Báo cáo tốt nghiệp: Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Si Ma Cai doc - Pdf 20

Trường
Khoa……………….
………… o0o…………

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn ở huyện Si Ma Cai
1
MỤC LỤC
Tr ng ườ 1
Khoa . ……………… 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Si MA Cai là huyện mới được tái lập với 13 xã đều thuộc diện các xã đặc biệt khó
khăn, tách ra từ huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai. Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh là huyện
biên giới với Trung Quốc, giao thông đi lại khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Tài nguyên
khoáng sản nghèo nàn. Dân cư chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sống bằng nghề
nông làm nương, rẫy, trồng rừng. Sản xuất ở đây phần lớn còn mang tính tự phát, tự
cung, tự cấp với trình độ thấp kém. Kỹ thuật canh tác lạc hậu. Trong những năm đổi mới,
cùng với sự thay đổi về kinh tế, cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển dịch nhưng rất nhỏ
và chậm chạp trong khi đó, nhu cầu về đa dạng các sản phẩm, sản phẩm có giá trị kinh tế
cao, ngày một tăng lên. Do vậy việc chuyển đổi một phận diện tích đất trồng ngô, trồng
lúa sang chăn nuôi. Và trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao, kết hợp hài hoà giữa
trồng trọt, chăn nuôi phát triển một số ngành nông sản phẩm theo hướng sản xuất hàng
hoá là một đòi hỏi cấp bách.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đang là một xu hướng và là một
chủ trương đúng đắn, bức thiết của lãnh đạo các ngành, các cấp huyện Si Ma Cai.
Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Si Ma Cai nên với mong muốn vùng
quê của mình ngày càng phát triển, giàu đẹp góp phần nhỏ trong sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân, vì vậy em đã chọn đề tài: "Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn ở huyện Si Ma Cai" làm đề án môn học chuyên ngành của mình.

Mặt khác sự thay đổi đột ngột và nhanh chóng sẽ gây ra những tác động tiêu cực,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Cần phải thấy
rõ rằng cơ cấu kinh tế không phải là một mục tiêu được đặt ra do sự nhận thức của chủ
quan, mà phải hiểu đó là một phương tiện để đưa nền kinh tế đặt được sự tăng trưởng ổn
định, bền vững. Từ đó phải có những xem xét đánh giá dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả
3
kinh tế xã hội mà CCKT đó mang lại như thế nào. Điều này cần thiết cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước, riêng các vùng, các doanh nghiệp, trong đó có tồn tại cơ cấu
kinh tế nông thôn.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn:
Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông
thôn. Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực nông thôn trong quá trình
phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt
lượng và có liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong
không gian và thời gian, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, tạo thành
một hệ thống kinh tế nông thôn. CCKT nông thôn là một bộ phận hợp thành, không thể
tách rời CCKT quốc dân. Nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc
dân, nhất là đối với các nước kém phát triển. Kinh tế nông thôn bao gồm các hoạt động
sản xuất kinh doanh và dịch vụ được tiến hành trên địa bàn nông thôn.
Xác lập CCKT nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ giữa những bộ phận
cấu thành trong tổng thể kinh tế nông thôn dưới tác động của lực lượng sản xuất, giữa tự
nhiên và con người, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế nông thôn và kinh tế
thành thị trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng được xem xét trên các mặt và các mối quan hệ của
chúng như: Cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn, cơ cấu các vùng lãnh thổ và cơ cấu các
thành phần kinh tế nông thôn.
2. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn vừa có những đặc trưng chung của CCKT vừa có đặc
trưng riêng của vùng nông thôn với những đặc điểm mang tính đặc thù. Những đặc trưng
riêng của CCKT nông thôn được biểu hiện như sau:

kinh tế - xã hội và được biểu hiện cụ thể trong từng thời gian, không gian khác nhau.
Chuyển dịch CCKT nông thôn phải là một quá trình vận động và có tính quy luật, mọi sự
nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá trình chuyển dịch nó đều gây phương hại đến sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. "Vấn đề là phải biết bắt đầu tư đâu và với những giải
pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như thế nào để tác động vào nó sẽ tạo ra phản
ứng dây chuyền cho tất cả các yếu tố trong toàn bộ hệ thống cơ cấu kinh tế nông thôn
cùng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng, của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn vận động mang tính tất
yếu khách quan. Vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của hệ thống kinh tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ
thống kinh tế đến các trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn
thông qua các tác động điều khiển có ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận
thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan.
5
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN.
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch CCKT nông thôn là sự vận động và thay đổi cấu trúc của các yếu tố
cấu thành trong kinh tế nông thôn theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con
người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định. Đó là sự
chuyển dịch theo những phương hướng và mục tiêu nhất định chuyển dịch CCKT nông
thôn được xem xét trên các phương diện: Chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, và cơ
cấu thành phần kinh tế…
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông thôn là sự thay đổi mối quan hệ tương
quan của mỗi ngành so với tổng thể các ngnàh trong nông thôn. sự thay đổi này do 2 yếu
tố là số lượng các tiểu ngành thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các ngành
có sự thay đổi hoặc thay đổi đồng thời cả 2 yếu tố đó.
Chuyển dịch CCKT theo vùng nông thôn là sự chuyển dịch của các ngành kinh tế
xét theo từng vùng. Về thực chất, cũng là sự chuyển dịch của ngành, hình thành sản xuất
chuyên môn hoá, nhưng được xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ.

hết phải từ thị trường và vì thị trường, lấy thị trường làm căn cứ và xuất phát điểm. Xem
đây là giải pháp quan trọng nhất để chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp thuần tuý sang phát triển nông
nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi. là sự chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp là
chủ yếu sang kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi chuyển chúng thành những
ngành sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng
hợp. Các nhân tố tác động lớn đến chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát
triển nông thôn tổng hợp, bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi
một mặt đã cho phép chuyển một số nguồn lực của các ngành này cho sự phát triển công
nghiệp và dịch vụ, mặt khác tạo ra những yếu tố về thị trường đòi hỏi phải có sự phát
triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển này làm
cho CCKT có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trên cơ sở đó, lao động
cũng sẽ chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi, từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch
vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và chuyển lao động thủ công sang lao
động cơ khí trên đồng ruộng, trong chuồng trại và các xí nghiệp chế biến nông sản.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch.
Cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chịu sự tác
động của một số nhân tố sau:
- Sự phát triển của khoa học- công nghệ: là một trong các nhân tố chủ yếu tạo
những điều kiện tiền đề để chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông thôn nói riêng.
Sự phát triển của khoa học và năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và thay đổi cả
7
phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công nghệ sản xuất
trong các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp, nông thôn, khoa học kỹ thuật đã có những
tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học. Từ
đó hàng loạt giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn đợc đưa
vào sản xuất. Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã đáp ứng. Nhờ

THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN SI
MA CAI - LÀO CAO
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH
1. Điều kiện tự nhiên:
Huyện Si Ma Cai là một huyện miền núi của tỉnh Lào Cai có điều kiện tự nhiên
phong phú:
a. Về vị trí địa lý:
Huyện Si Ma Cai nằm ở vào khoảng 22
0
52' đến 23
0
35' độ bắc và 103
0
45' - 104
0
20'
độ kinh đông.
+ Phía Tây giáp: Huyện Mường Khương và Bắc Hà
+ Phía Bắc giáp: Huyện Mã Quan (Trung Quốc)
+ Phía Đông giáp: Huyện Bắc Hà và Huyện Sí Mần (Hà Giang)
+ Phía Nam giáp: Huyện Bắc Hà
Trung tâm huyện ly Si Ma Cai nằm phía đông bắc nơi đầu nguồn sông chảy và
cách thị xã Lào cai 95km, huyện có 12,5km đường biên giới với Trung Quốc và 12,5km
đường biên giới là đường sông giữa Mường Khương và huyện Mã Quan - Trung Quốc.
b. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí tượng thuỷ văn.
* Địa hình: Si Ma Cai có địa hình chia cắt nhiều phần, núi đá cao, độ dốc lớn.
Đường giao thông đi lại hết sức khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Theo đặc điểm về khí hậu
có thể chia Si Ma Cai thành hai tiểu vùng. vùng nóng và vùng lạnh, nhưng ranh giới
không rõ rệt.
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 23,454 ha. Trong đó đất nông nghiệp

0
C. Nhiệt độ bình quân trong năm là 21
0
C, bình quân thấp nhất trong năm là 2
0
C.
Độ mưa: Huyện Si Ma Cai có lượng mưa lớn nhất là 1.800mm lượng mưa nhỏ
nhất là 1.355mm. Lượng mưa trung bình là 1.400mm.
- Thuỷ văn: Si Ma Cai có sông chảy và các con suối lớn như suối Hoá Chu
Phùng, Cán Cấu, Cán Hồ, Sín Chéng…
Đặc trưng dòng chảy của huyện, do mưa phân bố không đều, địa hình dốc, độ che
phủ của rừng thấp, nên vào mùa mưa nước tập trung nhiều gây ra lũ, sạt lở núi, sạt lở
đường. Trong khi đó mùa khô nước lại cạn kiệt, thậm chí thiếu cả nước sinh hoạt hàng
ngày.
c. Tài nguyên nguyên liệu:
* Tài nguyên khoán sản: Si Ma Cai nghèo về tài nguyên khoán sản trên địa bàn
của huyện chỉ có một số mỏ nhỏ, giá trị kinh tế không cao bao gồm những mỏ sau:
Mỏ kẽm chì nằm ở khu vực cao của xã Bản Mế trữ lượng ZN ở cấp P3 khoản
50.000 tấn.
Mỏ đá xây dựng ở hầu hết các xã trong huyện, trữ lượng lớn hàng trăm triệu m
3
.
Mỏ đất sét có khả năng sản xuất gạch, ngói nằm rải rác ở các xã Si Ma Cai, Bản
Mế, Sín Chải, Nàn Sán, Sín Chéng.
* Nguyên liệu: Tài nguyên rừng của Si Ma Cai có diện tích là 4.298,4ha. Trong
đó rừng trồng là 1.405,9ha, rừng tự nhiên là 2.892,5ha. Rừng Si Ma Cai có nhiều loại gỗ
chủ yếu là nhóm 5, nhóm 6 trữ lượng khoản 400.000m
3
, ngoài gỗ rừng còn có nhiều loại
10

xã có đường giao thông.
Đường tỉnh lộ dài 16km, tiêu chuẩn đường mới đạt ở cấp A giao thông nông thôn
miền núi mới được nâng cấp.
- Đường liên tỉnh: Có tuyến Bản Mế - Si Ma Cai - Lùng Phìn - Sí Mần (Hà
Giang) chiều dài 36km.
Đường huyện. Có tổng chiều dài 57km bao gồm các tuyến chính như: Si Ma Cai
- Sín Chéng - nàn Sín dài 18km đã được nâng cấp rải mặt đá dăm đường Si Ma Cai - Cán
Hồ - Quan Thần Sán dài 10km.
11
- Đường liên thôn có tổng chiều dài khoản 200km chủ yếu là đường đất, phục vụ
chủ yếu cho ngựa và người đi bộ.
* Điện: Điện lưới quốc gia của huyện Si Ma Cai đã có đường dây 35kv qua các
xã Lử Thẩn, Si Ma Cai, Sán Chải, Nàn Sán, Lùng Sui, Cán Cấu chiều dài đường dây
0,4kv khoảng 30km. Ngoài ra còn đang kéo đường dây 0,4 kv vào Sín Chéng - Nàn Sín
với chiều dài khoảng 10km. Máy thuỷ điện nhỏ ít được nhân dân sử dụng.
* Thuỷ lợi: Si Ma Cai đã xây dựng trên 52 công trình thuỷ lợi lớn và nhỏ. Chiều
dài hệ thống kênh mương trên 70km để phục vụ tưới cho 601 ha lúa chiếm 84,3% diện
tích lúa của toàn huyện. Hiện nay, chương trình 135 của chính phủ, chương trình kiên cố
hoá kênh mương, đã đầu tư nâng cấp thêm 07 công trình phục vụ tưới, tiêu cho diện tích
lúa xuân và lúa vụ mùa.
* Nước sinh hoạt: Nước ăn cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Huyện đã đầu
tư xây dựng công trình thuỷ lợi để lấy nước tưới cho ruộng và kết hợp cấp nước sinh hoạt
cho nhân dân. Hiện tại 82/90 thôn bản hệ thống nước sinh hoạt đã được đầu tư xây dựng.
c. Văn hoá xã hội:
* Y tế: Trên địa bàn huyện đã được đầu tư xây dựng 13 trạm y tế xã từ nhà cấp IV
đến nhà cấp III đạt 100% xã có trạm y tế xã bình quân mỗi trạm có 4 giường bệnh điều
trị, 2 phòng khám đa khoa và 01 bệnh viện trung tâm với tổng số 54 giường điều trị
trong đó:
- Số bác sĩ là 07 người
- Số y sĩ và hộ lý là 40 người.

mạnh và tập trung phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp, ngành chăn nuôi và dịch vụ để
tăng nhanh tỷ trọng của các ngành này trong cơ cấu giá trị sản phẩm, đồng thời khai thác
hiệu quả các tiềm năng và nguồn lực của huyện.
Biểu 1: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Si Ma Cai.
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
Giá trị sản phẩm (triệu đồng)
1. Ngành trồng trọt
2. Ngành tiểu thủ công nghiệp
3. Ngành chăn nuôi
4. Ngành dịch vụ
91.046
79.240
9.235
2.085
486
93.120
80.734
9.802
2.068
516
95.680
82.192
10.740
2.164
584
Cơ cấu giá trị sản phẩm (%)
1. Trồng trọt
2. Tiểu thủ công nghiệp
3. Chăn nuôi
4. Dịch vụ

cao được sử dụng. DT các cây trồng khác cũng tăng cụ thể sau:
+ Cây thực phẩm tăng từ 512ha (2000) lên 527 ha (2002)
+ Cây công nghiệp ngắn ngày tăng 43 ha năm 2002 so với năm 2000 đây là loại
cây trồng có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa hàng hoá và tham gia vào chuyển đổi cơ cấu
cây trồng của huyện đáng chú ý là cây đậu tương và cây lạc.
+ Cây công nghiệp dài ngày tăng lên 28 ha (năm 2002 so với năm 2000 chủ yếu
là cây chè cao.
+ Cây ăn quả tăng 12 ha năm 2002 so với năm 2000.
Nhìn chung diện tích các loại cây trồng đều tăng song các cây trồng ăn quả; cây
thực phẩm và cây công nghiệp diện tích còn nhỏ và tăng chậm so với cây lương thực đây
cũng là điều đáng quan tâm trong vấn đề chuyển đổi cây trồng, chuyển đổi cơ cấu sản
xuất của huyện.
14
Biểu 2: Cơ cấu cây trồng huyện Si Ma Cai.
Chỉ tiêu
2000 2001 2002
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
1. Cây lương thực 4.369 67,50 4414 67,82 4430 66,75
2. Cây thực phẩm 512 7,91 514 7,91 527 7,94

Hiện nay bình quân mỗi hộ nuôi 1,8 con trâu, bò, khoản 3,3 con lợn và 30 con gia
cầm. Đàn dê được nuôi chủ yếu ở các xã Si Ma Cai, Nàn Sán, Sín Chéng và Sán Chải.
Tuy là một huyện miền núi nhưng điều kiện phát triển chăn nuôi cũng khá thuận lợi chủ
yếu là chăn nuôi ọ gia đình. Với địa hình đồi núi đá rất phù hợp với chăn nuôi dê, song
hiện nay vẫn còn nhiều tiềm năng chưa khai thác được.
b. Lâm nghiệp
Trong những năm gần đây rừng huyện Si Ma Cai kiệt quệ. Các loại gỗ quý hiếm,
gỗ lâu năm đã bị khai thác, chặt phá bừa bãi không có quy hoạch làm cho diện tích R che
phủ giảm nghiêm trọng. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 23.454 ha. Trong đó diện
tích rừng là 4.298,4h, chiếm 18,3% tổng diện tích tự nhiên. Trong khi đó rừng tự nhiên
là 2.892,5 ha, chiếm 11,335 diện tích tự nhiên, rừng trồng là 1.405,9ha, chiếm gần 6,05
diện tích tự nhiên. Rừng trồng chủ yếu là cây thông có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên còn
chưa đáp ứng được nhu cầu khai thác của thị trường. So với những năm trước thì diện
tích rừng có sự tăng lên đáng kể. Năm 1999 diện tích rừng chỉ có 3.680,6ha thì năm 2002
là 4.298,4ha, đối với rừng trồng năm 1999 diện tích là 1.012,4ha thì năm 2002 là
1.405,9ha.
16
Biểu 4: Tình hình biến động rừng huyện Si Ma Cai ( 1999 -2002)
Chỉ tiêu Đơn vị 1999 2000 2001 2003
1. Trồng rừng tập trung (ha) 470 660 908 1020
2. Trồng cây phân tán (1000,0 cây) 346,6 476,8 650 620
3. Chăm sóc rừng (ha) 20 20 22 26
4. Gỗ tròn khai thác (m
3
) 575 250 365 340
5. Tre, nứa luồng khai thác (1000,0 cây) 186 150 167 178
6. Rất R - diện tích R đã giao các hộ (ha) 300 350 505 780
7. Diện tích rừng bị thiệt hại (ha) 46,5 35 25,2 20
- Bị phá (ha) 12,2 13,5 25,2 18
- Bị cháy (ha) 34,3 12,0 - 2

Ngành nghề chế biến nông, lâm sản thực phẩm: Giá trị sản xuất trong lĩnh vực
này của huyện năm 2002 đạt 6444 triệu đồng, chiếm 61,16% giá trị sản xuất công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp. Về số lượng cơ sở sản xuất có 317 cơ sở. Trong đó có có 212 hộ
gia đình sản xuất rượu, 02 cơ sở sản xuất đồ mộc dân dụng và 103 hộ gia đình sản xuất
bún, bánh đậu phụ, xay xát lương thực. Tuy nhiên, trình độ sản xuất chế biến nông lâm
sản của huyện còn nhỏ bé, và lạc hậu: Sản xuất ở các hộ gia đình, mang tính sơ chế, thủ
công nên sản phẩm làm ra có giá trị kinh tế thấp, chủ yếu là tiêu thụ tại chỗ chưa chiếm
lĩnh được thị trường và chưa mở được đầu ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp.
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng: Huyện Si Ma Cai có nhiều tài nguyên để sản
xuất vật liệu xây dựng như mỏ cát Bản Mế, mỏ đá và đất sét tại các xã Si Ma Cai, Bản
Mế, Sín Chải, Nàn Sín có trữ lượng hàng trăm triệu m
3
. Tuy nhiên sản xuất vật liệu xây
dựng của huyện chưa phát triển. Hiện nay sản xuất vật liệu xây dựng của huyện chỉ có 02
doanh nghiệp, 1 hợp tác xã và 2 tổ hợp tác với khoản gần 100 lao động. Sản xuất mang
tính thủ công, chưa sử dụng nhiều máy móc. Giá trị sản xuất vật liệu xây dựng còn thấp
do chủ yếu tiêu thụ tại chỗ và đang gặp khó khăn về thị trường. Năm 2002 giá trị sản
xuất vật liệu xây dựng đạt 1.075 triệu đồng. Sản phẩm chủ yếu bao gồm: Gạch xây dựng
là 2.000.000 viên, đá xây dựng 1.000m
3
; cát 6.500m
3
Sản xuất và sửa chữa cơ khí nhỏ: Chủ yếu là sản xuất nông cụ cầm tay. Toàn
huyện có 17 lò rèn, đúc theo thời vụ, 02 hộ sản xuất kinh doanh hàng nông cụ chuyên
nghiệp và 1 tổ sản xuất nông cụ hợp tác xã sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng Si
Ma Cai. Năm 2002 giá trị sản xuất và sửa chữa cơ khí của huyện đạt khoảng 742 triệu
đồng. Các sản phẩm chủ yếu là dao, cuốc, xẻng và lưỡi cày các loại. Các hộ gia đình và
tổ sản xuất thuộc hợp tác xã sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Si Ma Cai còn thiếu
máy móc, thiết bị, lao động chưa có tay nghề được đào tạo.
b. Ngành dịch vụ:

trong đó đặc biệt cây lương thực còn chiếm tỷ trọng lớn, chưa khai thác tốt các lợi thế
của huyện.
Ruộng đất phân tán, manh mún hoạt động chưa hiệu quả làm năng suất cây trồng,
vật nuôi và năng suất lao động còn chưa cao.
Chủ yếu vẫn là sản phẩm thô dẫn đến thừa trong thời vụ và thiếu hụt trái vụ
không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn lạc hậu mang tính thủ công là chủ yếu,
chưa mang tính sản xuất hàng hoá cao.
Các cơ sở sản xuất còn thiếu vốn đầu tư và phát triển đặc biệt là đầu tư cho công
nghiệp chế biến nông sản, công nghệ, thiết bị cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp.
Quản lý nhà nước của huyện còn yếu kém. Huyện thiếu cán bộ chuyên trách để
theo dõi và tư vấn cho sản xuất nông nghiệp, cũng như công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp.
19
PHẦN III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở HUYỆN SI MA CAI.
1. Giảm nông nghiệp, tăng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ:
Với đặc điểm huyện miền núi biên giới núi cao độ dốc lớn, kinh tế xã hội chậm
phát triển, dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém… là những thách thức lớn trong quá trình
phát triển, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải từng bước vững chắc, lấy sản xuất, nhất là sản xuất hàng
và hiệu quả kinh tế đầu tư để làm cơ sở so sánh đánh giá, giải quyết những bức xúc về xã
hội, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ. Để đạt được
những kết quả này với điều kiện tự nhiên sẵn có diện tích đất nông nghiệp là 6.694,46ha
như vậy tuy là huyện dựa trên phát triển nông nghiệp là chủ yếu nhưng khả năng mở
rộng diện tích canh tác lại không còn nhiều, muốn phát triển nền kinh tế tất yếu phải có
chủ trương lâu dài trong việc chuyển hướng dần từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất

năm 2010 đạt 6.750 triệu đồng tăng so với năm 2002 là 4.586 triệu đồng.
3. Giảm cây có giá trị thấp trong trồng trọt:
Hiện nay trên toàn huyện các loại cây trồng chủ yếu trong ngành trồng trọt là cây
lúa nước, ngô, cây đậu tương, cây lạc, cây thuốc lá, và các loại cây hoa màu khác. Song
được phổ biến nhất là cây lúa nước, ngô và cây đậu tương. Đậu tương là cây trồng có giá
trị kinh tế cao và rất phù hợp với loại đất và điều kiện khí hậu của huyện. Đây là loại cây
trồng có ý nghĩa hàng hoá và tham gia vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện.
Như vậy việc đẩy mạnh trồng cây đậu tương là thực sự cần thiết trong chiến lược chuyển
dịch cơ cấu cây trồng của huyện. Nếu tính giá trị trên một đơn vị diện tích thì giá trị của
cây đậu tương lớn hơn nhiều so với cây ngô, thậm chí có nơi còn cao hơn cả trồng lúa
nước, nhưng do nhận thức của người dân còn quá xa với việc sản xuất hàng hoá và
chuyên môn hoá trong nông nghiệp, tật tục canh tác tự cung tự cấp nên việc chuyển đổi
cây trồng gặp không ít những trở ngại và khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách.
Trên địa bàn huyện còn có thể trồng cây thuốc lá phát triển rất tốt. Năm 2002 đã trồng
30ha thuốc lá, nhưng công tác bảo quản, sơ chế chưa kịp thời nên không đạt được yêu
cầu đạt ra sau thu hoạch. Các loại cây ăn quả như mận tam hoa, mận địa phương, lê và 1
số cây thảo dược khác cũng phù hợp trồng và có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên việc tăng
diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao này cần phải có kế hoạch, nghiên cứu và
tìm đầu ra của sản phẩm, do đặc điểm của cây trồng, chưa có kế hoạch và phương pháp
bảo quản sản phẩm nên luôn bị thừa, hoặc bán với giá rất thấp vào mùa vụ, thiếu hụt và
không có vào trái vụ. Xét về giá trị sản phẩm cần giảm diện tích trồng ngô. Đây là loại
cây trồng chiếm diện tích lớn nhất trong trồng trọt nhưng giá trị kinh tế lại không được
cao.
II. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở
HUYỆN SI MA CAI
1. Vấn đề quy hoạch ruộng đất và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
21
a. Vấn đề quy hoạch ruộng đất.
Ruộng đất luôn là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt là
trong nông nghiệp. Do vậy giải pháp về ruộng đất là hết sức cần thiết trong việc chuyển

mới đoạn đường Bản Mế - Tả Gia Khâu - Pha Long của huyện Mường Khương và đoạn
đường Si Ma Cai thông với đoạn đường của huyện Mã Quan (Trung Quốc) nhằm giao
lưu kinh tế bên ngoài mở rộng thị trường hàng hoá trong huyện. Thực hiện nhanh chóng
22
và đầu tư cơ sở vật chất khai thác mỏ kẽm ở bản mế. Đầu tư công nghệ chế biến và bảo
quản nông sản khắc phục dư thừa nông sản phẩm trong thời vụ và thiếu hụt trái vụ. Về
thuỷ lợi về cơ bản đã tương đối ổn định, cần nâng cấp một số đập xây như đập ở Ngải
Phóng chỗ (xã Sín Chéng), Hoá Sư Phùng (Sán Chải).
2. Giải pháp về vốn, thị trường, đào tạo dân trí
a. Giải pháp về vốn
Trước hết là huy động vốn nhàn rỗi trong dân thông qua hệ thống tài chính - ngân
hàng đây là nguồn vốn lớn còn đọng lại chưa được khai thác triệt để. Có chính sách hợp
lý huy động vốn nhiều hơn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến và bảo
quản.
Củng cố phát triển thị trường vốn ngắn hạn truyền thống ở nông thôn đã được
nhân dân chấp thuận, mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàng tới các cụm xã, liên xã
gắn liền với các tổ chức tín dụng. Phát huy tốt vai trò của các quỹ tín dụng nhân dân, của
các đoàn thể thanh niên, phụ nữ… Và các hiệp hội như: Nông dân, cựu chiến binh, hộ
làm vườn… trong hỗ trợ sản xuất tạo công ăn việc làm, phối hợp chặt chẽ giữa các
ngành, các cấp, các hiệp hội… tạo điều kiện và môi trường pháp lý để tận dụng và khai
thác có hiệu quả các nguồn vốn vay.
Sử dụng hợp lý nguồn vốn ngân sách, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho
các dự án đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào nền kinh tế huyện nhà.
b. Giải pháp về thị trường
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá thì
yếu tố thị trường là rất quan trọng. Nền kinh tế muốn phát triển mạnh thì phải mở rộng và
phát triển thị trường đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Đào toạ đội ngũ cán bộ có kiến thức về thị trường, đẩy mạnh công tác tìm kiếm
thị trường trong tỉnh, trong nước và nước ngoài, tư vấn cho các xã để đổi mới đa dạng
hoá sản xuất và ổn định việc tiêu thụ sản phẩm. Chuyển dịch nền kinh tế của huyện gắn

vốn tín dụng, thuế và chính sách hỗ trợ sản xuất đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa…
một cách phù hợp với điều kiện của huyện. Khuyến khích nông dân sử dụng giống mới,
tham gia vào các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Tạo điều kiện hỗ trợ cho người dân
chuyển sang dịch vụ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển cây trồng vật
nuôi đặc sản mang tính hàng hoá trong từng hộ.
b. Hình thức sản xuất theo trang trại.
Cho đến nay vẫn chưa có một hình thức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại
trên địa bàn của huyện. Xét về điều kiện khí hậu, địa hình, kinh tế - xã hội của huyện có
thể phát triển được các tiểu kinh tế trang trại ở các xã như Sín Chéng, Bản Mế, Si Ma
Cai. Trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nông nghiệp. Nó tạo ra
khối lượng sản phẩm lớn góp phần chuyển đổi cơ cấu trong nông thôn. Khuyến khích tập
trung đất đai và giao khoán rừng cho các hộ, mở các lớp tập huấn quản lý sản xuất kinh
doanh, áp dụng khoa học kỹ thuật trong mô hình kinh tế trang trại. Khôi phục lại trang
trại chăn nuôi gia súc ở xã Bản Mế, có chính sách vốn ưu đãi cho người dân đầu tư vào
các trang trại nhỏ phối hợp với bên ngoài tìm đầu ra cho các trang trại sản xuất hàng hoá.
c. Sản xuất hợp tác xã
24
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Hợp Tác và Hợp Tác Xã là rất quan
trọng nó tạo ra một lực lượng sản xuất lớn mạnh đồng thời là lực lượng sản xuất hàng
hoá. Để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, cần phát triển hợp tác xã trong
những năm tới.
Huyện Si Ma Cai hiện nay đã có một hợp tác xã và 2 tổ hợp tác sản xuất. Hợp tác
xã còn rất nhỏ, chủ yếu là sự hợp tác giữa các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp vào
các mùa vụ nhưng không có tổ chức.
Chuyển mạnh công tác dịch vụ từng bước xây dựng HTX kiểu mới, có chủ
trương thích hợp khuyến khích hợp tác xã phát triển. Đẩy mạnh công tác giao đất nông -
lâm nghiệp thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi của hợp tác xã, thành lập HTX mới sang kinh
doanh dịch vụ theo cơ chế thị trường.
4. Một số chính sách hỗ trợ.
Huyện Si Ma Cai là huyện nghèo tài nguyên cơ sở vật chất thiếu thốn vì vậy rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status