giải quyết xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật - Pdf 20

Bài làm:
A. Lời mở đầu:
Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là một trong những chế định luật ra đời từ
rất sớm và đã trở thành một chế định rất quan trọng trong ngành Luật Dân sự của các quốc gia
trên thế giới. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng giữa các nước là
không hoàn toàn giống nhau, vì vậy, tình trạng xung đột pháp luật về vấn đề này như là một tất
yếu khách quan. Để giải quyết được những xung đột pháp luật đó thì đòi hỏi ngành luật Tư
pháp quốc tế của mỗi quốc gia cần phải có hướng đi cụ thể và kịp thời, nắm bắt kịp được với
xu thế hội nhập toàn cầu như hiện nay.
B. Nội dung:
I. Khái quát chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế:
1. Như thế nào là BTTH ngoài hợp đồng? Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng
được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một
loại trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một
chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ
1
. Tại khoản 1, Điều 604
BLDS có quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH như sau: “Người nào do lỗi cố ý
hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ
thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
2. Như thế nào là BTTH ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài? BTTH ngoài hợp đồng có yếu
tố nước ngoài là quan hệ trách nhiệm có một trong hai yếu tố sau: Thứ nhất là, các chủ thể
tham gia trong quan hệ pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm: bên gây hại
và bên bị gây hại có quốc tịch khác nhau hoặc nơi cư trú khác nhau (đối với cá nhân), hoặc có
trụ sở khác nhau (đối với pháp nhân). Thứ hai là, hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả thực tế
phát sinh của hành vi gây ra thiệt hại xảy ra ở nước ngoài.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về BTTH ngoài hợp
đồng có yếu tố nước ngoài: được quy định tại Phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài của BLDS, cụ thể là Điều 773, như sau: “BTTH ngoài hợp đồng: 1. Việc BTTH ngoài
hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi

nhân là người Việt Nam và một bên là người nước ngoài xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ
áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam để giải quyết. Trong trường hợp tổ chức, cá
nhân nước ngoài gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ cản 3, Điều 21 HĐTTTP Việt Nam với Pháp).
2
+ Việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN không chỉ đặt ra khi bên
phải thi hành án bản án, quyết định dân sự đó không tự nguyện thi hành mà còn được đặt ra
đối với những trường hợp (trường hợp này áp dụng nguyên tắc luật nơi xảy ra vi phạm).
Trường hợp 2: Đối với các hành vi gây ra thiệt hại xảy ra hoàn toàn ở nước ngoài thì phương
án giải quyết như sau: Nếu hai bên đều trong quan hệ pháp luật BTTH ngoài hợp đồng là đều
là công dân (có thể là pháp nhân hoặc tổ chức) mang quốc tịch Việt Nam thì dù sự việc xảy ra
hoàn toàn ở nước ngoài nhưng pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được
lựa chọn để giải quyết.
IV. Giải quyết xung đột pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng theo quy định tại các ĐƯQT mà
Việt Nam là thành viên: Các quy định của các ĐƯQT chủ yếu được kể đến là các quy định quy
phạm xung đột pháp luật được ghi nhận trong các HĐTTTP về dân sự mà Việt Nam tham gia
kí kết với quốc gia khác. Khi nghiên cứu các HĐTTTP này, ta có thể thấy, các hiệp định này
có cách giải quyết tương đối giống nhau trong việc xác định luật giải quyết vấn đề bồi thường.
Cụ thể, trong mỗi HĐTTTP thường chia thành hai trường hợp:
+ Trong truờng hợp các bên chủ thể (người bị hại và người gây hại) cùng quốc tịch: các
HĐTTTP ghi nhận việc áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của các bên đương sự để giải quyết. Ví
dụ như: Tại khoản 1, Điều 37, HĐTTTP giữa Việt Nam và Liên Bang Nga quy định: “Nếu
nguyên đơn và bị đơn đều là công dân của của một bên kí kết hoặc đều được thành lập hoặc
có trụ sở ở một Bên kí kết. thì áp dụng luật của Bên kí kết đó”. Tại khoản 2, Điều 41, HĐTTTP
giữa Việt Nam và Mông Cổ cũng quy định như sau: “Nếu người gây hại và người bị hại đều
là công dân của một bên kí kết, thì áp dụng luật của bên kí kết đó”.
+ Trong truờng hợp các bên chủ thể (người bị hại và người gây hại) khác quốc tịch: thì các
HĐTTTP ghi nhận việc áp dụng hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật để giải
quyết. Ví dụ như: Tại khoản 1, Điều 37, HĐTTTP giữa Việt Nam và Liên Bang Nga quy định:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi vi phạm pháp luật) được xác
định theo pháp luật của bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh làm căn cứ để yêu cầu đói bồi thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status