XÁC LẬP CÁC GIÁ TRỊ TRUNG VỊ CHO BỘ BA XÉT NGHIỆM
SÀNG LỌC TRƯỚC SINH
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Xét nghiệm sàng lọc trước sinh ngày càng được áp dụng rộng
rãi ở nhiều nước trên thế giới giúp nhận diện các thai phụ có nguy cơ sinh con bị
một số dị tật bẩm sinh.
Mục tiêu nghiên cứu: nhằm xác định các giá trị trung vị (median) của bộ
ba xét nghiệm sàng lọc ở 3 tháng giữa thai kì gồm AFP, beta hCG tự do và uE3
cho mỗi tuần tuổi thai của thai phụ để phục vụ cho việc sàng lọc trước sinh. Các
giá trị trung vị được sử dụng để tính nguy cơ cho mỗi thai phụ tham gia làm xét
nghiệm sàng lọc nhằm phát hiện các thai phụ có nguy cơ cao mang thai bị hội
chứng Down, hội chứng Edward và dị tật ống thần kinh.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, cắt ngang.
Kết quả: 1448 mẫu huyết thanh được thu thập từ 1448 thai phụ với các tiêu
chuẩn chọn lọc như có cân nặng từ 40 đến 60 kg, mang đơn thai có tuần tuổi từ 14
đến 21. Các thai phụ bị loại trừ nếu bị bệnh tiểu đường phụ thuộc Insulin, hút
thuốc lá, có tiền sử xảy thai liên tiếp ³ hai lần hoặc có thai/con trước mắc hội
chứng Down, Edward hay dị tật ống thần kinh. Các mẫu huyết thanh thu thập sẽ
được thực hiện đo nồng độ của AFP, beta hCG tự do và uE3 bằng phương pháp
ELISA (kit T21 Gamma-Bỉ) và xác định các giá trị trung vị bằng phần mềm
STATISTICA. Các giá trị trung vị của 3 thông số AFP, beta hCG tự do và uE3
trong huyết thanh thai phụ theo tuần tuổi thai đã được xác lập và cài đặt vào phần
mềm tính nguy cơ T21 Gamma- Bỉ.
Thảo luận và kết luận: Sau khi xác lập được các giá trị trung vị của 3
thông số AFP, beta hCG tự do và uE3 trong huyết thanh thai phụ theo tuần tuổi
thai ở 3 tháng giữa thai kỳ, chúng tôi phải tiến hành ứng dụng các giá trị trung vị
của bộ ba xét nghiệm sàng lọc này trên mọi thai phụ có tuần tuổi thai từ 15 đến 21
tình nguyên tham gia vào chương trình sàng lọc kết hợp với thực hiện xét nghiệm
chẩn đoán để có thể tìm được tỉ lệ phát hiện dị tật cũng như là tỉ lệ dương tính giả
thực sự của bộ kit này để từ đó có thể có kết luận chính xác về bộ kit làm sàng lọc.
như kinh nghiệm trong siêu âm hay xét nghiệm sàng lọc [2,3]. Ở các nước đang phát
triển như Việt nam, lại ở bước đầu nghiên cứu áp dụng xét nghiệm sàng lọc trước
sinh trong việc phát hiện thai phụ có nguy cơ cao mang thai bị dị tật bẩm sinh, tốt
nhất chúng ta nên sử dụng bộ ba xét nghiệm sàng lọc để tích lũy kinh nghiệm và học
hỏi các kỹ thuật mới để sau một thời gian ngắn chúng ta có thể áp dụng được các
chương trình sàng lọc tiên tiến. Chính vì vậy, mục tiêu của chúng tôi là xác định các
giá trị trung vị của các thông số bộ ba xét nghiệm sàng lọc ở dân số thai phụ bình
thường trong 3 tháng giữa của thai kì, nhằm phục vụ sàng lọc trước sinh cho mọi thai
phụ tham gia để tìm ra đối tượng có nguy cơ cao sinh con bị hội chứng Down, hội
chứng Edward, hay dị tật ống thần kinh
[1]
.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Tính giá trị trung vị của AFP, beta hCG tự do và uE3
Mẫu bệnh phẩm
Huyết thanh: 1448 mẫu cho các tuần thai từ 14-21 tuần.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Phụ nữ có thai từ tuần tuổi 14 đến tuần 21
Trong độ tuổi mang thai.
Mang một thai.
Cân nặng 40-60 kg.
Tiêu chuẩn loại trừ
Thực hiện IVF thụ tinh trong ống nghiệm
Hút thuốc lá.
Bị tiểu đường phụ thuộc insulin (type 1).
Có tiền sử sản khoa như xảy thai liên tiếp ³ hai lần hoặc có thai/con trước
mắc hội chứng Down, Edward hay khiếm khuyết ống thần kinh.
Thuốc thử: T21 kit (dùng cho huyết thanh) của hãng Gamma – Bỉ.
Phần mềm tính nguy cơ: Phần mềm T21 Gamma do hãng Gamma – Bỉ
cấp, sử dụng thêm mẫu kiểm chứng nội do hãng Biorad cung cấp gồm 3 mức nồng độ
khác nhau là cao, trung bình và thấp trong mỗi lần làm phản ứng để đảm bảo chất
lượng của bộ thuốc thử và quá trình thao tác.
Độ lặp lại và độ đúng của nồng độ hiệu chuẩn
Được lặp lại hai lần với độ tương quan phù hợp, kết quả đo độ hấp thu ở
các bước sóng 450nm hay 450/650 hay 450/690 của các nồng độ hiệu chuẩn phải
nằm trong khoảng cho phép theo bảng kiểm tra chất lượng đi kèm trong mỗi hộp
thuốc thử.
Độ lặp lại của mẫu huyết thanh (MS)
Trong mỗi bản 96 giếng sẽ có từ 5 –10 mẫu huyết thanh được lặp lại.
Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm STATISTICA để tính trung vị đối với từng tuần
tuổi thai
Các thông tin cần thiết về thai phụ như ngày lấy mẫu, ngày sinh, ngày siêu âm,
đường kính lưỡng đỉnh (hay chiều dài đầu mông), ngày đầu kỳ kinh cuối, cân nặng
phải được cung cấp phải chính xác. Sau khi có đủ số liệu ít nhất 100 thai phụ cho mỗi
tuần tuổi thai, thì dùng phép thống kê mô tả để tính giá trị trung vị cho mỗi tuần tuổi
thai.
Xác định nguy cơ cho mỗi thai phụ tham gia sàng lọc trước sinh
Xác định các giá trị bội số trung vị (MoM = Multiple of median) của các
thông số AFP, bhCG tự do và uE3 cho mỗi thai phụ bằng cách lấy giá trị đo được
của từng thông số chia cho giá trị trung vị của thông số đó của nhóm thai phụ bình
thường có cùng tuổi thai. Dựa trên các giá trị MOM này, phần mềm tính nguy cơ
xác định tỉ lệ nguy cơ cho từng thai phụ
[4,6]
.
Nguy cơ mắc hội chứng Down theo tuổi
Dựa theo tuổi của thai phụ lúc đến thực hiện xét nghiệm, phần mềm sẽ cho
nguy cơ về tuổi của thai phụ có khả năng mang thai mắc phải hội chứng Down khi
sinh con.
G
UE
3
C
1
0,03
0,05
0,0
0
2,7
0
4,09
5,6
6
C
2
0,15
0,16
0,0
2
7,5
3
6,30
7,6
3
C
3
0,55
4,73
7,3
5
C
6
15,4
1
3,73
0,3
0
7,9
2
2,33
3,0
0
C
7
13,51,4
1
4,5
2
6,9
7
Bảng 2. Độ lặp lại của nồng độ hiệu chuẩn ở 2 lần thử nghiệm khác nhau
SD CV %
1
2,2
2
4,63
4,6
1
C
3
0,0
1
0,07
0,0
1
0,1
5
1,35
1,9
3
C
4
0,1
5
0,78
0,0
4
0,9
1
3,19
2,7
8
1,97
1,2
4
C
7
1,0
8
0,8
5
0,3
6
3,6
2
Bảng 3. Độ lặp lại của các mẫu huyết thanh (2 giếng khác nhau) trong một
lần thử nghiệm
SD CV %
AF
P
FBHC
G
UE
3
AF
P
FBHC
G
UE
UE
3
AF
P
FBHC
G
UE
3
M
S 3
0,3
4
1,91
0,1
7
4,6
3
4,63
7,9
7
M
S 4
1,0
6
1,65
0,3
8
4,5
6
1,51
biến thiên CV < 10%.
Các thông số đánh giá nguy cơ mang thai hội chứng Down trong dân số
Bảng 4. Giá trị trung vị của các thông số sàng lọc
Tuổi
thai (tuần)
AFP
(IU/mL)
Free
beta hCG
(ng/mL)
Free
oestriol
(ng/mL)
Số
trường
hợp
14.45 14,04 24,3 2,15
138
15.56 19,78 18,8 2,54
190
16.57 21,71 12,45 3,09
157
17.43 27,37 10,69 4,07
112
Sử dụng phần mềm Statistica để tính phương trình hồi qui số mũ Bio = a +
exp ( b + c x GA), trong đó GA là tuổi thai và Bio là giá trị của các dấu ấn sinh hóa
AFP, beta hCG tự do và Oestriol tự do.
Bảng 5. Các thông số của phương trình hồi quy số mũ
Các
thông số
AFP
IU/mL
Free
beta
hCGng/mL
UE3
ng/mL
a =
2,974896 2,50103 -
2,281835
b =
-
1,288974
7,88208 -
0,416175
c =
0,257449 -
0,331365
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, nồng độ của các thông số sinh hóa và các
tình trạng bệnh lý của thai phụ, trong đó mỗi yếu tố lại thể hiện một đơn vị tính
khác nhau, nên để thống nhất tất cả các yếu tố nguy cơ đơn lẻ lại tạo thành một
yếu tố nguy cơ duy nhất cho mỗi thai phụ khi làm xét nghiệm sàng lọc, nhiều
chương trình phần mềm tính nguy cơ đã ra đời, trong đó đa số các phần mềm tính
nguy cơ đều sử dụng thuật toán phân phối Gaussian đa biến do Ward và cộng sự
đề ra.
Đơn vị tính toán chung được đưa ra là giá trị MOM (multiple of median)
hay còn gọi là bội số trung vị. MOM của từng thông số là tỉ lệ giữa nồng độ của
từng thông số sinh hóa của mỗi thai phụ và giá trị trung vị tương ứng của thông số
đó trong dân số thai phụ bình thường theo tuần tuổi thai. Việc sử dụng MOM là do
nồng độ của các thông số sinh hóa xác định trong máu thai phụ thay đổi theo từng
tuần tuổi thai và cần phải tiêu chuẩn hóa các phương pháp đo lường để có thể cho
ra một cách tính kết quả thống nhất và cung cấp cho mỗi thai phụ một khả năng
tính theo tỉ lệ có thể mang thai bị dị tật, từ đó giúp các bác sĩ có hướng tư vấn di
truyền cho thai phụ. Như vậy, giá trị MOM phản ánh nồng độ các thông số sàng
lọc của từng thai phụ so với giá trị chung trong dân số thai phụ bình thường có
cùng tuổi thai
[17]
.
Anh hưởng về cân nặng của thai phụ khi tính nguy cơ
Tuỳ theo tuần tuổi thai, các giá trị MOM của tất cả các thông số sinh hoá
của mỗi thai phụ đều được hiệu chuẩn dựa trên cân nặng của họ.
Bảng 6. Giá trị trung vị của các thông số sinh hoá thay đổi theo cân nặng
Cân
n
ặng của
thai ph
ụ
(Kg)
0,84169
0,80086
0,86267 180
62,0
0,88649
0,85423
0,98678 58
Sử dụng phần mềm Statistica để tính phương trình hồi qui tuyến tính Bio =
a + b x MW với MW= trọng lượng thai phụ và Bio= giá trị của thông số sinh hóa
(tính theo MOM) của 1432 thai phụ có cân nặng từ 40 đến 62kg.
Giá trị MOM chịu ảnh hưởng của một số yếu tố mà trong đó nổi bật là
trọng lượng của thai phụ (bảng 3.6). Sử dụng phần mềm Statistica để xác định mối
liên quan tuyến tính Bio = a + b x MW với MW là trọng lượng thai phụ và Bio là
giá trị của các thông số sinh hóa tính theo MOM.
Qua hình 4, 5, 6 chúng tôi thấy có mối tương quan rõ rệt giữa cân nặng của
thai phụ và nồng độ của các thông số dấu ấn sinh hóa tính theo MOM. Vì vậy cần
phải có một yếu tố hiệu chỉnh về trọng lượng trong quá trình đánh giá nguy cơ của
hội chứng Down. Yếu tố này là giá trị nghịch đảo của phương trình tuyến tính trên
vì cân nặng càng tăng thì nồng độ của các thông số sinh hóa sẽ càng giảm, hiện
tượng này được giải thích là do hiện tượng pha loãng máu ở những thai phụ có cân
nặng quá mức, nếu không được hiệu chỉnh về mặt trong lượng, số thai phụ này có
tỉ lệ sàng lọc dương tính cao bất thường
[8]
.
ị
(Percentil
95)
Cân
nặng mẹ
49,8 49,0 40,0 60,0
Tu
ổi
mẹ lúc sinh
27,96
27,31 20,34 38,33
Tu
ần
tuổi thai
18,6 18,4 14,51 22,15
Sử dụng phần mềm Statistica để xem xét khả năng của biểu đồ tính các
thông số sinh hoá theo giá trị MOM trong bộ ba xét nghiệm sàng lọc (không theo
phân phối Gaussian và theo phân phối Gaussian ) của AFP, bhCG tự do và uE3.
Bảng 8. Các giá trị phân phối thống kê theo log10(MOM)
AFP Free
beta hCG
Free
oestriol
Giá
tr
ị trung
bình
-
phân phối Gaussian log 10 (MOM) (dưới) Hình 8. Biểu đồ tính bhCG tự do không theo phân phối Gaussian (trên) và
theo phân phối Gaussian log 10 (MOM) (dưới)
Qua các số liệu trên, chúng tôi nhận thấy các thông số đặc trưng cho từng
dân số rất cần thiết trong việc tính nguy cơ cho hội chứng Down. Và chính những
dữ liệu này sẽ được đưa vào các dạng hồ sơ trong phần mềm T21 để tính nguy cơ
cho hội chứng Down cho thai phụ ở đơn vị sàng lọc của chúng tôi.
Xét nghiệm sàng lọc trước sinh ngày càng được chấp nhận ở nhiều nước
trên thế giới nhằm hạn chế tỉ lệ sinh trẻ bị bị tật bẩm sinh như hội chứng Down,
Edward và dị tật ống thần kinh. Mặc dù xét nghiệm sàng lọc có những hạn chế
nhất định như tỉ lệ phát hiện dị tật của từng nhóm xét nghiệm thay đổi tùy theo sự
phức tạp và chi phí giá thành của nhóm xét nghiệm đó, có một tỉ lệ dương tính giả
nhất định, nếu thai phụ có xét nghiệm sàng lọc dương tính thì lo lắng, sợ hãi
nhưng đứng về mặt xã hội cũng như gia đình thì xét nghiệm sàng lọc mang lại
nhiều lợi ích lớn lao, vì đó là các xét nghiệm đơn giản dễ thực hiện với một số
đông dân số, ít xâm hại tới thai nhi, chỉ lấy khoảng 2 ml máu mẹ, xét nghiệm sàng
lọc phát hiện được các thai phụ có nguy cơ cao do sự thay đổi của các thông số