MỞ ĐẦU Địa chất là môn khoa học nghiên cứu về vỏ trái đất chủ yếu là nghiên cứu về
thạch quyển tức là quyển đá. Địa chất đại cương là phần khái quát,giới thiệu những
khái niệm chung làm cơ sở cho nghành địa chất học và đóng vai trò quan trọng cho
việc học các môn học chuyên môn về địa chất. Địa chất học là môn khoa học tự
nhiên,sử dụng phương pháp nghiên cứu logic theo khoa học tư nhiên,đi từ quan sát
đến phân tích sử lí số liệu. Có rất nhiều phương pháp để nghiên cứu địa chất,một
trong những phương pháp nghiên cứu địa chất được sử dụng phổ biến là phương pháp
nghiên cứu thực địa.
Nhằm giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học qua thực tế trên cơ sở các lý
thuyết đã được học của môn Địa chất đại cương, thực hiện quyết định số
323/QĐ.MĐC-ĐH&SĐH của phòng đào tạo, được sự cho phép của hiệu trưởng
trường Đại học MỎ ĐỊA CHẤT, khoa Địa chất, chúng tôi lớp Địa Sinh Thái k53
thuộc khoa Môi Trường tiến hành đi thực tập môn Địa chầt đại cương.
Bao gồm bốn lớp, lớp Đia Sinh Thái k53,lớp Địa Chất Bk53,lớp Đia Chất Ak53,lớp
CĐ Địa Chất k54.
Mục đích của đợt thực tập:
• Giúp sinh viên củng cố những kiến thức lý thuyết đã học trong giáo trình,vận
dụng vào thực tế.
• Tập cho sinh viên biết cách ghi chép nhật kí địa chất mô tả các hiện tượng địa
chất,từ đó có thể hoàn thành những báo cáo chuyên môn đạt yêu cầu.
• Tập cho sinh viên biết cách thu thập tài liệu thực tế đồng thời biết cách tổ chức
một đoàn,một nhóm đi khảo sát thực tế.
• Tập cho sinh viên có ý thức làm việc tập thể phục tùng sự phân công của tập
thể.
Để đạt được những yêu cầu đó yêu cầu đối với sinh viên là:
Nhận biết,phân biệt và giải thích được các hiện tượng địa chất đơn giản.
Biết cách lấy mẫu đá ngoài trời,biết được tên các đá đã thu thập được.
kê mẫu, 1 nhật ký nhóm.
- Ngoài ra chúng em còn thu thập được nhiều kiến thức về chuyên môn, cuộc sống
nói chung trong thực tập này.
Sở dĩ có được những kết quả trên 1 phần do sự nổ lực của chúng em, Nhưng điều
quan trọng là sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường và đặc
biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của các thầy hướng dẫn thực tập, ngoài ra còn
được sự giúp đỡ nhiệt tình của người dân nơi chúng em thực tập.
Ngoài ra xin cảm ơn các thành viên trong nhóm đã nỗ lực làm việc để báo cáo nhóm
được hoàn thành.
Qua đây cho phép em bẩy tỏ lòng cảm ơn tới ban giám hiệu nhà trường, các thầy
hướng dẫn thực tập và nhân dân nơi chúng em đi qua đã giúp chúng em trong đợt thực
tập vừa qua.
Hà Nội,ngày 25 tháng 8 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Mai Duy Khánh CHƯƠNG I: MÔ TẢ ĐÁ
I.1 Khái niệm chung về đá:
1. Khái niệm: Đá được xem là một tập hợp có quy luật của 1 hay nhiều khoáng vật
kết hợp lại với nhau tạo thành một thể địa chất độc lập và là một bộ phận chủ yếu cấu
tạo nên lớp vỏ Trái Đất. Thể địa chất độc lập là thể có thành phần xác định và có
nguồn gốc xác định trong một khoảng thời kỳ địa chất nhất định và nó thỏa mãn 3
điều kiện: có dạng nằm riêng biệt, có thành phần vật chất nhất định, có cấu trúc cấu
tạo riêng.
Đá có thể tồn tại ở 3 dạng:
• Rắn (granit,canxi…)
• Bở rời (cát…)
• Dẻo (sét…)
- Đá macma bazơ chúng em gặp nhóm đá xâm nhập nông dạng Diaba và
đá phun trào Bazan, Đá có màu sáng và khi bị phong hóa thì cho ra các
sản phẩm phong hóa có màu vàng…
I.2.2 Mô tả đá đá trầm tích:
Đá trầm tích là đá phát sinh trên bề mặt Trái Đất do kết quả của những phản ứng
hóa học trong môi trường, hoặc do kết quả của những lắng đọng cơ học của các đá có
trước họăc kết quả họat động của sinh vật. Trải qua quá trình bị nén ép mất nước dưới
tác dụng của nhiệt độ, áp suất cao, trải qua thời gian lâu dài thành tạo nên đá trầm
tích.
Dựa vào nguồn gốc vật liệu trầm tích mà chia ra các loại đá trầm tích:
- Đá trầm tích vụn (Cơ học).
- Đá trầm tích hóa học.
- Đá trầm tích sinh vật.
- Đá trầm tích hỗn hợp.
a) Trầm tích vụn cơ học
Đây là loại đá do sự lắng đọng của các vật liệu cơ học như cuội , cát , bột
Tuỳ theo dạng của các vật liệu lắng đọng mà người ta chia ra các loại như:
• Trầm tích cuội kết
• Trầm tích cát kết
• Trầm tích bột kết…
Trong quá trình đi thực địa chúng em gặp hầu hết các loại vật liệu trầm tích ở các
kích thước khác nhau: cuội, sỏi, cát…
Tại điểm lộ 1401 trên quốc lộ 6 trên đường đi Hòa Bình chúng em gặp một diện lộ
kéo dài khoảng 50m cao khoảng 10-15m đây là các đá bột kết và sét kết. Đá có màu
xám đen và có cấu tạo phân lớp mỏng và có thế nằm tương đối ổn định.
Điểm khảo sát ngay lưng chừng đồi bên trái lộ trình Bãi Cháy – Hoàng Thạch-
Hà Nội. tại điểm khảo sát thấy lộ ra các đá gốc là các đá trầm tích bị phong hóa mạnh
tạo ra các lớp sét kết, bột kết, có chỗ gặp sét than,theo phỏng đoán ban đầu của chúng
em thì lớp vỏ phong hóa ở khu vực này có thể dày từ 3-5m.
b) Trầm tích hóa học
cả vật liệu cơ học, vật liệu hóa học và vật liệu sinh vât.
Trong quá trình đi thực địa thì chúng em chỉ gặp chủ yểu 2 nhóm chính là bột kết và
sét kết.
Bột kết chúng em gặp tại điểm lộ khi khảo sát ở khu kho mìn và mỏ khai thác than
Hà Lầm và khu vực khai thác đá vôi của nhà máy xi măng Hoàng Thạch.
I.2.3 Mô tả đá biến chất
Đá biến chất được tạo thành trong điều kiện tác dụng của nhiệt độ,áp suất, và tác
dụng của các dung dịch hóa học làm cho đá ban đầu thay đổi về thành phần,kiến trúc
cấu tạo để hình thành loại đá mới.
Đá biến chat được chia thành:
Đá biến chất động lực
Đá biến chất nhiệt
Đá biến chất trao đổi
Đá biến chất khu vực
CHƯƠNG II : CÁC QUÁ TRÌNH ĐỊA CHẤT NỘI SINH
II.1 Định nghĩa:
Hiện tượng địa chất nội sinh là toàn bộ quá trình xảy ra trong lòng Trái Đất
duới tác dụng của năng lượng bên trong Trái Đất bao gồm: sự thay đổi tốc độ quay
của trái đất, hoạt động của macma, hoạt động biến chất, hoạt động núi lửa, động đất…
Trong quá trình thực địa chúng em chỉ nghiên cứu đến hoạt động kiến tạo của vỏ Trái
Đất như: nếp uốn, đứt gãy, hoạt động thăng trầm.
II.2 Hoạt động đứt gãy
Đứt gãy là hiện tượng đứt vỡ có dịch chuyển làm mất sự lien kết của đá. Quy mô có
thể rất nhỏ(dịch chuyển có thể từ vài cm đến vài chục cm) cho đến rất lớn(dịch
chuyển có thể từ vài km đến vài chục km,va có thể đến hang chục nghìn km). Quá
trình xuất hiện đứt gãy có thể đơn giản(xuất hiện 1 lần) cho đến mức phức tạp(tái xuất
hiện nhièu lần nhiều hướng khác nhau)
Đứt gãy được chia ra thành một số loại:
Đứt gãy thuận: là đứt gãy có cánh trên trượt xuống cánh dướ đẩy lên
Đứt gãy nghịch: là đứt gãy có cánh trên đẩy lên cánh dưới trượt xuống
tố như : H
2
O, CO
2
, nhiệt độ, áp suất, điện trong khí quyển và các hoạt động của sinh
vật và tạo ra các sản phẩm phong hóa mà các sản phẩm phong hóa này không chỉ khác
đá gốc về hình dạng, kích thước và cả tính chất.
Dựa vào bản chất của phong hóa mà người ta chia ra các loại:
- Phong hóa cơ học.
- Phong hóa hoá học.
- Phong hoá do sinh vật.
Trong đợt thực tập chúng em gặp 2 dạng chính là phong hóa cơ học và phong
hoá hóa học.
III.2.1 Phong hóa cơ học
Phong hoá cơ học là sự phá huỷ các đá, các khoáng vật duới dạng cơ học với
các tác nhân là nhiệt độ, áp suất, điện trong khí quyển. Tạo ra các sản phẩm phong
hóa có hình dạng, kích thước khác với đá gốc tuy nhiên về thành phần không có gì
thay đổi.
Phong hoá cơ học chủ yếu là do sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm, sự không
đồng nhất về thành phần thạch học trong các đá và đặc tính co, nở của các khoáng vật
là khác nhau làm cho các đá bị nứt nẻ và bị phong hóa.
Bên cạnh đó còn kể đến các hoạt động của con người làm tác động đến tính liên
tục của đất đá làm cho các đá dễ bị nứt nẻ hay vỡ vụn.
Trong quá trình đi thực địa chúng em quan sát thấy tại những nơi đất đá bị nứt nẻ
do quá trình thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm. Hoặc một số công trình xây dựng
làm cho đất đá mất đi tính liên tục và bị nứt nẻ hay vỡ vụn.
III.2.2 Phong hóa hóa học
Là quá trình phá huỷ các đất đá triệt để hơn do các tác nhân hóa học H
2
O, CO
O
8
] + 2CO
2
+ 4H
2
O = 2K
2
CO
3
+ Al
4
[SiO
4
][OH]
8
+ 8SiO
2
Octolaz Cao Lanh
III.3 Hoạt động của nước trên mặt
Là sự phá huỷ đất đá do sự di chuyển của các dòng nước trên mặt. Có thể thấy rõ
hiện tượng này khi tham quan vịnh Hạ Long. Các khối núi đá vôi bị ăn mòn theo các
mực nước khác nhau và cách nhau tới 4-5m. Điều này được giải thích bởi sự nâng lên
của các núi đá vôi và do đó các mực nước ăn mòn cũng khác nhau. Chính nguyên
nhân này làm xuất hiện các ngấn nước khác nhau ở các núi đá vôi trên vịnh Hạ Long.
III.4 Hoạt động của nước dưới đất
Nuớc dưới đất là các nước được chứa trong lỗ hổng của các lớp đất đá.Hoạt động
này là do sự hoà tan và di chuyển của các dòng nước ngầm cuốn theo các vật liệu làm
cho thay đổi tính chất cơ lý của đất đá ở 1 khu vực.
Đây là thuật ngữ chỉ các loại khoáng sản không phải là kim loại như đất đá dùng
trong xây dựng,…
- Đá vôi: Gặp ở các hang động như hang Đầu Gỗ hay Động Thiên Cung
Và còn thấy ở Dốc Cun nữa.
- Đá xây dựng: là các đá dùng trong xây dựng phần lớn là các đá có độ cứng lớn,
it bị ăn mòn, như các đá bazan,…Một ví dụ điển hình là đập thuỷ điện Hoà
Bình, các đá dùng để xây đập chủ yếu là các đá bazan ở khu vực quanh đập, đá
này có độ cứng lớn, it bị ăn mòn nên dùng xây dựng các công trình lớn rất thích
hợp.
- Cuội sỏi: Thấy nhiều ở các suối các cuội sỏi có nhiều kích thước khác nhau, và
có thể khai thác dùng trong xây dựng, như sỏi có thể dùng làm vật liệu để đúc
bê tông nhằm tăng độ cứng cho bê tông xây dựng.
- Sét: Sét được khai thác để dùng trong công nghiệp như xi măng, dùng làm gốm.
IV.2 Khoáng sản cháy
Đây là các loại khoáng sản khai thác dùng để đốt lấy nhiệt. Chúng em bắt gặp
các khoáng sản cháy chủ yếu là than như ở mỏ than Hà Lầm, Hà Tu ở Quảng Ninh.
Tại mỏ Hà Lầm thì chúng em thấy những lởp sét than. Trong khu vực khai thác của
mỏ thì chúng em thấy những vỉa than lớn đang được khai thác. Than ở đây được khai
thác dùng đôt lấy nhiệt trong công nghiệp nặng như luyện kim, …
IV.3 Khoáng sản công nghiệp
Ở đây chúng em chỉ xin mô tả một loại khoáng sản là nước khoáng. Nước khoáng
chúng em thấy ở Quang Hanh (Quảng Ninh) nước được khai thác dùng làm nước
khoáng mặn do thành phần muối trong nước cao, nhiệt độ nuớc tại điểm lộ cũng khá
cao, nước ở đây còn được dùng chữa bệnh đối với các bệnh ngoài da, các bệnh
khớp….
IV.4 Khoáng sản kim loại
Khoáng kim loại chúng em bắt ngập ở Dốc Cun, gồm các khoáng sản bazit dưới
dạng các mạch xuyên vào các đá.
IV.5 Khoáng sản phi kim