MELANÔM ÁC TÍNH Ở TRỰC TRÀNG TÓM TẮT Melanôm ác tính nguyên phát ở trực tràng - Pdf 20

MELANÔM ÁC TÍNH Ở TRỰC TRÀNG

TÓM TẮT
Melanôm ác tính nguyên phát ở trực tràng rất ít gặp nhưng diễn biến
sinh học có độ ác cao. Bệnh này đôi khi bị lầm với những khối lành tính như
trĩ hay polyp trực tràng. Dầu rằng là u hiếm gặp, nhưng ống hậu môn là vị trí
thường gặp nhất của melanoma nguyên phát ống tiêu hóa. Ở đây chúng tôi
mô tả một trường hợp melanôm ác tính nguyên phát giai đoạn sớm ở trực
tràng. Trong trường hợp này, việc cắt bỏ polyp được thực hiện và nghiên
cứu mô bệnh học cũng như kết quả hóa mô miễn dịch đã giúp chẩn đoán là
melanôm có hắc tố. Chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh sự hữu ích của những
nghiên cứu này giúp chẩn đoán phân biệt với những u khác của trực tràng.
ABSTRACT
PRIMARY RECTAL MALIGNANT MELANOMA: REPORT OF A
CASE
Huynh Ngoc Linh, Nguyen Van Sung, Hua Thi Ngoc Ha, Nguyen
Sao Trung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 3 - 2007:
170 – 173
Primary rectal malignant melanoma is uncommon but biologically
aggressive neoplasm. This disease is sometimes mistaken for such benign
conditions as either hemorrhoid or rectal polyp. Although this tumor is rare,
the anal canal is the most frequent site for primary gastro-intestinal
melanoma.We herein describe a case of early primary malignant melanoma
of the rectum. In this case, the polypectomy was performed and the
microscopic findings and the immunohistochemistry were found to be useful
for diagnosing the melanotic melanoma. We especially emphasize the
usefulness of these findings in distinguishing melanotic melanoma from
other rectal tumors.
DẪN NHẬP
Melanôm là sự tăng sản ác tính của các tế bào hắc tố. Thường gặp ở

Khám thực thể, bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, tổng trạng trung bình,
sinh hiệu ổn, không sốt, hạch ngoại vi không sờ thấy. Da niêm mạc bệnh
nhân hồng bình thường, kết mạc mắt không vàng. Hệ tuần hoàn hô hấp bình
thường. Khám bụng không thấy gan lách to và không sờ chạm khối u bất
thường nào. Khám tiết niệu sinh dục không phát hiện bệnh lý.Thăm trực
tràng cơ thắt hậu môn hoạt động tốt, ở vị trí 6 giờ cách rìa hậu môn 5cm, có
một khối u dạng polyp tròn lồi hẳn vào lòng trực tràng. Bề mặt khối u tương
đối nhẵn. Khối u chưa chiếm hết chu vi trực tràng.
Bệnh nhân được nội soi trực tràng.
Dùng máy nội soi trực tràng FUJINON, gây tê xylocain 2%, soi được
30cm trực tràng và sigma.
Phía trên ống hậu môn, vùng bóng trực tràng thấy khối u chồi, dạng polyp
không cuống, mềm bề mặt, có sắc tố, đường kính khoảng 2 cm Các vùng khác
bình thường (hình 1).

Hình 1: khối u dạng polyp, bề mặt có sắc tố
Cận lâm sàng: các chỉ số huyết học, sinh hóa trong giới hạn bình
thường. Xét nghiệm phân: có hồng cầu trong phân.
Sau đó bệnh nhân được phẩu thuật cắt bỏ polyp.
Kết quả mô bệnh học là: Mẫu sinh thiết tăng sinh các tế bào lớn đa
diện, dị dạng, xếp thành từng đám trong mô đẹm niêm mạc với bào tương
lớn bắt màu hồng và có chứa những hạt sắc tố trong bào tương. Rải rác một
vài ống tuyến ruột già có hình thái bình thường. Mẩu mô được làm xét
nghiệm hóa mô miễn dịch, thấy kết quả là tế bào u dương tính với HMB-45
(hình 2,3,4)
KẾT LUẬN GIẢI PHẪU BỆNH: Melanôm ác tính ở trực tràng

Hình 2: các tế bào u kích thước to, nhân dị dạng, hạt nhân rõ, xếp thành ổ,
có nhiều phân bào (HE, x 400)


Vai trò của tia cực tím trong ung thư da được ghi nhận. Những tia cực tím A
(có bước sóng 320 - 400nm) và tia cực tím B (có bước sóng 290 - 320nm) có
thể xuyên qua da và đóng vai trò nhất định trong ung thư da. Tuy nhiên đối
với melanôm ác ở niêm mạc thì không thấy đề cập vai trò của tia cực tím.
Có sự liên quan giữa sự chuyển sản ác tính và các yếu tố tuổi tác, tình trạng
hormon, di truyền, môi trường, chấn thương…, nói chung bệnh sinh của
melanôm ác tính ở niêm mạc chưa hoàn toàn rõ ràng
(7,9)
.
Chẩn đoán melanôm ác ở da dễ dàng, ở các vị trí khác như đường tiêu
hoá và trực tràng khó khăn hơn và đòi hỏi phải nội soi
(4,9)
để chẩn đoán và
phân giai đoạn. Cũng có khi melanôm ác trực tràng là di căn từ melanôm
nguyên phát ở da
(9)
. Có nhiều cách phân chia giai đoạn trong melanôm ác,
tiêu biểu nhất là phân loại Clark trong melanôm ác ở da tuy nhiên khó áp
dụng cho melanôm ác của niêm mạc. Hai cách phân loại khác có thể áp dụng
cho melanôm ác ở trực tràng. Cách thứ nhất là chia thành 3 giai đoạn: giai
đoạn I: khi u còn khu trú và có kích thước nhỏ hơn 5cm, giai đoạn II: khi có
di căn hạch và giai đoạn III: khi có di căn xa. Cách thứ hai: chia thành 4 giai
đoạn trong đó giai đoạn I: khi u còn khu trú và có độ sâu dưới 1,5cm, độ II
khi u có độ sâu trên 1,5cm, giai đoạn III: khi có di căn hạch và giai đoạn IV:
khu u có di căn xa. Cách phân chia giúp cho chúng ta trong việc đánh giá kết
quả phẫu thuạt hơn là tìm biện pháp mổ vì cách mổ thường dựa nhiều vào
kích thước khối u hơn
(1,9)
.
Với melanôm ác tính ở trực tràng cần chẩn đoán phân biệt trên mô



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status