán trước sinh, tạo lập một chương trình mục tiêu nhằm nhanh chóng triển
khai rộng rãi trong cộng đồng.