Lý Thuyết Phát Triển - các nghiên cứu cổ điển của trường phía sự phụ thuộc - Pdf 20

Phụ lục
I/. Các nghiên cứu cổ điển của Trường phái sự phụ thuộc
1/. Baran: Chủ nghĩa thực dân ở Ấn Độ.
a) Tác động về kinh tế.
b) Tác động về chính trị, văn hóa.
2/. Các tác giả của tạp chí Monthly Review: Cái bẫy nợ nước ngoài của
các nước Châu Mỹ La Tinh
a) Nguồn gốc của các vấn đề nợ nước ngoài
b) Tác động của nợ nước ngoài
c) Giải pháp cho vấn đề nợ nước ngoài
- Tuyên bố vỡ nợ có phải là giải pháp khả thi
- Giải pháp xin các ngân hàng nước ngoài nhượng bộ có khả thi
3/. Landsberg: Chủ nghĩa thực dân “kiểu mới” ở các nước Đông Á
a) Bối cảnh lịch sử
b) Bản chất của ELI: Nước nào đang xuất khẩu sang nước nào?
c) Nguồn gốc ELI
d) Ảnh hường của ELI
II/. Sức mạnh của Trường phái sự phụ thuộc
III/. Những phê phán với những nghiên cứu cổ điển Trường phái sự phụ
thuộc
a) Về phương pháp nghiên cứu
b) Về khái niệm củ sự phụ thuộc
c) Về hàm ý, chính sách
IV/. Kết luận

1
I/. Các nghiên cứu cổ điển của Trường phái sự phụ thuộc
1. Baran: Chủ nghĩa thực dân Ấn Độ
Nghiên cứu của Baran về Ấn Độ(1957, p.144-150) đã trở thành một trong số
những bản báo cáo về vấn đề đang xảy ra ở các nước thuộc thế giới thứ ba
sau quá trình bị xâm chiếm làm thuộc địa.

Để mở rộng được nông nghiệp và đạt được thị trường hàng dệt may thế giới
nước Anh cần phải hạn chế tiềm năng dệt ở Ấn Độ và mở rộng thị trường
tới bên kia bờ biển. Do đó sau khi Anh xâm chiếm Ấn Độ công ty East Ấn
Độ và nghị viện Anh bắt đầu chính sách: “Hạn chế quá trình CNH” Quoting
Romesh Dutt (1901), Baran (1957, p.147) đã khuyến cáo chính phủ Anh.
Kìm hãm nền công nghiệp Ấn Độ bằng những đạo luật và khuyến
khích sự tăng trưởng của công nghiệp Anh. Kìm hãm các chính sách theo
đuổi mười năm cuối thế kỉ XVIII và mười năm đầu thế kỉ XIX đã làm cho
Ấn Độ phải phụ thuộc vào nền công nghiệp của nước Anh. Nhưng chính
sách đó lại gây ảnh hưởng đến người công nhân làm việc trong công ty,
những người buôn bán được giao cho những cơ quan quyền lực trung ương
và địa phương về dệt may. Những biểu thuế quan được đặt ra để ngăn chặn
quá trình sản xuất tơ lụa, cotton từ Ấn Độ sang Anh. Hàng hóa Anh đưa vào
Ấn Độ không bị đánh thuế hoặc đánh thuế rất thấp. Những chính sách đó
được đưa ra với mục đích kiềm chế sự phát triển của nền công nghiệp Ấn
Độ. Và một thời gian sau khi sức mạnh của những chính sách này ảnh hưởng
đến Ấn Độ, chính phủ Anh lại một lần nữa hành động gây sự bất công
nghiêm trọng cho Ấn Độ vì lí do ghen tị. Thuế hàng hóa đã được áp đặt lên
nền sản xuất cotton của Ấn Độ và đã bóp nghẹt sự cố gắng của Ấn Độ.

3
Thêm vào chương trình hạn chế quá trình công nghiệp hóa, Anh muốn
Ấn Độ trở thành nước cung cấp đầy đủ nguyên liệu sợi cho công nghiệp dệt
ở Anh. Kết quả là Ấn Độ rơi vào thời kì khủng hoảng. Baran cho rằng nông
nghiệp là điều còn lại duy nhất ở quốc gia đã từng giàu có như Ấn Độ vào
thế kỉ 19.
Bần cùng hóa nông thôn Ấn Độ.Điều đó làm tê liệt nền nông nghiệp,
ngăn cản sự cứu tế và làm cho những người quản lí đất đai rơi vào tình trạng
nghèo nàn và mắc nợ. Thực tế ở Ấn Độ địa vị xã hội được đánh giá bằng sự
gàu có và tích lũy đất đai. Việc can thiệp tới doang thu và lợi ích của người

cho những hàng nghìn người chết đó, đẩy họ tới nghèo khổ.
Sau sự điều hành kiên quyết của các chính quyền thuộc địa, mọi người
bắt đầu tin vào người dân thuộc địa. Tất nhiên, không phải tất cả những
người bản xứ đều tuân theo chỉ có nhũng người được hưởng ưu đãi mới
chọn cách trung thành với các chính phủ thuộc địa- người giữ mối quan hệ
mật thiết với các quốc gia bên ngoài. Trường phái gọi những người bản xứ
được ưu đãi đó là “giai cấp trên của xã hội” và những người địa chủ bản địa
nhận ra tham gia vào chính quyền thuộc địa mang lại cho họ quyền lực.
Ngược lại, chính phủ thuộc địa muốn những người địa chủ giữ yên bình
trong đất nước mình và đẩy mạnh xuất khẩu nông nghiệp. Như vậy, Baran
xác nhận rằng tại Ấn Độ Anh quốc đã củng cố quyền lực của mình bằng
cách tạo ra và ra quyền lực cho giai cấp mới- giai cấp liên minh, những
người phụ thuộc quyền lợi vào sự tồn tại của nước này, tầng lớp địa chủ, quý
tộc. Đó là tất cả những phương pháp chính trị có mục đích mà nước Anh
theo đuổi trong giai đoạn này để tạo ra sự phân chia ở Ấn Độ.

5
Để tạo thuận lợi cho sự thống trị chính trị, Anh đã thông qua một chính sách
giáo dục nhằm giúp cho người bản địa ở Ấn Độ thoát khỏi bóng tối và sự
ngu dốt. Theo Baran:
Nước Anh tổ chức và giám sát hệ thống giáo dục đã làm tất cả có thể
để thúc đẩy sự tăng trưởng của khoa học và công nghiệp của Ấn Độ. Chúng
ta không thấy rằng, thay vì giảng dạy người dân hiểu được thế giới của họ
mà dạy cho họ biết những điều trong các lý thuyết của thế kỉ XVI và thế kỷ
XVII để tìm hiểu lịch sử cai trị một đất nước
Kể từ khi nền kinh tế, chính trị của Ấn Độ đã được khôi phục trong
suốt thời gian là thuộc địa của chính quyền thực dân Anh trong hơn một thế
kỷ, Baran khẳng định: Ngay cả sau khi giành độc lập, thì di chứng đó vẫn
tồn tại. Trích dẫn Nehru, Baran (1957, p.149) đồng ý rằng “gần như tất cả
các vấn đề chính của chúng ta ngày hôm nay vẫn tồn tại, trong thời gian bị

8/1/1989. Trang 33). Điều này có nghĩa là 80% thu nhập từ xuất khẩu của
Mê-hi-cô cũng chỉ vừa đủ để trả số tiền lãi hàng năm của món nợ này, chứ
chưa nói gì đến trả món nợ gốc.
Sự gia tăng nợ nước ngoài làm các quốc gia nói trên ngày càng phụ
thuộc sâu sắc vào Hoa Kỳ và các nước tư bản phát triển. Và nợ nước ngoài
đã đóng vai trò quyết định đến bản chất phát triển của các quốc gia Mỹ La-
tinh ngay từ thập kỷ 80. Đến đây, bạn có thể tự hỏi: Vậy nợ nước ngoài có
nguồn gốc như thế nào? Nợ nước ngoài đã ảnh hưởng như thế nào đến các
quốc gia Mỹ La-tinh? Đâu là giải pháp khả thi cho vấn đề nợ nước ngoài?
a, Nguồn gốc của các vấn đề nợ nước ngoài7
Trước hết, để minh họa vấn đề món nợ Mỹ la-tinh của các nước phát
triển như thế nào? Chúng ta có thể tập trung vào sự phát triển của Mexico
trong hai thập kỷ qua. Ở giữa những năm 1970, chính phủ của Tổng thống
Luis Echeveria ở Mexico đã đề ra một số chương trình cải cách giáo dục,
chăm sóc y tế, và các phúc lợi cho người nghèo và những người thất nghiệp.
Chính phủ Echeveria cũng đẩy mạnh ngành công nghiệp hóa và xây dựng cơ
sở hạ tầng như xây dựng đường cao tốc, sân bay, bến cảng Tuy nhiên, để
cấp vốn cho những dự án quy mô lớn này đã làm cho Chính phủ bội chi
ngân sách một cách trầm trọng.
Một vấn đề khác cũng làm nghiêm trọng thêm cán cân thành toán của
Chính phủ là để tiến hành công nghiệp hoá, Mê-hi-cô phải nhập khẩu nhiều
máy móc, sắt thép và công nghệ sản xuất. Điều này dẫn đến tình trạng nhập
siêu nên Mê-hi-cô cần rất nhiều tiền để thanh toán lượng đơn hàng nhập
khẩu ngày càng tăng.
May mắn thay, Mexico phát hiện ra rằng họ đang sở hữu một trong
những lĩnh vực giàu có nhất trên thế giới là dầu mỏ. Hơn nữa, có một sự
bùng nổ dầu vào những năm 1970: giá dầu tăng cao, điều đó chứng tỏ nhu

Diễn đạt theo cách khác, từ năm thứ 8 trở đi, ngoài số tiền vay 1000 đô-la
để tiếp tục đầu tư, quốc gia này mỗi năm sẽ phải vay thêm 1000 đô-la nữa
chỉ để trả hạn mức lãi và khấu hao cho số tiền đã vay trước đó. Điều này lý
giải cho ta thấy vì sao nợ nước ngoài của Mê-hi-cô cũng như các quốc gia
phải vay nợ khác lại tăng nhanh chóng như vậy. Thế là sau vài năm liên tiếp
vay nước ngoài ở mức 4-6 tỷ đô-la/năm, nợ nước ngoài của Mê-hi-cô đã lên
tới 55 tỷ vào năm 1982.

9
Từ sau năm 1982, Mê-hi-cô đã phải vay mỗi năm thêm 9 tỷ đô-la chỉ
để dùng vào việc trả lãi và khấu hao cho món nợ đã vay mấy năm trước đó.
Năm 1980, tổng nợ nước ngoài của Hê-hi-cô đã là 106 tỷ đô-la.
Do tính chất luỹ tiến của nợ nước ngoài nên các nhà nghiên cứu đã không
sai khi so sánh nó với tình trạng nghiện ma tuý. Giống như người nghiện ma
tuý phải tăng dần cơ số thuốc gây nghiện sử dụng hàng ngày mới đảm bảo
"đủ đô", các quốc gia trót mắc vào vòng xoáy nợ nần cũng phải tăng dần số
tiền vay hàng năm mới trả nổi khoản lãi và khấu hao vốn 'tới hạn". Quốc gia
vay nợ cũng giống như con nghiện ma tuý, khó có thể cai được 'thói quen'
chết người này.
b, Tác động của vấn đề nợ nước ngoài
Phần này ta phải trả lời câu hỏi: Vấn dề nợ nước ngoài ảnh hưởng đến
kinh tế chính trị học của các nước thế giói thứ 3 như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này ta sẽ xem xét thực trạng vấn đề này ở một số nước
châu Mỹ-la tinh.
Với thực trạng: Giá dầu rớt, kinh tế thế giới suy thoái và các khoản nợ
nước ngoài thì không ngừng tăng lên, năm 1982 Mexico và Brazil đã phải
tuyên bố không thể theo kịp với các khoản lãi suất thanh toán nữa. Thông tin
này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng với món nợ lớn hơn 300 tỉ đô la. Để
giải quyết vấn đề này, một nhiệm vụ được đặt ra cho các ngân hàng thế giới,
quỹ tiền tệ thế giới và các ngân hàng Mỹ đó là phải cứu các con nợ. Một số

khủng hoảng tài chính bằng việc xô đẩy để chuyển đổi từ peso về đô la Mỹ.
Thứ 2, lạm phát tăng cao. Đầu những năm 1980 tỉ lệ lạm phát hàng
năm của Mexico vào khoảng 80%. Brazil và Peru thậm chí còn tệ hơn,ở
Brazil tỉ lệ lạm phát hơn 200% năm 1985 và khoảng 500% năm 1986; Peru
tỉ lệ lạm phát tồi tệ nhất khoảng 1700% năm 1989.

11
Thứ 3, các con nợ suy giảm kinh tế mạnh mẽ trong những năm 1980.
GNP của Mexico giảm từ 8% năm 1978 còn -5% năm 1983. Nhiều nước
thiếu nợ tỉ lệ thất nghiệp đã lên đến hơn 50%.
Thứ 4, các xung đột chính trị trong xã hội của các quốc gia thiếu nợ
ngày một tăng. Các cuộc biểu tình và đình công trở lên phổ biến ở các quốc
gia Mỹ -la tinh những năm 1980. Năm 1983 có 1 sự nổi loạn do đói ở Brazil
với việc cư dân thành phố cướp thực phẩm ở các siêu thị.
Thứ 5, việc chống lại các phong tục Mỹ của các dân tộc Mỹ-la tinh
ngày một tăng. Họ bắt đầu khiển trách sự đau khổ và mức sống thấp của họ
trên các ngân hàng Mỹ và chính phủ Mỹ. Từ quan điểm phụ thuộc, người
dân tại Mỹ-la tinh sẽ được giảm giá tốt hơn nhiều nếu những tỉ đôla đã được
chi tiêu vào phúc lợi trong nó và các chương trình việc làm thay vì cho các
ngân hàng nước ngoài.
c, Giải pháp cho vấn đề nợ nước ngoài
Vấn đề món nợ này có thể được giải quyết như thế nào? Sự lựa
chọn nào khả thi cho các nước vay nợ và các nước chủ nợ là gì? Nếu các
nước vay nợ không có khả năng trả nợ đúng hạn thì liệu có khả năng cho họ
được ra hạn trả nợ? Liệu các nước vay nợ đơn giản tuyên bố rằng họ không
thể trả nợ và xóa bỏ trách nhiệm trả nợ?
Nợ mặc định có thể là một lựa chọn, nhưng không chắc rằng nó sẽ
được chấp nhận bởi các nước vay nợ. Từ quan điểm phụ thuộc, các con nợ-
chủ nợ là một mối quan hệ chính trị. Nếu các chủ nợ có tác động mạnh và
quyền lực thì rất khó khăn cho các con nợ. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta

nhượng bộ từ các ngân hàng nước ngoài. Tháng 3 năm 1986, các quốc gia
con nợ tại Mỹ Latinh đã tổ chức một cuộc họp để đối phó với các bẫy nợ.
Cuộc họp đạt kết luận sau đây :

13
1. Cần phải có một sự giảm lãi suất trong quá khứ và tiền vay tương
lai. Các quốc gia Mỹ Latinh vay lãi suất 14-16% vào cuối những năm 1970.
Kể từ khi lãi suất thấp hơn nhiều lần vào giữa thập niên 1980, các quốc gia
Mỹ Latinh hy vọng rằng các ngân hàng nước ngoài có thể cắt giảm từ 2-4%
lãi suất cho vay của họ.
2. Cần phải có thời gian hoàn trả nợ vay. Những khoảng thời gian dài
có thể giảm nhẹ gánh nặng của các khoản thanh toán lãi suất đáng kể.
3. Cần phải cũng có một giới hạn trên số lượng thu nhập xuất khẩu
không thể được dùng để bỏ ra những sự quan tâm trên món nợ. Các quốc gia
thiếu nợ không có khả năng chi trả 80% hoặc hơn từ các khoản thu nhập
xuất khẩu của họ, bởi vì sau đó họ sẽ không có đủ tiền để nhập khẩu công
nghệ cần thiết cho công nghiệp nước ngoài trong nước.
Trong tổng kết, các quốc gia thiếu nợ yêu cầu những ngân hàng nước
ngoài nhượng bộ. Các ngân hàng nước ngoài cũng lo ngại về viễn cảnh của
mặc định trên 300 tỷ đô la nợ Thế giới thứ ba. Nhiều ngân hàng Mỹ đã vay
quá nhiều đến các quốc gia Mỹ Latinh. Ví dụ, Ngân hàng của Mỹ, Citibank
và Ngân hang Chase Manhattan có khoảng 30-40% vốn của họ bị bó buộc
trong món nợ thế giới thứ ba. Nếu những quốc gia Thế giới thứ ba trốn tránh
trả nợ và tuyên bố phá sản, các ngân hàng Mỹ và các tập đoàn đa quốc gia
khác sẽ phải làm như vậy, bởi vì họ đã được mật thiết với nhau được kết nối
với các quốc gia con nợ. Đối mặt với điều này sẽ xảy đến khủng hoảng kinh
tế, những ngân hàng nước ngoài sẵn sàng để cầm lấy một chân " mềm " và
để đàm phán với những nước thiếu nợ về việc làm thế nào để giảm tỷ lệ lãi
suất và để kéo dài thời hạn cho vay. Trên thực tế, những ngân hàng nước
ngoài không muốn giết chết ngỗng mà đặt những trứng bằng vàng.

các nước thế giới thứ ba gặp khó khăn vì những lý do sau đây. Trước tiên,

15
với các cơ sở công nghiệp nhỏ, các nước thứ ba thế giới đã bị buộc phải chi
một khoản tiền lớn của ngoại tệ để nhập khẩu gần như tất cả các hàng hóa
sản xuất. Thứ hai, để kiếm được đồng tiền nước ngoài, các nước thế giới
thứ ba phải dựa vào xuất khẩu hàng hóa: đường, cao su, chè… là đối tượng
biến động trên thị trường quốc tế. Thứ ba, việc thiếu ngoại tệ dẫn đến sự khó
khăn: nợ nước ngoài đáng kể.
Do đó, chiến lược thay thế xuất khẩu thành nhập khẩu, công nghiệp
ISI (import –substituded industrialization) đã được đề xuất để giúp Thế giới
thứ ba nước này thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa. Ngoài
ra, thay vì nhập khẩu tất cả các hàng hóa sản xuất, thông qua ISI các nước
này sẽ theo đuổi việc thay thế các hàng nhập khẩu trong nước bằng cách
thúc đẩy sản xuất công nghiệp.
Tuy nhiên, theo Landsberg, các nước đế quốc sẽ ngăn chiến lược ISI
thành công. Trước tiên, vì đa số dân cư ở các nước thứ ba thế giới vẫn
nghèo, lượng người tiêu dùng hàng hoá thị trường còn ít, nếu có thì là số
lượng nhỏ. Vì vậy, sản xuất trong nước đã hướng về phía một thị trường đô
thị nhỏ sang trọng mà người tiêu dùng lâu dài. Thứ hai, các giai cấp tư sản
không có vốn và công nghệ cho sự nghiệp công nghiệp trong nước. Kết quả
là phải nợ nước ngoài và công nghiệp phụ thuộc vào sự thống trị của nước
ngoài. Thứ ba, thay vì nhập khẩu hàng hoá nước ngoài, họ nhanh chóng
nhập khẩu vốn và công nghệ nước ngoài. Sau đó, là sự bỏ qua lợi nhuận lớn
trở về nước nhà của các tập đoàn xuyên quốc gia(TNCs). Kết quả là, số tiền
thâm hụt từ sự mất cân bằng các khoản thanh toán tại các nước thế giới thứ
ba vẫn tiếp tục tăng lên theo chương trình ISI. Tóm lại, Landsberg lập luận
rằng các kết quả của chương trình ISI không thành công: sự bất bình đẳng
thu nhập ngày càng tăng, công nghiệp hóa hạn chế, bị nước ngoài thống trị,
và thâm hụt lớn vào các khoản nợ.

17
thập niên 1960. Tuy vậy những nước nhỏ này chuyên sản xuất hàng hóa hiện
đại như sản xuất quần áo, ánh sáng, và kỹ thuật kim loại, và các sản phẩm
điện tử. Hơn nữa, các nước nhỏ này đã trở thành nhà xuất khẩu rất thành
công, kết quả là các nước thế giới thứ ba càng phát triển trên thị trường thế
giới. Sau đó, đằng sau sự tăng trưởng xuất khẩu của các nước Nhóm B là
những gì? Điều gì giải thích động lực bất ngờ của họ về hướng ELI trong
những năm 1960?
c,Nguồn gốc của ELI
Theo một nhà nghiên cứu của trường phái sự phụ thuộc, ELI đại diện
cho một lời hứa sai của hệ thống tự mở rộng nền kinh tế tư bản. Trong thế
giới thứ 3, Landsberg lập luận rằng ELI chỉ là một hình thức mới của sự
thống trị tư bản quốc tế và không thể phục vụ như là một mô hình cho sự
phát triển bản địa Thế giới thứ ba.
Đối với Landsberg, điều giải thích của ông nằm trong chính sách”
thầu phụ quốc tế” được thiết kế bởi các tập đoàn xuyên quốc gia. Để nắm bắt
được thị trường tiêu dùng ở các nước tư bản tiên tiến các TNCs đã sử dụng
của các hãng thế giới thứ ba để sản xuất sản phẩm hoặc toàn bộ các thành
phẩm của sản phẩm. Một loạt các mối quan hệ pháp lý được hình thành giữa
TNCs và các nhà thầu phụ, các công ty con hoàn toàn sở hữu liên doanh và
sản xuất độc lập. Từ quan điểm của các thầu phụ quốc tế, ELI báo hiệu một
giai đoạn mới trong bộ phận lao động của quốc tế trong đó các hoạt động
sản xuất đã được chuyển giao từ các nước tư bản tiên tiến tiến tới các nước
thế giới thứ ba.
Landsberg đề cập tới một vài lý do cho sự tăng trưởng của thầu phụ
liên quốc gia. Đầu tiên, đã có sự mở rộng thị trường tiêu dùng ở một số nước
tư bản tiên tiến. Do đó các tập đoàn xuyên quốc gia cạnh tranh với nhau để
nắm bắt được thị trường tiêu dùng mở rộng ở các nước cốt lõi.

18

sự phát triển văn hoá bản xứ của các nước thứ 3.
Trước hết, vì những nước thế giới thứ 3 đã thực thi ELI, nền sản xuất
công nghiệp của họ được mở rộng cho xuất khẩu. Do vậy, sự đầu tư về công
nghệ và nhân lực cũng được mở rộng do nhu cầu của người tiêu dùng và nhu
cầu của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Nền sản xuất công nghiệp của
họ không liên quan gì tới nhu cầu của công nhân và nông dân.
Thứ hai, quá trình hợp tác thường được phân loại với các công nhân
có trình độ thấp cho tiến trình sản xuất cơ bản (như công việc lắp ráp chất
bán dẫn). Do đó, bản chất của các hợp đồng tạo cho nó không giống các
công nghệ tiến bộ sẽ được chuyển sang các nước thế giới thứ 3. Ở đó sẽ có
sự nâng cấp trình độ của lực lượng lao động hoặc công nghệ cao cho chúng
ta biết sự gắn liền toàn bộ tiến trình sản xuất sẽ biểu lộ sự hợp tác giữa các
quốc gia.
Thứ ba, việc không coi trọng liệu một công ty thuộc thế giới thứ 3
là công ty cổ phần với các tập đoàn đa quốc gia hay độc lập, nó thường
không có ưu thế trong các tiến trình ký kết. Landsberg chỉ ra rằng các tập
đoàn đa quốc gia luôn luôn ghi nhớ quá trình điều hành phức tạp trong toàn
bộ tiến trình (nghiên cứu, thiết kế, quá trình vận chuyển, kho hàng và tiếp
thị). Vì thế các công ty thuộc thế giới thứ 3 phụ thuộc vào TNCs trong việc
cung cấp các nguyên liệu đầu vào, công nghệ hiện đại, dịch
vụ và sự hỗ trợ kỹ thuật, xâm nhập thị trường và xuất khẩu trực tiếp.
Một điều không thể cho thế giới thứ 3 là đạt được nền công nghiệp hoá tự

20
chủ của các nước TBCN dưới sự phụ thuộc trong điều kiện hợp đồng quốc
tế.
Thứ tư, Landsberg chỉ ra rằng các nước nhóm B cũng đang cố gắng
nâng cấp và hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu để xây dựng nền tảng công
nghiệp hoá. Landsberg rất bi quan về khả năng thành công của họ bởi vì các
tập đoàn đa quốc gia đang giữ sức mạnh để xây dựng lại những hợp đồng từ

khủng hoảng nợ đã dẫn tới sự mất giá của tiền tệ trong nước, tăng lạm phát,
giảm GNP, và thất nghiệp, kéo theo là sự bất ổn chính trị và xã hội.
Landsberg mô tả nguồn gốc kinh tế công nghiệp Đông Á gần đây là do nêu
bật các yếu tố như chi phí lao động cao ở các nước tư bản tiên tiến, đổi mới
công nghệ mới về vận chuyển và giao tiếp, và năng suất cao và mức lương
thấp ở các bang Đông Á.
Phụ thuộc đối lập với sự phát triển. Các lý thuyết cổ điển phụ thuộc là
điều kiện của họ trong phân định hiệu ứng có hại của sự phụ thuộc vào các
nước thứ ba thế giới. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự phát triển, tự trị ở các
nước thế giới thư ba là không thể. Vì vậy Baran lập luận rằng những tồn tại
lịch sử của chủ nghĩa thực dân vẫn còn ám ảnh sự phát triển hiện nay của Ấn
Độ. Vay tiền từ ngân hàng phương Tây chỉ trầm trọng hơn vấn đề phụ thuộc
tài chính của các nước Mỹ Latin, càng hỗn loạn về kinh tế và bất ổn về chính
trị.
III/ . Những phê phán với những nghiên cứu cổ điển. Trường phái sự
phụ thuộc
Quan điểm phụ thuộc đã là chủ đề của rất nhiều lời chỉ trích kể từ năm
1970. Các nhà phê bình không hài lòng với các phương pháp và khái niệm

22
của phụ thuộc, hoặc với những hàm ý chính sách của các nghiên cứu phụ
thuộc.
Trường phái sự phụ thuộc nổi lên như là một lời phê phán với trường
phái hiện đại hóa, nó lên án nghiên cứu của HĐH đã cung cấp tư tưởng biện
minh cho các nước phương Tây để khai thác nước Thế giới thứ ba. Đáp lại
lời chỉ trích này, các nhà lý thuyết hiện đại hóa phản bác quan điểm của
trường phái sự phụ thuộc như là một đoạn tuyên truyền của các nghiên cứu
chủ nghĩa Mác, cách mạng phụ thuộc chỉ có trong lý thuyết hơn là xảy ra
trong thực tế. Thay vì cung cấp một phân tích khoa học của những gì đã thực
sự xảy ra ở các nước thế giới thứ ba, mà đó lại là những quan điểm chung

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status