Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Trường
Khoa……………….
………… o0o…………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Mục lục
Trang
Trường 1
Khoa……………… 1
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
2
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Lời nói đầu.
Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lương luôn
luôn là một vấn đề “ thời sự nóng bỏng”. Nó hàm chứa trong đó nhiều mối quan
hệ giữa sản xuất và phân phối trao đổi, giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa thu nhập
và nâng cao mức sống của các thành phần dân cư.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh
nghiệp phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự hạch toán chi phí mà trong đó
chi phí tiền lương chiếm phần không nhỏ, thì tiền lương càng trở thành vấn đề
quan trọng trong các doanh nghiệp đó.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động và tiền lương trong
doanh nghiệp.
Chương 2: Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc.
Chương 3: Một số kiến nghị liên quan đến tình hình lao động và chế độ
tiền lương hiện nay của Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc.
Vì trình độ và thời gian có hạn, chuyên đề này khó có thể tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo cũng
như các cán bộ Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc để đề tài được
hoàn thiện tốt hơn.
Qua bài viết này cho phép em gửi lời cảm ơn tới các cô chú trong phòng Tổ
chức, phòng Kế toán - Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc, và
thầy giáo Th.S Thân Thanh Sơn - Khoa Kinh tế - Trường ĐHCN Hà Nội đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu hoàn
thành chuyên đề tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 4 năm 2009
Sinh viên
Hoàng Thị Huyền
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
4
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Chương 1:
Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động
và tiền lương.
1.1. Quản lý lao động và tiền lương trong doanh nghiệp.
1.1.1. Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động.
1.1.1.1. Quản lý lao động là gì ?
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
chức đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con
người. Sử dụng có hiệu quả nguồn lực của con người là mục tiêu của quản lý lao
động.
1.1.1.2. Các quan điểm về quản lý lao động trong doanh nghiệp.
Nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghiã với chính sách “đổi
mới” hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Yếu tố con
người, yếu tố trí tuệ được đề cao hơn yếu tố vốn và kỹ thuật, trở thành nhân tố
quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Do vậy yêu cầu về trình độ và
năng lực của con người, của mỗi doanh nghiệp cũng khác trước tạo nên sự đòi
hỏi về hai phía.
Mọi doanh nghiệp ở mức tối thiểu đều yêu cầu đội ngũ công nhân viên của
mình hoàn thành nhiệm vụ, đạt tiêu chuẩn định mức đặt ra, chấp hành những
chính sách, những quy định của công ty.
Tuy nhiên trong thực tế kinh doanh, các doanh nghiệp ngày càng yêu cầu
đội ngũ nguồn nhân lực của mình nhiều hơn mức tối thiểu. Doanh nghiệp không
chỉ yêu cầu nhân viên hoàn thành công việc mà phải biết sáng tạo, cải tiến tìm ra
những giải pháp, phương pháp mới, không chỉ chấp hành quy chế mà còn phải
nhiệt huyết, gắn bó với doanh nghiệp, có trách nhiệm với kết quả chung của
doanh nghiệp. Không phải chỉ có những đòi hỏi từ phía doanh nghiệp đối với
người lao động mà ngược lại đội ngũ người lao động cũng có những đòi hỏi nhất
định đối với doanh nghiệp mà họ đang làm việc. ở một mức tối thiểu, công nhân
yêu cầu doanh nghiệp phải trả lương đầy đủ, đúng hạn, hợp lý và các điều kiện
lao động an toàn. Người lao động yêu cầu tham gia vào quá trình xây dựng
chiến lược, chính sách của doanh nghiệp. Người lao động muốn phát triển năng
lực cá nhân bằng cách nâng cao và tiếp thu những kiến thức, những kỹ năng
mới. Họ muốn cống hiến, muốn vận động đi lên trong hệ thống các vị trí, chức
vụ công tác của doanh nghiệp, được chủ động tham gia đóng góp quan trọng vào
1.1.2. Cơ sở lý luận chung về tiền lương.
Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử
dụng lao động thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà
họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Như vậy tiền lương được biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao
động. ở nước ta hiện nay có sự phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố trong tổng thu
nhập từ lao động sản xuất kinh doanh của người lao động: tiền lương (lương cơ
bản), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội. Theo quan điểm của Chính phủ
trong chính sách tiền lương, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành
thông qua thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp
với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương của
người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo
năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả công việc.
1.1.2.1. Bản chất của tiền lương.
Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cơ bản:
lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó lao động là yếu tố
chính có tính chất quyết định. Lao động không có giá trị riêng biệt mà lao động
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
7
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
là hoạt động tạo ra giá trị. Cái mà người ta mua bán không phải là lao động mà
là sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được đo
bằng lao động kết tinh trong một sản phẩm. Người lao động bán sức lao động và
nhận được giá trị của sức lao động dưới hình thái tiền lương.
Theo quan điểm tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy
định thì bản chất tiền lương là giá cả hàng hoá sức lao động được hình thành
thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động đồng
thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu.
có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất cấu thành nên giá
thành sản phẩm hay là một bộ phận của thu nhập.
1.1.2.2. Chức năng của tiền lương.
Tiền lương là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý nói
chung và quản lý lao động tiền lương nói riêng. Có thể kể ra một số chức năng
cơ bản của tiền lương như sau:
- Kích thích lao động (tạo động lực): Chức năng này nhằm duy trì năng
lực làm việc lâu dài có hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lương phải đảm bảo bù đắp
sức lao động đã hao phí để khuyến khích tăng năng suất. Về mặt nguyên tắc,
tiền lương phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động, tạo niềm hứng khởi
trong công việc, phát huy tinh thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ
nghiệp vụ, chuyên môn để từ đó giúp họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức
lương nhận được thoả đáng nhất.
- Giám sát lao động: giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám
sát người lao động làm việc theo kế hoạch của mình nhằm đạt được những mục
tiêu mong đợi, đảm bảo tiền lương chi ra phải đạt hiệu quả cao. Hiệu quả của
việc chi trả lương không chỉ tính theo tháng, quý mà còn được tính theo từng
ngày, từng giờ trong toàn doanh nghiệp hoặc ở các bộ phận khác nhau.
- Điều hoà lao động: đảm bảo vai trò điều phối lao động hợp lý, người lao
động sẽ từ nơi có tiền lương thấp đến nơi có tiền lương cao hơn. Với mức lương
thoả đáng, họ sẽ hoàn thành tốt các công việc được giao.
- Tích luỹ: với mức tiền lương nhận được, người lao động không những
duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ
đã hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro bất ngờ.
1.1.2.3. Quỹ tiền lương, các hình thức trả lương và các loại tiền thưởng:
a) Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp.
Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp xác định nguồn quỹ lương tương ứng để trả cho người lao động. Nguồn
này bao gồm:
- Tổng sản phẩm (kể cả sản phẩm quy đổi) bằng hiện vật.
- Tổng doanh thu.
- Tổng thu trừ tổng chi.
- Lợi nhuận. Doanh nghiệp sẽ xác định đơn giá tiền lương tuỳ theo tính
chất, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức và chỉ tiêu kinh tế
gắn với việc trả lương có hiệu quả của doanh nghiệp.
Sử dụng tổng quỹ tiền lương: Để đảm bảo quỹ tiền lương không vượt chi
so với quỹ tiền lương được hưởng, dồn chi quỹ tiền lương vào các tháng cuối
năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lương quá lớn cho năm sau, có thể quy định
phân chia tổng quỹ tiền lương theo các quỹ sau:
- Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán,
lương sản phẩm, lương thời gian: ít nhất bằng 76% tổng quỹ lương.
- Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất chất
lượng cao, có thành tích tốt trong công tác tối đa không quá 10% tổng quỹ tiền
lương.
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
10
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
- Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao, tay nghề giỏi: tối đa không quá 2% tổng quỹ tiền lương.
- Quỹ dự phòng cho các năm sau: tối đa không quá 12% tổng quỹ lương.
b) Các hình thức trả lương.
Hiện nay tại các doanh nghiệp người ta thường áp dụng hai hình thức trả
lương chủ yếu sau:
Trả lương theo thời gian.
Hình thức tiền lương trả theo thời gian là hình thức tiền lương mà số tiền
trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc và tiền lương của một đơn
vị thời gian ( giờ hoặc ngày). Như vậy tiền lương theo thời gian phụ thuộc vào 2
yếu tố:
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
11
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Hình thức này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán. Hơn nữa người công
nhân có thể tự tính được tiền công mà mình được lĩnh. Bên cạnh đó, hình thức
trả lương này cũng có những nhược điểm là nó mang tính chất bình quân nên
không khuyến khích việc sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên
vật liệu, không tập trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao
động.
+ Trả lương theo thời gian có thưởng:
Theo hình thức này thì tiền lương người lao động nhận được gồm tiền
lương thời gian giản đơn và một khoản tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu
về số lượng hoặc chất lượng đã quy định như: nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Hình thức này chủ yếu áp dụng đối vói công nhân phụ, làm việc phục vụ
như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị Ngoài ra còn áp dụng cho công
nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động
hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Chế độ trả lương này phản ánh trình độ thành tích công tác thông qua các
chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được. Do vậy nó khuyến khích người lao động quan
tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác của mình. Do đó cùng với ảnh hưởng
của tiến bộ khoa học kỹ thuật chế độ tiền lương này ngày càng được mở rộng
hơn.
Trả lương theo sản phẩm.
Do có sự khác nhau về đặc điểm sản xuất kinh doanh nên các doanh nghiệp
đã áp dụng rộng rãi các hình thức tiền lương theo sản phẩm với nhiều chế độ
linh hoạt. Đây là hình thức tiền lương mà số tiền người lao động nhận được căn
cứ vào đơn giá tiền lương, số lượng sản phẩm hoàn thành và được tính theo
công thức:
theo sản phẩm có 5 loại sau:
Loại 1: Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Chế độ trả lương này được áp dụng rộng rãi với người trực tiếp sản xuất
trong điều kiện quá trình sản xuất của họ mang tính độc lập tương đối, công việc
có định mức thời gian, có thể thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách
cụ thể và riêng biệt.
Đơn giá tiền lương có tính chất cố định được tính theo công thức:
ĐG = L x Ds
Trong đó: ĐG: đơn giá sản phẩm
L : lương theo cấp bậc công việc hoặc mức lương giờ
Ds : định mức sản lượng
Tiền công của công nhân được tính theo công thức:
Lcn =ĐG x Q
Trong đó: Lcn : tiền lương của công nhân
Q : khối lượng sản phẩm sản xuất được
Ưu điểm nổi bật của chế độ này là mối quan hệ giữa tiền công và kết quả
lao động của họ được thể hiện rõ ràng làm cho quyền lợi và trách nhiệm của
người lao động gắn chặt với nhau do đó kích thích công nhân cố gắng nâng cao
trình độ chuyên môn, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời hình thức này
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
13
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
cũng dễ hiểu nên công nhân có thể tính được số tiền nhận được khi hoàn thành
nhiệm vụ sản xuất.
Tuy nhiên chế độ lương này còn có nhược điểm là người lao động dễ chạy
theo số lượng mà coi nhẹ chất lượng sản phẩm, ít quan tâm đến việc sử dụng tốt
máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, ít quan tâm chăm lo đến công việc của tập
thể.
Loại 2: Trả lương theo sản phẩm tập thể.
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
14
L
Ds
ĐG =
L x Đt
Hoặc ĐG =
∑
=
n
i 1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
- Tính tiền lương 1 giờ theo hệ số bằng cách lấy tiền lương cả tổ chia cho
tổng số giờ hệ số của cả tổ đã tính đổi.
- Tính tiền lương cho từng công nhân bằng cách lấy tiền lương thực tế
của một giờ nhân với số giờ làm việc.
+ Chia lương theo hệ số điều chỉnh: làm 3 bước:
- Tính tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc của mỗi công nhân
sau đó tổng hợp cho cả nhóm.
- Xác định hệ số điều chỉnh cho cả tổ bằng cách lấy tổng tiền lương thực
lĩnh chia cho số tiền lương vừa tính trên.
- Tính tiền lương cho từng người căn cứ vào hệ số điều chỉnh và tiền
lương đã lĩnh lần đầu của mỗi người.
Ngoài ra nhiều doanh nghiệp còn áp dụng việc chia lương theo phân loại
lao động ra A, B, C
Ưu điểm: Hình thức này khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao
trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả của tổ, đồng thời quan tâm đến
nhau hơn để giúp nhau cùng hoàn thành công việc.
Nhược điểm: Sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định tiền
Trong đó: Q
TH
: sản lượng thực hiện trong tháng.
Ưu điểm cơ bản của hình thức này là làm cho mọi cán bộ công nhân viên
đều quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh
doanh.
Loại 4: Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến.
Chế độ trả lương này áp dụng ở những khâu trọng yếu của sản xuất hoặc
khi sản xuất đang khẩn trương mà xét thấy việc giải quyết những tồn tại ở khâu
này có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những khâu khác có liên quan, góp phần
hoàn thành vượt mức kế hoạch của doanh nghiệp.
Ưu điểm của hình thức tiền lương này là khuyến khích công nhân tăng
nhanh số lượng sản phẩm, làm cho tốc độ tăng năng suất lao động nên phạm vi
áp dụng chỉ đối với khâu chủ yếu của dây chuyền hoặc vào những thời điểm nhu
cầu thị trường về loại sản phẩm đó rất lớn hoặc vào thời điểm có nguy cơ không
hoàn thành hợp đồng kinh tế.
Để hình thức tiền lương này có hiệu quả cần chú ý điều kiện cơ bản là:
Mức tăng đơn giá tiền lương phải nhỏ hơn hoặc bằng mức tiết kiệm chi phí cố
định nghĩa là:
Trong đó:Kđ: Hệ số tăng đơn giá sản phẩm luỹ tiến.
L : Hệ số tiền lương trong giá thành đơn vị sản phẩm.
H : Hệ số tăng sản lượng đạt được.
C : Hệ số chi phí cố định trong giá thành.
Loại 5: Trả lương khoán.
Hình thức này được áp dụng trong trường hợp không định mức được chi
tiết cho từng công việc hoặc định mức được nhưng không chính xác hoặc những
công việc nếu giao từng chi tiết, từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn
bộ khối lượng công việc cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất
định.
hay tất cả các loại tiền thưởng sau:
- Thưởng năng suất, thưởng chất lượng: áp dụng khi người lao động thực
hiện tốt hơn mức độ trung bình về số lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ.
- Thưởng tiết kiệm: áp dụng khi người lao động sử dụng tiết kiệm các loại
vật tư, nguyên vật liệu có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn
đảm bảo chất lượng theo yêu cầu.
- Thưởng sáng kiến: áp dụng khi người lao động có sáng kiến cải tiến kỹ
thuật, tìm ra các phương pháp làm việc mới có tác dụng nâng cao chất lượng
sản phẩm dịch vụ.
- Thưởng lợi nhuận: áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lãi trong trường
hợp này người lao động sẽ được chia một phần tiền dưới dạng tiền thưởng. Hình
thức này áp dụng cho công nhân viên vào cuối quý, sau nửa năm hoặc cuối năm
tuỳ theo hình thức tổng kết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
17
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
- Thưởng do hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất: áp dụng khi người
lao động làm việc với số sản phẩm vượt mức quy định của doanh nghiệp.
d) Các loại phúc lợi.
Các loại phúc lợi mà người lao động được hưởng rất đa dạng và phong phú,
nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: quy định của Chính phủ, tập quán
trong nhân dân, mức độ phát triển kinh tế, khả năng tài chính hoặc hoàn cảnh cụ
thể của doanh nghiệp. Phúc lợi thể hiện sự quan tâm củadoanh nghiệp gồm có:
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế .
- Hưu trí.
- Nghỉ phép, nghỉ lễ.
- Ăn trưa do doanh nghiệp đài thọ.
- Trợ cấp của doanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên đông con hoặc có
hoàn cảnh khó khăn.
việc bằng cả lòng nhiệt tình, hăng say và họ có quyền tự hào về mức lương họ
đạt được. Ngược lại khi công tác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp thiếu
tính công bằng và hợp lý thì không những nó đẻ ra những mâu thuẫn nội bộ
thậm chí khá gay gắt giữa những người lao động với nhau, giữa người lao động
với các cấp quản trị, cấp lãnh đạo doanh nghiệp, mà có lúc còn có thể gây nên sự
phá hoại ngầm dẫn đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất. Vậy đối với nhà quản
trị, một trong những công việc được quan tâm hàng đầu là phải theo dõi đầy đủ
công tác tổ chức tiền lương, thường xuyên lắng nghe và phát hiện kịp thời
những ý kiến bất đồng hoặc những mâu thuẫn có thể xảy ra trong phân phối tiền
lương và tiền thưởng cho người lao động, để rồi qua đó có sự điều chỉnh thoả
đáng và hợp lý. Người ta đã chứng minh rằng: nếu tiền lương đảm bảo tái sản
xuất được sức lao động theo đúng nghĩa của nó thì năng suất lao động sẽ đạt
được tương đối cao và nếu quản lý lao động tốt thì năng suất sẽ cao hơn nhiều.
Ngược lại nếu tiền lương chỉ đảm bảo được 70% nhu cầu tái sản xuất sức lao
động thì năng suất lao động sẽ giảm đi 50%.
Như vậy để khuyến khích người lao động làm việc thì doanh nghiệp cần
phải có chính sách, chế độ tiền lương xứng đáng, phù hợp. Đó cũng là nghệ
thuật quản lý của các nhà quản trị.
1.2.2. Các nguyên tắc quản lý, sử dụng lao động và tiền lương.
1.2.2.1 Các nguyên tắc quản lý, sử dụng lao động .
- Phải hình thành cơ cấu lao động tối ưu: Một cơ cấu lao động được coi là
tối ưu khi nó đảm bảo được về số lượng ngành nghề và chất lượng lao động thật
phù hợp. Ngoài ra phải phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
các bộ phận hoặc các cá nhân với nhau, đồng thời phải tạo được sự đồng bộ, ăn
khớp giữa các cá nhân, bộ phận trong cơ cấu. Làm được như vậy thì năng suất
và hiệu quả công việc sẽ đạt được mức cao nhất.
- Phải đảm bảo cả yếu tố vật chất và tinh thần cho người lao động: Để
quản lý tốt người lao động thì nhà quản lý phải biết kết hợp khéo léo giữa lợi ích
vật chất và lợi ích tinh thần. Thông thường có thể dùng lợi ích vật chất để
khuyến khích người lao động nhưng cũng có trường hợp áp dụng hình thức này
cho người lao động trong doanh nghiệp, không được sử dụng vào mục đích
khác.
Việc trả lương phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
- Phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Điều này bắt nguồn từ bản chất
tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. tiền lương là nguồn
thu nhập chủ yếu của người lao động, do đó tiền lương không những phải đảm
bảo tái sản xuất sức lao động mà còn phải đảm bảo nuôi sống gia đình họ.
Không những thế, tiền lương còn phải đủ tích luỹ, tiền lương ngày mai phải cao
hơn hôm nay.
- Tiền lương trả cho người lao động phải dựa trên cơ sở sự thoả thuận
giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua bản hợp đồng lao
động. Chí ít thì mức lương nhận được của người lao động cũng phải bằng mức
lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
20
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
- Việc trả lương cho từng bộ phận, cá nhân người lao động theo quy chế
chủ yếu phụ thuộc vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác, giá trị cống
hiến của từng bộ phận cá nhân người lao động, không phân phối bình quân.Đối
với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giỏi, giữ vai trò quan
trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị thì mức
tiền lương và thu nhập phải được trả thoả đáng.
Hoàng Thị Huyền – Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
21
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Chương 2:
Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nam Bắc.
(Đến ngày 01/ 01/ 2009)
Nội dung Tổng
số
Trình độ Độ tuổi
Trên
ĐH ĐH
Dưới
ĐH
Dưới
30t
31-
40t
41-
50t
Trên
50t
1.Tổng số
CB CNV
4732 53 340 4339 1879 1783 1022 48
2.Cán bộ
quản lý:
288 27 151 110 33 185 45 25
3.Cán bộ
chuyên
môn kỹ
thuật
328 28 189 111 116 141 60 11
-Kế toán
tài chính
yêu cầu của sản xuất kinh doanh cả về số lượng và chất lượng, một đội ngũ
lao động có đủ phẩm chất và kỹ năng cần thiết đáp ứng các mục tiêu sản
xuất kinh doanh trước mắt cũng như về lâu dài ). Chính vì vậy mà Công ty
rất coi trọng chính sách tuyển chọn lao động.
- Trước khi tuyển chọn lao động, Công ty tiến hành thu hút tìm kiếm
(tuyển mộ) các ứng cử viên cho Công ty thông qua quảng cáo và qua các tổ
chức giáo dục.
- Thông qua quảng cáo là biện pháp đơn giản nhất, Công ty thông báo
trên các tờ báo Lao động, báo Nhân dân hay trên các dịch vụ truyền tin.
Trong thông báo Công ty thường xuyên nêu những nhiệm vụ chung của
công việc và những yếu tố cần thiết như: bằng cấp, phẩm chất đạo đức của
những người có nhu cầu được làm việc trong Công ty.
- Sau khi tuyển mộ xong, Công ty sẽ tiến hành tuyển chọn lao động
thích ứng với từng nhiệm vụ, từng công việc. Quá trình tuyển chọn được
Công ty tiến hành một cách đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao.
- Công ty yêu cầu những người đến xin việc nộp hồ sơ bao gồm: sơ
yếu lý lịch gồm những thông tin: tuổi, giới tính, học vấn; những chứng chỉ
về trình độ chuyên môn của người đến xin việc, và khám sức khoẻ qua hội
đồng sức khoẻ của trung tâm y tế Công ty.
- Bước tiếp theo là phỏng vấn những người đã vượt qua thử thách ban
đầu bằng cách cho các ứng cử viên trả lời những bài kiểm tra, những câu
hỏi trắc nghiệm về kỹ năng, về sự thông minh của chính bản thân họ. Đồng
thời cũng để đánh giá xem thái độ của họ đối với công việc ra sao.
- Công ty thực hiện bước này nhằm mục đích tạo cho người đại diện
Công ty và nhân viên tương lai gặp gỡ, tìm hiểu về nhau nhiều hơn, qua đó
Hoàng Thị Huyền - Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
24
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Công ty sẽ quyết định xem ứng cử viên nào thích hợp với chức vụ, công
: số ngày theo lịch trong một năm.
L : số ngày nghỉ lễ trong một năm.
T : số ngày nghỉ tết trong một năm.
NC : số ngày nghỉ chủ nhật trong năm.
Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch sử dụng thời gian lao động giao cho
các đơn vị. Sau 6 tháng, Công ty tổ chức phân tích tình hình sử dụng thời
gian lao động của các đơn vị.
Tính toán thời gian làm việc sẽ cho biết những thông tin về quỹ thời
gian làm việc có thể và tối đa của doanh nghiệp cũng như của bản thân
từng cán bộ công nhân viên trong năm, quý, tháng, tuần, thậm chí là trong
ngày. Từ đó có thể so sánh để biết được mức độ sử dụng thời gian thực tế
và những nguyên nhân không sử dụng hết thời gian có thể, tối đa. Thời
Hoàng Thị Huyền - Lớp QTKD3-K8 Chuyên đề tốt nghiệp
25