ĐÁP ỨNG TRỊ LIỆU KHÁNG RETROVIRUS HOẠT TÍNH CAO Ở BỆNH NHÂN AIDS - Pdf 20

ĐÁP ỨNG TRỊ LIỆU KHÁNG RETROVIRUS HOẠT TÍNH
CAO Ở BỆNH NHÂN AIDS TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng trị liệu kháng Retrovirus họat tính cao
trong 6 tháng đầu điều trị ở 65 trường hợp ở bệnh nhân AIDS tại bệnh viện
Bệnh Nhiệt Đới trong năm 2006.
Phương pháp: nghiên cứu tiền cứu mô tả.
Kết quả: Sau 6 tháng tính từ lúc khởi phát điều trị, 54 trường hợp
(85,7%) có đáp ứng lâm sàng rõ: trọng lượng cơ thể tăng và giai đọan lâm
sàng nặng giảm (có ý nghĩa thống kê), cũng như đáp ứng miễn dịch khá tốt
(số lượng CD4 trung bình tăng 110 tế bào /mm
3
). Bên cạnh đó, có 16 trường
hợp (24,6%) CD4 giảm hoặc tăng dưới mức 50/mm
3
nhưng chưa có chứng
cứ rõ của thất bại điều trị. Có 9 trường hợp có hội chứng phục hồi miễn dịch
(19,1%), trong đó có 6 trường hợp là lao. Có 28 trường hợp (44,4%) có tác
dụng phụ, đứng hàng đầu là men gan tăng cao (13 trường hợp - 20%).
Kết luận: Sau 6 tháng bắt đầu điều trị ARV ta có thể nhận định được
đáp ứng lâm sàng, miễn dịch hoặc các tác dụng phụ của bệnh nhân. Tuy
nhiên cần phải có thời gian kéo dài hơn hoặc trị số tải lượng virus mới có thể
kết luận về thất bại điều trị.
SUMMARY
Objectives: To investigate the efficacy and side effects of HAART in
65 AIDS patients after 6 months-initial treatment at the Hospital for Tropical
Diseases in 2006.
Method: a prospective descriptive study.
Results: After 6 months of treatment, 54 cases (85, 7%) had clinical

Tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới, số bệnh nhân được điều trị HAART
ngày càng nhiều. Đáp ứng về lâm sàng và miễn dịch của những bệnh nhân
điều trị thành công có biểu hiện như thế nào? Hội chứng phục hồi miễn dịch
(Immune Reconstitution Syndrome= IRS) có xảy ra hay không? Bệnh nhân
có thể có những tác dụng phụ gì khi điều trị HAART? Đến nay chúng ta
chưa có nhiều công trình đánh giá hiệu quả về trị liệu kháng retrovirus hoạt
tính cao ở bệnh nhân Việt Nam, và với mong muốn trả lời những vấn đề trên
chúng tôi đã tiến hành khảo sát này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá đáp ứng trị liệu kháng retrovirus hoạt tính cao ở bệnh nhân
AIDS ở giai đoạn sớm của trị liệu.
Mục tiêu cụ thể
- Mô tả đáp ứng về lâm sàng và miễn dịch với HAART ở bệnh nhân
dùng thuốc 6 tháng, từ đó xác định tỉ lệ thành công điều trị, thất bại điều trị (
về lâm sàng và miễn dịch) trong thời gian này.
- Xác định tỉ lệ bệnh nhân có hội chứng phục hồi miễn dịch (IRS).
- Xác định tỉ lệ các tác dụng phụ.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Tiền cứu mô tả.
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân người lớn được chẩn đoán AIDS, có chỉ định điều trị
HAART.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Phòng khám ngoại trú bệnh viện BNĐ từ tháng 1/2006 đến tháng
12/2006.
Tiêu chuẩn chọn vào mẫu nghiên cứu
- Bệnh nhân ³15 tuổi được chẩn đoán AIDS: Lympho TCD
4

Phân tích và xử lý số liệu
Bằng phần mềm SPSS 11.05, so sánh giá trị trung bình của biến số
liên tục bằng phép kiểm t ghép cặp, so sánh biến số không liên tục bằng
phép kiểm chi bình phương Mac Nemar, khoảng tin cậy 95%, sai số cho
phép 5%.
KẾT QUẢ
Dựa vào những tiêu chuẩn chọn bệnh trên, chúng tôi chọn được 65
bệnh nhân để đưa vào nghiên cứu với những đặc điểm được xác nhận trong
bảng 4.1.
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (N=65)
Đ
ặc tính
trước điều trị
T
ần
suất
%
Phái nam 46 70,8

Tu
ổi trung
bình (năm)
30,06 (20 – 47)

Trọng
lượng cơ thể (kg)
48,5 ± 7,2 (36
- 71)
Yếu t


Không
dùng
45 69,2

Kh
ả năng vận động (Điểm
Karnofsky)
80 - 100 56 86,2

50 - 70 9 13,8

Giai đo
ạn

lâm sàng
I 1 1,5
II 6 9.2
III 45 69.2

IV 13 20
Phác đ

điều trị

2NRTI +
NNRTI

62 95,4

2NRTI + PI

(g/dl)
12,7 ±
2,01 (6,85 - 16,7)

Tổng số 1174 ±
lymphocyte (/mm
3
) 573 (170 - 3000)
Số tế bào
CD4(/mm
3
)
67 ± 53 (2
- 196)
ALT (UI/l) 44 ± 21
(10 - 108)
Sau 6 tháng điều trị, 2 trường hợp tử vong (1 do suy kiệt và 1 do viêm
não). Các biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm của bệnh nhân trước và 6 tháng
sau điều trị được tóm tắt trong bảng 4. 3.
Bảng 3: Thay đổi lâm sàng và các thông số cận lâm sàng trước và sau
điều trị (n = 63)
Đặc tính Trư
ớc
điều trị
Tháng
thứ 6
p
Karnofsky>=80
(%)
87,3 90,5 NS


21
68 ±
48
0,001
Số lư
ợng CD4
(/mm
3
)
66 ±
52
151 ±
70
<
0,001
Sau 6 tháng điều trị, thay đổi về giai đoạn lâm sàng, trọng lượng cơ
thể và lymphocyte cải thiện có ý nghĩa thống kê, số lượng tế bào CD4/mm3
trung bình từ 66 tăng đến 151 (bảng 4.3). Thay đổi về khả năng vận động và
hemoglobin trước và sau điều trị không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, chúng
tôi có được:
- 54 (85,7%) trường hợp hiệu quả về lâm sàng.
- 47 (72,3%) trường hợp đáp ứng hiệu quả về miễn dịch (CD4 tăng ³
50).
- 16 (24,6%) trường hợp thất bại về miễn dịch CD tăng < 50 hoặc
CD4 giảm.
- 2 bệnh nhân tử vong (3,1%).
Bảng 4:Thay đổi lâm sàng và cận lâm sàng trong các trường hợp thất
bại miễn dịch (n=16)
Đặc tính Trước

1414
± 496
NS
ALT (UI/l) 47 ±
25
74 ±
50
0,042
16 trường hợp trên biểu hiện tăng cân, tăng khả năng vận động, cải
thiện giai đoạn lâm sàng nặng nhưng không có ý nghĩa thống kê (bảng 4.4
Đặc biệt, có 9 trường hợp có biểu hiện hội chứng phục hồi miễn dịch
(IRS) xuất hiện trong vòng 6 tháng, chiếm tỉ lệ 19,1% (Bảng 4.5). Lao phổi
hoặc lao hạch chiếm tỷ lệ cao nhất 6/9 trường hợp (67%).
Bảng 5: Tần số biểu hiện hội chứng phục hồi miễn dịch (n=9)
Bệnh Số trường
hợp
CMV 1
Lao hạch 3
Lao phổi 3
Viêm gan C

1
Zona 1
Về các tác dụng phụ của ARVs, chúng tôi ghi nhận trong 44% trường
hợp, bao gồm viêm gan với ALT > 100 UI/ml (20%), dị ứng (18%), tê tay chân
(nghi ngờ viêm dây thần kinh ngoại biên): 11%. Ngoài ra bệnh nhân có dấu
hiệu buồn nôn, hoa mắt, thiếu máu chiếm tỉ lệ khoảng 1% và không gây trở
ngại quan trọng cho điều trị (Bảng 6).
Bảng 6: Tỷ lệ tác dụng phụ:
Độc tính Số

chiếm đa số, nam nhiều hơn nữ (70,8% so 20,8%), tuổi trung bình tương đối
trẻ (khoảng 30 tuổi), hơn phân nữa là đối tượng nghiện chích ma tuý,
(53,8%),nhập viện trong giai đoạn lâm sàng nặng, suy giảm miễn dịch nặng
với số lượng lymphocytes T CD4
+
= 67/mm3, trọng lượng cơ thể trung bình
khoảng 48,5 kg. Hemoglobin trung bình 12,7 g/dl, khả năng vận động tính
theo bảng điểm Karnofsky thay đổi từ 80-100 (86,2%).Tuy nhiên số lượng
bệnh nhân có tiền căn dùng ARV không đúng quy cách rất cao, ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả điều trị.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 2 trường hợp tử vong, 1 trường hợp
vì suy kiệt nặng, 1 trường hợp do viêm não, 63 bệnh nhân vẫn còn sống sau
6 tháng điều trị và được xem xét qua các khía cạnh như sau:
Hiệu quả lâm sàng
54 trường hợp (85,7%) (bảng 4.3): tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn lâm
sàng nặng giảm so với trước điều trị, chỉ còn 28,6% so với 88,9% với p
<0,001. Trọng lượng cơ thể tăng từ 48,6 kg lên 50,9 kg, có ý nghĩa thống kê
với p< 0,001.
Hiệu quả về miễn dịch
47 trường hợp (72,3%) có số lượng CD4 trung bình từ 66 ± 52 lên 151
± 70. Vậy CD4 tăng trung bình khoảng 110 tế bào /mm
3
sau 6 tháng điều trị.
Gia tăng CD4 trên những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch sau điều trị được
ghi nhận khác nhau tùy nghiên cứu, ở công trình của tác giả Trịnh Thị Minh
Liên và cộng sự tại Hà Nội, CD4 chỉ tăng 50 sau 6 tháng
(4)
. Còn nghiên cứu
của tác giả Sophie Grabar tại Pháp, CD4 tăng được 86 tế bào
(3)

không đúng quy cách hoặc tình trạng kháng thuốc đã có sẵn. Tác giả Carlos
del Rio đã phân tích ra nhiều nguyên nhân đưa đến thất bại điều trị như tương
tác của các lọai thuốc, sự phối hợp thuốc chưa đủ mạnh, yếu tố di truyền, hoặc
sự hiện diện sẵn của những dòng virus kháng thuốc
(2)
. Trong diều kiện trang
thiết bị nước nhà, chúng tôi không có phương tiện để xác định yếu tố này.
Về tỷ lệ hội chứng phục hồi miễn dịch
Có 9 trường hợp (19,1%). Tỷ lệ này thấp hơn so với trong nghiên cứu
của Sexton (5) và các nghiên cứu khác trên thế giới, có lẽ số trường hợp của
chúng tôi chưa đủ nhiều để phát hiện. Bệnh nhiễm trùng do phục hồi miễn
dịch hàng đầu chính là lao (lao phổi 3 trường hợp, lao hạch 3 trường hợp),
và 5/6 trường hợp này lại có tiền căn mắc bệnh lao. Điều này được giải thích
là HAART làm phục hồi đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với tác nhân gây bệnh.
Thời điểm khởi phát hội chứng này có thể sớm trước 3 tháng (7 trường hợp:
77,8%), hoặc sau 3 tháng (2 trường hợp: 22,2%) .
Đánh giá về tác dụng phụ sau khi điều trị ARV
Chúng tôi ghi nhận tác dụng phụ xiất hiện trong 28 trường hợp (4,4%,
bảng 4.6): đứng hàng đầu là viêm gan (khi ALT >100 U/l ): 13 trường hợp
(20%), trị số ALT tăng có ý nghĩa thống kê trong cả 2 nhóm có đáp ứng và
không có đáp ứng điều trị, chứng tỏ ALT gia tăng không phải là yếu tố thất
bại, mà khả năng có liên quan đến bệnh lý nền của bệnh nhân (7/9 trường
hợp bị nhiễm siêu vi B hoặc siêu vi C), cũng như liên quan đến phác đồ điều
trị có dùng Nevirapine (76,9%) trường hợp. Trong 13 truờng hợp tăng ALT,
có 5 trường hợp cần đổi phác đồ điều trị. Ngoài ra tác dụng phụ gây thiếu
máu của AZT cũng đựoc ghi nhận ở một trường hợp và sau đó được đổi
sang D4T. Các trường hợp phản ứng phụ còn lại như dị ứng, tê tay chân,
buồn nôn, hoa mắt chỉ ở mức độ nhẹ và không cần thay đổi phác đồ.
KẾT LUẬN
Đánh giá đáp ứng điều trị ARV qua 65 trường hợp bệnh nhân AIDS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status