HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI BẰNG HỆ THỐNG NẸP - VÍT NÉN - Pdf 20

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI BẰNG HỆ
THỐNG NẸP - VÍT NÉN

TÓM TẮT
Mục tiêu: Đây là một nghiên cứu tiền cứu, nhằm mục tiêu theo dõi và
đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân gãy xương hàm dưới bằng việc sử dụng
hệ thống nẹp nén và ốc nén.
Phương pháp: Báo cáo này là những kết quả điều trị và theo dõi 58
bệnh nhân gãy xương hàm dưới với 70 đường gãy tại khoa Phẫu Thuật Hàm
Mặt – Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương TPHCM, được ghi nhận trên
lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh.
Kết quả và kết luận: cho thấy hệ thống nẹp – vít nén mang lại sự
vững ổn cao trong cố định ổ gãy, tạo sự thoải mái cho bệnh nhân sau điều
trị, tỉ lệ biến chứng thấp và để lại kết quả lành thương xương rất tốt trên
phim X quang. ABSTRACT
Objective: This is a prospective study, with the aim to follow-up and
assess the treatment results of mandibular fractures using compression plates
and lag screws.
Method: 58 patients with 70 mandibular fractures treated at the
Department of Maxillofacial Surgery – National Hospital of Odonto-
Stomatology, HoChiMinh City, were followed-up clinically and on
radiographs.
The results: showed that compression osteosynthesis provided high
stablility for fracture fixation, postreatment comfort, low rate of
complications and improved bone healing.
MỞ ĐẦU
Theo y văn thế giới, gãy xương hàm dưới chiếm tỉ lệ rất cao, khoảng
47 – 50% trong tổng số các ca gãy xương vùng hàm mặt. Tại Việt Nam, tỉ lệ

- Gãy vụn, gãy thiếu hổng xương.
Dụng cụ – vật liệu
- Bộ dụng cụ phẫu thuật kết hợp xương.
- Chỉ thép cố định hàm (thiết diện 0,3-0,4mm).
- Bộ dụng cụ sử dụng nẹp-vít nén.
- Nẹp nén của Tập đoàn Y khoa JEIL (Hàn Quốc) làm bằng Titanium
với các mã số nẹp: 24-SE-006; 24-SE-104; 24-CD-006. Và vít lớn của Tập
đoàn Y khoa JEIL (Hàn Quốc) làm bằng Titanium với đường kính vòng
xoắn 2,4mm; dài 12-14-16-18-20mm.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu lâm sàng, phương pháp tiền cứu.
Tiến trình nghiên cứu
Chuẩn bị bệnh nhân:
Chụp hình khớp cắn trước mổ. Khai thác bệnh sử .
Khám lâm sàng.
Cận lâm sàng.
Lập hồ sơ theo dõi.
Tiến trình phẫu thuật
Bệnh nhân được vô cảm bằng gây mê nội khí quản qua đường mũi.
Gây tê tại chỗ bằng Lidocain 2% có chứa Epinephrine 1/100.000 tại vị trí
sẽ rạch tạo vạt.
Đường vào phẫu thuật
Trường hợp gãy xương vùng cằm và cành ngang: sử dụng đường rạch
ngách hành lang cách ranh giới niêm mạc di động – cố định khoảng 3mm,
sau đó rạch thẳng góc qua lớp cơ và màng xương.
Trường hợp gãy xương vùng góc hàm: sử dụng đường vào ngoài mặt
qua vết thương hở hoặc sẹo cũ (không sử dụng hệ thống nẹp ốc nén trong
trường hợp không có vết thương hở hoặc sẹo ngoài da), bóc tách vào ổ gãy,
rạch màng xương.

Tê môi dưới - cằm: có/không.
Chụp phim toàn cảnh, mặt thẳng, mặt nhai hàm dưới và ghi nhận:
Mức độ tiếp hợp xương: chính xác/lệch nhẹ/lệch nhiều.
Tương quan vị trí giữa nẹp-vít và chân răng, lỗ cằm, kênh răng dưới.
Tái khám và theo dõi định kỳ: sau mổ 4 tuần, 8 tuần, 24 tuần và ghi
nhận:
Lâm sàng:
Khớp cắn: đúng/sai.
Vận động hàm dưới: đo biên độ há tối đa.
Chảy mủ vết mổ/có lỗ dò: có/không.
Nếu có:
- Nếu các răng cận đường gãy lung lay nhiều: nhổ răng và điều trị nội
khoa (kháng sinh).
- Thử tủy các răng cận đường gãy: nếu có răng không đáp ứng tủy:
điều trị nội nha và dùng kháng sinh.
- Lộ nẹp, vít: có/không. Nếu có: nhập viện, phẫu thuật lấy ra.
- Di động không đồng bộ tại ổ gãy (chậm liền xương): có/không. Nếu có
sau 8 tuần (nguy cơ hình thành khớp giả): nhập viện điều trị.
- Tê môi dưới - cằm: có/không. Nếu có: ghi nhận mức độ cải thiện.
Chụp phim toàn cảnh, mặt thẳng, mặt nhai hàm dưới và đánh giá sự
lành thương xương chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: không có sự thay đổi trên phim, không có hình ảnh
canxi hoá giữa các đường gãy, có một đường thấu quang ở đường gãy.
- Giai đoạn 2: tìm thấy hình ảnh tiêu xương và có sự tăng vùng thấu
quang ở vị trí đường gãy.
- Giai đoạn 3: có hình ảnh canxi hoá giữa các đường gãy, có sự tạo
xương ở đường gãy.
Giai đoạn 4: không có hình ảnh thấu quang ở vị trí đường gãy, quan
sát thấy hình ảnh liền xương, không còn phân biệt được đường gãy.
Xử lý và phân tích kết quả


4%
Tai nạn sinh hoạt 01

2%
Đả thương 01

2%
Tai nạn xe gắn máy hai bánh chiếm xuất độ cao nhất (84%), đây là
vấn đề thường gặp trong các nghiên cứu về chấn thương hàm mặt ở nước ta.
Thời gian từ lúc chấn thương đến khi phẫu thuật được trình bày trong
bảng 2.
Bảng 2: Tỉ lệ và số lượng bệnh nhân theo thời gian trước phẫu thuật.
Th
ời gian
trước phẫu thuật
S

BN
Tỉ
lệ
< 15 ngày 38

66%

15 - 30 ngày 17

29%

> 30 ngày 03

bố số lượng đường gãy trên mỗi bệnh nhân: Gãy 1 đường: 46 BN (79%). Gãy 2
đường: 12 BN (21%).
Phân bố vị trí gãy xương hàm dưới 2 đường được trình bày trong bảng
4.
Bảng 4: Phân bố vị trí gãy xương hàm dưới 2 đường.
Vị trí gãy k
ết
hợp
S

BN
Tỉ
lệ
Gãy cằm 2 bên

02

4%
Gãy cằm-
cành
ngang 05

10%

Gãy cằm-
góc
hàm 01

2%
Gãy cành

vững chắc hơn, và có thể hỗ trợ thêm chỉ thép nếu cần.
Số lượng bệnh nhân có gãy phối hợp xương hàm trên phải điều trị cố
định liên hàm: 12 (21%). Những bệnh nhân này chỉ đánh giá kết quả lành
thương trên phim.
Đánh giá lâm sàng
Khớp cắn: không có trường hợp sai khớp cắn nào được ghi nhận.
Khám vận động há tối đa qua các lần tái khám cho thấy sau 4 tuần độ
há tối đa trung bình là 43,1mm, tăng lên sau 8 tuần là 45,7mm và sau 24
tuần là 46,3mm
Vận động há tối đa hồi phục rất nhanh sau phẫu thuật, gần như trở về
giá trị bình thường sau mổ 4 tuần, do hệ thống nẹp –vít nén có đủ vững chắc
để không cần cố định liên hàm hỗ trợ. Bệnh nhân dễ dàng vận động hàm
sớm sau mổ và rất thoải mái do không có cung cố định hàm trong miệng,
đây là ưu điểm rất lớn khi sử dụng hệ thống nẹp ốc này điều trị gãy xương
hàm dưới. Tuy nhiên, việc nắn chỉnh xương trước khi kết hợp xương phải
đảm bảo thật chính xác, để đem lại khớp cắn đúng sau phẫu thuật.
Có tỉ lệ nhỏ hở vết mổ do bung chỉ (2%) được khâu lại dưới gây tê và
nhiễm trùng vừa sau mổ ở đường mổ từ ngoài mặt (2%) được rạch dẫn lưu
và điều trị kháng sinh, xuất hiện trong tuần đầu sau mổ, và ổn định ngay sau
đó. Zachariades (1995) trong nghiên cứu của mình về biến chứng của hệ
thống nẹp nén đã ghi nhận các tỉ lệ nhiễm trùng từ 1-4%, dễ xuất hiện ở
những bệnh nhân phẫu thuật muộn, và không có biến chứng này đối với
những bệnh nhân tiến hành phẫu thuật từ đường trong miệng.
Biến chứng chảy mủ, có lỗ dò xuất hiện sau mổ 4 tuần (4%) và 8 tuần
(2%) đặc biệt liên quan đến tình trạng các răng cận đường gãy. Việc bảo tồn
các răng này trong quá trình phẫu thuật đã được cân nhắc và sau đó, khi các
biến chứng này xuất hiện, các răng cận đường gãy liên quan đều được cho
thử độ sống tủy và điều trị nội nha những răng không có đáp ứng tủy. Tình
trạng biến chứng trên hồi phục sau khi xử trí răng nguyên nhân. Không có
trường hợp nào do nguyên nhân khác như viêm xương, lộ nẹp-vít hay phản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status