BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THAY THẾ
TRÙN CHỈ BẰNG THỊT CÁ TRONG
ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949)
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA : 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN QUỐC NINH
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỷ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn : Ngô Văn Ngọc
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.TÓM TẮT Đề tài: xác đònh thời điểm thay thế trùn chỉ bằng thòt cá trong ương nuôi cá
lăng nha (Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949) được tiến hành để đánh giá sự ảnh
hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và xác đònh ngày tuổi nào thì cá ăn
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
ABSTRACT A study “A Definite Period of Time to Replace Tubifex by Fresh Fish Meat in
Nursing Young Red Tail Catfish (Mystus wyckioides)” was carried out at
Experimental Farm for Aquaculture in order to evaluate effect of food on growth,
survival rate of young red tail catfish.
The study included six treatments. Each treatment consisted of three lots. The
study was replicated six times. Three - days old fry was fed on Moina. The first
treatment (four - days old fry) was fed on fresh fish meat. The day after day, the
young fish was fed on fresh fish meat instead of Tubifex. At the same time, the young
fish belonging to control treatment was fed on Moina and Tubifex completely.
The result of the study indicted that:
Ban chủ nhiệm và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã tận tình dạy bảo tôi
trong thời gian học tại trường.
Đặc biệt là thầy Ngô Văn Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt
kiến thức quý báu để chúng tôi hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này.
Các anh nhân viên Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại
Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh.
Tôi xin cảm ơn cha, mẹ tôi và những người thân trong gia đình đã tạo mọi
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình tôi theo học tại trường.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người bạn đã cùng tôi học tập bốn năm trong
trường, đã động viện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, và làm luận văn tốt nghiệp.
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không thề tránh khỏi những thiếu
sót, chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của q Thầy Cô và các bạn.
1.2 Mục Tiêu Đề TàiII TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc Điểm Sinh Học 2
2.1.1
Vị trí phân loại 2
2.1.2 Phân bố 2
2.1.3 Đặc điểm hình thái 2
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 3
2.2 Các Loại Thức Ăn Tự Nhiên 4
2.2.1 Moina 4
2.2.2 Trùn Chỉ 5
2.3 Thức Ăn và Tập Tính Ăn của Cá 6
2.3.1 Cơ sở thức ăn tự nhiên của cá 6
2.3.2 Sự lựa chọn thức ăn 7
2.3.3 Mối quan hệ giữa kích cỡ miệng và kích cỡ mồi 7
2.4 Thành Phần Thức Ăn của Cá 7
2.5 Nhu Cầu Dinh Dưỡng của Cá 8
2.5.1 Protid 8
2.5.2 Lipid 8
2.5.3 Glucid 9
2.5.4 Vitamin 9
2.5.5 Nhu cầu muối khoáng 10
2.6 Hệ Số Thức Ăn 10
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
4.3 Thành Phần Dinh Dưỡng của Thức Ăn trong Thí Nghiệm 18
4.4 Đánh Giá về Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng Nha 19
4.4.1 Sự tăng trưởng về chiều dài 19
4.4.2 Sự tăng trưởng về trọng lượng 24
4.5 Tỉ Lệ Sống 30
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1
Kết Luận 33
5.2
Kiến Nghò 33TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.DANH SÁCH HÌNH ẢNH
HÌNH NỘI DUNG TRANG
3.1 Bể kiến bố trí thí nghiệm 12
4.1 Cá lăng nha ba ngày tuổi 20
4.2 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức I) 22
4.3
Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức II) 23
4.4
Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức III) 23
4.5 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức IV) 24
4.6 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức V) 25
4.7 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức I) 27
4.8 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức II) 28
4.9 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức III) 28
4.10 Cá lăng nha 12 ngày tuổi (nghiệm thức IV) 29
I. GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề
Trong những năm gần đây, việc ni thủy sản đã đạt được một bước tiến bộ rất
lớn.Từ lúc chúng ta khơng sản xuất được giống nhân tạo thì đến nay chúng ta đã sản
xuất thành cơng hầu hết các lồi cá, tơm có giá trị kinh tế cao. Việc cho sản xuất giống
thành cơng đã giải quyết phần nào việc ni cá của bà con nơng dân.
Nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng được quan tâm đúng mức. Do
đó sản phẩm phải chất lượng khơng có dư lượng của thuốc kháng sinh hay thuốc trừ
sâu, cá khơng chứa mỡ. Vì vậy đòi hỏi nghề cá cũng phải tăng theo để đáp ứng nhu cầu
của thị trường, các nhà kỷ thuật tìm ra những loại cá có hàm lượng mỡ ít, thịt thơm
ngon. Các lồi cà truyền thống của chúng ta từ trước đến nay như mè, chép, trơi, rơ phi,
khơng còn phù hợp với thị trường và khơng còn ưa chuộng nữa, chúng ta phải tìm ra
một loại cá mới.
Cá lăng nha (Mystus wyckioides) hiện đang được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm bởi vì: cá lăng nha có kích thước lớn, thịt thơm ngon được nhiều người ưa chuộng
và có giá trị kinh tế cao. Đây là lồi cá bản địa, chúng hiện diện ở miền Đơng Nam Bộ
và đồng bằng sơng Cửu Long và con giống ngày càng khan hiếm do khai thác q mức.
Hiện nay tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nơng Lâm TPHCM
đã cho sản xuất giống thành cơng và một thực tế khác lại nảy sinh đó là nhu cầu thức
ăn trong việc sản xuất giống để thay thế trùn chỉ là rất quan trọng .
Từ những nhu cầu thực tế trên và được sự phân cơng của Khoa Thủy Sản, chúng
Ngành phụ: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Siluriformes
Họ: Bagridae
Giống : MystusLoài: Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949
Tên tiếng Anh: Red tail catfish
Tên tiếng Việt: Lăng nha, Lăng đuôi đỏ
2.1.2 Phân bốCá lăng nha phân bố rộng rãi ở Ấn Độ và nhiều ở các nước Đông Nam Á.
Phân bố ở các con sông lớn dọc từ thượng nguồn sông Cửu Long đến tận các nhánh
sông.
Theo Mai Đình Yên và ctv.(1992), cá lăng nha phân bố hầu như rộng rãi ở các
sông rạch thuộc miền Nam Việt Nam.
Cá lăng nha là loài ưa tối, sống đáy, chui rúc vào những bụi rậm, hốc đá,
hang, ... Sinh sống trong các thủy vực nước chảy thuộc vùng nội đòa như sông, suối,
hồ chứa, … Từ vùng thượng nguồn cho đến cửa sông.
nước, ấu trùng muỗi, giun ít tơ, rễ cây, … Cá lăng là loài cá hoạt động kiếm ăn mạnh
về đêm.
Ngoài ra, cá lăng vàng (Mystus nemurus) và lăng đòa (Mystus filamentus.)
hoàn toàn chấp nhận thức ăn công nghiệp trong điều kiện nhân tạo (Ngô Văn Ngọc,
2002).
Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Đào Dương Thanh,
2004), cá lăng có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình: miệng rộng, răng hàm
sắc, nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân = 89,35%. Phân tích 25 mẫu
vật thức ăn trong ruột cá, thành phần thức ăn chính là động vật.
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng (Hemibagrus guttatus)
trên hệ thống sông Hồng (Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998).
Loại thức ăn Cá Tôm Côn
trùng
Cua Giun
đất
ĐV trên
cạn khác
Mùn bã
hữu cơ
Hạt
thực vật
Tần số gặp
(%)
28 36 60 4 4 4 20 12
Tỷ lệ KL
(%)
b/ Cá đực
Cá đực có gai sinh dục dài và nhọn ở đầu mút.
Khi cá thành thục thì trên đầu mút cá đực có màu hồng nhạt.
2.2
Các Loại Thức Ăn Tự Nhiên Dùng trong Thí Ngiệm
2.2.1 Moina
Moina macrocopa thuộc nhóm giáp xác bậc thấp entomostraca, kích thước cơ
thể từ 0,7 – 1 mm.
Moina macrocopa phân bố rộng rãi trong các thủy vực nước ngọt, còn trong
các thủy vực lớn, nước đứng thì Moina chỉ ở ven bờ hoặc trong các lùm cây cỏ, rác.
Đặc biệt thường tập trung thành đám dày đặc màu đỏ vào buổi sáng ở ao, hồ, vũng
nước của cống rãnh nhiều chất hữu cơ.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.Thành phần dinh dưỡng của Moina macrocopa: theo Trần Văn Vỹ (1995)
thành phần hoá học của Moina macrocopa được biều diễn theo % khối lượng tươi như
sau: 90% nước, đạm 5%, mỡ 0,7%, đường 0,1%, tro 1,7%.
Moina là thức ăn có giá trò đối với một số cá trong giai đoạn ương vì nó phù
hợp với cỡ miệng và có khả năng di chuyển thụ động làm kích thích tập tính bắt mồi
Ưu điểm:
- Hàm lượng dinh dưỡng cao.
- Là loại mồi sống thích hợp cho tập tính ăn của các loài cá con lúc còn nhỏ.
- Có thể giữ được 24 giờ nếu cá ăn không hết mà không làm bẩn nước ảnh
hưởng đến hoạt động sống của cá.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.Nhược điểm:
- Do sống trong môi trường nước bẩn nên trùn chỉ là loại thức ăn mang mầm
bệnh nguy hiểm cho các loài cá nuôi.
- Nguồn cung cấp trùn chỉ không ổn đònh nên ảnh hưởng đến nguồn thức ăn
cho cá con lúc còn nhỏ và ảnh hưởng đến sản xuất giống.
- Giá trùn chỉ thường rất cao vào các thời điểm khan hiếm, ảnh hưởng đến
việc ương nuôi cá bột.
- Trong tương lai vấn đề môi trường đang được quan tâm và cải thiện đúng
mức, cho nên việc khai thác trùn chỉ sẽ gặp khó khăn vì không còn môi trường cho
trùn chỉ sinh sống, vì thế lượng thức ăn này sẽ bò khan hiếm dần.
- Một số đòa phương không có trùn chỉ vì hàm lượng dinh dưỡng trong các ao,
hồ không cao từ đó sẽ gặp một số khó khăn trong sản xuất giống.
For evaluation only.phù du với số lượng không đáng kể. Cá mè hoa (Aristichthys nobilis) là loài cá điển
hình ăn động vật phù du. Ấu trùng côn trùng, giun, trai, ốc, … là thức ăn tự nhiên thích
hợp của cá chép (Cyprinus carpio). Nhưng tính riêng biệt của mỗi loài cá nuôi như đã
kể trên chỉ đặc trưng ở giai đoạn trưởng thành. Điều lý thú là ở tất cả các loại cá nuôi
kể trên. Trong một thời kỳ nhất đònh cá sau khi nở từ trứng ra đều ăn chung một loại
thức ăn đó là động vật phù du, những sinh vật nhỏ nhưng có giá trò dinh dưỡng cao.
Đây là khía cạnh độc đáo và hấp dẫn về mặt thức ăn (Trần Văn Vỹ, 1995).
2.3.2 Sự lựa chọn thức ăn
Hiện tượng lựa chọn thức ăn thấy ở tất cả các loài động vật từ thấp tới cao, ở
cả loài lấy thức ăn phân biệt và không phân biệt, trong đó loài thứ nhất có tính lựa
chọn cao hơn. Không những chỉ lựa chọn thức ăn mà cá còn lựa chọn loại thức ăn
thích hợp trong số những loại thức ăn có trong thủy vực. Ngoài khả năng lựa chọn
thức ăn, thủy sinh vật còn lựa chọn kích thước thức ăn.
2.3.3 Mối quan hệ giữa kích cỡ miệng và kích cỡ mồi
Theo Dabrowshki và Bardega (1984; trích bởi Khánh Đoan, 1997), nghiên cứu
trên cá trắm cỏ (ctenopharingodonidella), mè hoa (Aristichthys nobillis) và cá mè
trắng (Hypophthalmicchthys molitrix) cho thấy rằng có một sự liên hệ giữa kích cỡ
miệng và tổng chiều dài cá từ lúc mới ăn thức ăn ngoài đến lúc cá đạt chiều dài 20 -
30 mm.
Kích cỡ miệng dường như là yếu tố giới hạn trong sự ăn của cá bột kể cả thức
ăn tự nhiên và thức ăn viên. Đường kính lớn nhất của phần thức ăn chính của loài
tương ứng với độ rộng trung bình của miệng, xấp xỉ 1:1. Bởi vậy độ rộng miệng quyết
Dinh dưỡng thức ăn nếu không hợp lý, không theo phương pháp khoa học sẽ
làm cho cá chậm lớn, bệnh tật, làm ôi nhiễm môi trường. Dinh dưỡng phải đảm bảo
cho cá có đầy đủ năng lượng để duy trì sự sống, sự phát triển. Tùy theo mỗi loài, mỗi
giai đoạn phát triển của cá mà chúng ta cung cấp dinh dưỡng cho phù hợp và đầy đủ
vì ở mỗi loài, mỗi giai đoạn phát triển của cá đều có nhu cầu năng lượng khác nhau.
2.5
Nhu Cầu Dinh Dưỡng của Cá
Dinh dưỡng phải đảm bảo cho tôm cá có đầy đủ năng lượng duy trì sống, hoạt
động bơi lội, tăng trưởng và sinh sản. Các chất dinh dưỡng cho tôm, cá có thể phân
chia thành năm nhóm chính là protid, lipid, glucid, vitamin và khoáng chất.
2.5.1 Protid
Theo Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996 cho rằng:
Protid là thành phần cơ bản trong cơ thể của tôm cá, là thành phần chính của
nguyên sinh chất tế bào, protid tham gia vào cân bằng năng lượng của cơ thể. Protid
còn là những chất kích thích ăn ngon cho nhiều loài tôm, cá.
Quá trình tiêu hóa đã phân giải protid trong thức ăn thành acid amin. Các
acid amin thấm qua thành ruột chuyển tới các tổ chức cơ thể, tại đây aicd amin được
sử dụng để tổng hợp protid đặc hiệu cho cơ thể đó.
Protid giá trò cao là khi thành phần của nó có đầy đủ các acid amin cần thiết ở
tỉ lệ thích hợp. Thiếu một trong các acid amin thiết yếu sẽ dẫn đến rối loạn cân bằng
đạm, làm cho vật nuôi chậm lớn, và xuống cân dù rằng các thành phần khác đầy đủ
và làm rối loạn sử dụng tất cả các acid amin còn lại.
2.5.3 Glucid
Trong dinh dưỡng tôm cá, vai trò chính của glucid là sinh năng lượng. Tùy
theo giống loài mà tôm, cá có khi hơn một nữa năng lượng của khẩu phần là do
glucid cung cấp. Ngoài vai trò sinh năng lượng, ở mức độ nhất đònh, glucid có cả vai
trò tạo hình vì có mặt trong tế bào và tổ chức thòt tôm cá. Chuyển hóa glucid liên
quan chặt chẽ với chuyển hóa protid và lipid. Cung cấp đủ glucid trong thức ăn sẽ
làm giảm phân hủy protid đến mức tối thiểu.
Glucid theo nhu cầu dinh dưỡng tôm cá chủ yếu là tinh bột. Tinh bột là thành
phần dinh dưỡng chính của các loại hạt ngũ cốc và đậu. Nhưng có một thành phần
quan trọng khác là cenluloza. Cenluloza có khả năng điều hòa bài tiết và kích thích
các hệ vi khuẩn có lợi cho đường ruột, tạo điều kiện tốt nhất cho chức phận tổng hợp
của chúng (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996).
2.5.4 Vitamin
Vai trò của vitamin là rất to lớn đối với cơ thể, nó cần thiết cho sự chuyển hóa
chủ yếu của cơ thể, trong đó có quá trình đồng hóa và sử dụng các chất dinh dưỡng
cũng như quá trình lớn, xây dựng tế bào và tổ chức cơ thể.
Vitamin phần lớn không được tổng hợp trong cơ thể mà được cung cấp từ
nguồn thức ăn động vật và thực vật. Thiếu vitamin sẽ là nguyên nhân của nhiều rối
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.loạn chuyển hóa quan trọng. Vì vậy trong thành phần thức ăn cần cung cấp đầy đủ
vitamin cho cơ thể (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996).
Hệ số thức ăn càng lớn thì thức ăn càng kém hiệu quả.
Ngày nay khi nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh thì đòi hỏi phải giảm hệ số
thức ăn xuống mức thấp nhất, rút ngắn thời gian nuôi, thu lại lợi nhuận cao nhất. Tuy
nhiên việc rút ngắn hệ số thức ăn còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như ao, hồ, kỷ thuật
nuôi v…v… Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời Gian và Đia Điểm Nghiên Cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài từ tháng 03/2005 – 07/2005 tại Trại Thực Nghiệm
Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM
3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá lăng nha ba ngày tuổi, được cho sản xuất tại Trại
Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM.
(Lô 1)
NT ĐC
(Lô 1)
NT ĐC
(Lô 2)
NT IV
(Lô 1)
NT V
(Lô 1)
NT V
(Lô 2)
NT IV
(Lô 2)
NT III
(Lô 1)
NT III
(Lô 2)
NT I
(Lô 1)
NT II
(Lô 2)
NT IV
(Lô 3)
NT I
(Lô 2)
NT III
(Lô 3)
NT II
(Lô 3)
7 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Trùn chỉ
8 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
9 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
10 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
11 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
12 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Ở mỗi nghiệm thức đều có sự khác nhau về thức ăn, cá sau khi tiêu hết noãn
hoàng (cá ba ngày tuổi) được cho ăn Moina, qua ngày thứ hai (tức cá bốn ngày tuổi)
thì chúng tôi tiến hành thí nghiệm. Một nghiệm thức cá bốn ngày tuổi (tức nghiệm
thức một) được cho ăn thòt cá đã được hấp chín, các nghiệm thức còn lại được cho ăn
trùn chỉ. Sau mỗi ngày thì lần lượt thay các nghiệm thức cho ăn trùn chỉ bằng thòt cá
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.đến khi nào thay hoàn toàn các nghiệm thức cho ăn trùn chỉ bằng thòt cá. Riêng
nghiệm thức đối chứng vẫn cho ăn trùn chỉ bình thường đến khi kết thúc thí nghiệm.
Trong quá trình làm thí nghiệm các điều kiện như nhiệt độ, DO, pH vẫn giữ
không đổi, kết thúc thí nghiệm khi cá 12 ngày tuổi.
Trong quá trình làm thí nghiệm thường xuyên theo dõi các hoạt động bắt mồi
3.5.2.1 Cho ăn
a/ Moina, trùn chỉ
Moina được vớt trong ao và được lọc sạch trước khi cho cá ăn. Cho cá ăn
Moina khi ba ngày tuổi lúc này cá đã tiêu hết noãn hoàng.
Trùn chỉ được mua về rửa sạch loại bỏ hết chất bẩn và được lưu giữ trong
nước chảy.
Khi cá được bốn ngày tuổi thì cho cá ăn bằng trùn chỉ các nghiệm thức II,
nghiệm thức III, nghiệm thức IV, nghiệm thức V và nghiệm thức đối chứng.
b/ Thòt cá
Thòt cá mà chúng tôi sử dụng là thòt cá rô phi từ Trại Thực Nghiệm Thủy Sản.
Cá sau khi được bắt lên, bỏ mang, rửa sạch để loại bỏ chất bẩn bám trên cơ thể cá.
Sau khi làm sạch được đem đi hấp chín để loại bỏ mầm bệnh.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.Nghiệm thức I (tức cá bốn ngày tuổi) thì chúng tôi cho ăn thòt cá, sau mỗi
ngày thì lần lược thay thế trùn chỉ bằng thòt cá ở mỗi nghiệm thức, riêng nghiệm thức
đối chứng vẫn cho ăn trùn chỉ.
Sau khi cho ăn, thức ăn còn dư được bảo quản trong tủ đá để tránh sự phân
hủy của thòt cá làm thức ăn và bảo quản thức ăn được lâu hơn. Không nên hấp cá quá
lâu làm ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn. Trước khi cho cá ăn chúng tôi hấp lại
Chúng tôi tiến hành xác đònh tỉ lệ sống khi kết thúc thí nghiệm (cá 12 ngày
tuổi) ở mỗi lô và được tính theo công thức sau:
Số cá còn lại
Tỷ lệ sống (%)
=
100Số cá ban đầu
3.6.2 Tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng
Chúng tôi tiến hành đo chiều dài và cân trọng lượng sau khi cá đã đạt 12 ngày
tuổi, bắt ngẫu nhiên 30 con để đo chiều dài và cân trọng lượng.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only. Tổng chiều dài thu được
Chiều dài trung bình
=
(mm)
Tổng số cá đo chiều dài Tổng trọng lượng thu được
Trọng lượng TB
=
Trong nghiên cứu cũng như trong thực tế, việc chuyển từ thức ăn tươi sống
sang thức ăn nhân tạo, nếu không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá
bột thì nên sử dụng thức ăn nhân tạo sẽ hạn chế được bệnh lây nhiễm từ thức ăn tươi
sống và chủ động được nguồn thức ăn trong ương nuôi.
4.1 Các Yếu Tố Bên Ngoài Tác Đôïng lên Sự Tăng Trưởng của Cá
Nước là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, là
môi trường sống của cá cũng như các loài sinh vât dưới nước khác. Các yếu tố thủy,
lý, hoá của nước phần nào cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá, sự bắt mồi
và khả năng hấp thụ thức ăn của cá. Do đó, trong quá trình nuôi cần phải quan tâm
đến chất lượng của môi trường, hay nói cách khác chúng ta phải quan tâm đến chất
lượng nước, tạo môi trường sống thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của cá.
Nước mà chúng tôi sử dụng trong quá trình làm thí nghiệm là nước được lấy từ
hồ đất có chất lượng tương đối tốt và được chứa trong bể 1000L đã ổn đònh phần nào
các yếu tố thủy, lý, hoá cho nên không làm ảnh hưởng nhiều đến cá.
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong quá trình thí nghiệm
Các yếu tố môi trường Dao động
Nhiệt độ (
0
C) 26 - 30
DO (mg 0
2
/L) 4 - 5
pH 7,2 – 7,5
NH