Đề tài: Đầu t trực tiếp của các nớc ASEAN vào
Việt Nam - Thực trạng và triển vọng.
Lời mở đầu
Ngày nay, các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong quá trình phát
triển đã từng bớc tạo lập nên các mối quan hệ song phơng và đa phơng, từng bớc
tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với nhiều mức độ khác nhau nhằm đa
lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là sự biểu
hiện rõ nét của hai xu hớng khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức sôi
động và đặc biệt quan trọng trong những năm qua.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tiến hành đổi mới kinh tế,
phù hợp với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Việt nam đã trở thành thành
viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEAN từ ngày
28/07/1995, tham gia Diễn đàn Châu á - Thái Bình Dơng APEC từ ngày
17/11/1998 và gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới WTO. Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á có 10 quốc gia: Brunây, Campuchia, Mianma, Lào, Malaixia,
Philippin, Xinhgapo, Thái Lan, Indonêxia và Việt Nam. Việc gia nhập ASEAN
và khối mậu dịch tự do ASEAN (The Free Trade Area -AFTA) là một cố gắng
của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới, qua đó cải thiện môi
trờng đầu t thu hút các nhà đầu t nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài của các nớc ASEAN vào Việt Nam phát triển rất
nhanh chóng, hiện đang đóng một vai trò nhất định đối với sự phát triển của nền
kinh tế nớc ta. Không chỉ các nớc t bản phát triển mà các nớc ASEAN đều nhận
thấy Việt Nam là một điạ chỉ khá hấp dẫn thu hút các nhà đầu t nớc ngoài. Có
thể thấy rằng, Việt nam là một thị trờng đông dân, có tài nguyên khá phong phú,
nguồn nhân công dồi dào, chi phí lao động rẻ hơn các nớc ASEAN khác.
Tuy rằng, qua quá trình thực hiện các dự án đã bộc lộ sự hạn chế về năng
lực tài chính và công nghệ của các nhà đầu t ASEAN. Đây là một yếu tố khách
quan. Bản thân các nhà đầu t ASEAN cũng đang ở trên nấc thang thứ ba của quá
trình công nghiệp hoá của Châu á nên cũng là những nớc kêu gọi vốn đầu t nớc
ngoài. Chính vì thế, để tạo dựng lợi thế thu hút vốn FDI không loại trừ việc từ đó
các quốc gia thành viên ASEAN tích cực đẩy mạnh đầu t trực tiếp ra nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) : là hình
thức đầu t trong đó ngời bỏ vốn đầu t và ngời sử dụng vốn là một chủ thể. Có
nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân ngời nớc ngoài (các chủ đầu t) trực
tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu t và vận hành các kết
quả đầu t nhằm mục đích thu hồi vốn và sinh lợi.
Về thực chất, FDI là sự đầu t nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nớc
ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là hình thức đầu t mà chủ
đầu t nớc ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ
và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối trọng mà họ bỏ vốn. Để làm rõ
hơn khái niệm trên, ta có thể nêu ra đây một số đặc trng chủ yếu cũng nh mối
quan hệ của đầu t trực tiếp nớc ngoài nh sau:
* Chuyển vốn từ nớc đầu t sang nớc nhận đầu t kèm theo việc
chuyển giao công nghệ.
* Thiết lập quyền sở hữu tài sản và quyền quản lý (hoặc đồng quản
lý) của nhà đầu t đối với doanh nghiệp của họ ở nớc nhận đầu t, kèm theo
việc chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp.
* Nhằm mục đích sinh lời, nhà đầu t đợc hởng lợi nhuận hoặc chịu
mọi rủi ro trong kinh doanh, đợc quyền sử dụng lợi nhuận để mở rộng
kinh doanh hoặc chuyển về nớc.
2. cơ sở hình thành đầu t trực tiếp nớc ngoài
Trong lịch sử thế giới, Đầu t Trực tiếp của Nớc ngoài đã từng
xuất hiện ngay từ thời tiền T bản thông qua con đờng xâm chiếm thuộc địa . Các
Công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những Công ty đi đầu
trong lĩnh vực này dới hình thức đầu t vốn, kỹ thuật vào các nớc thuộc địa để
khai thác đồn điền và cùng với nó là những ngành khai thác khoáng sản nhằm
cung cấp các nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Hoạt động
đầu t trong thời kỳ này chủ yếu phục vụ lợi ích cho các nớc T bản- Thực dân, mà
cụ thể là các công ty và các nhà T bản kếch xù, thậm chí có nơi họ vơ vét, bóc
lột đến cùng kiệt, chỉ một phần nhỏ lọi ích đợc đem lại cho nớc bản địa, chủ yếu
chỉ nhằm duy trì và bảo đảm cho bộ máy khai thác thuộc địa ở bản xứ. Khi Chủ
đó là một hiện tợng kinh tế mang tính tất yếu khách quan, khi mà quá trình tích
tụ và tập trung đã đạt đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện nhu cầu đầu t ra n-
ớc ngoài, đa sức sản xuất xã hội vợt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc
gia, hình thành nên qui mô sản xuất trên phạm vi quốc tế.
ii. vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài
Trong thời đại và bối cảnh thế giới ngày nay, trên cơ sở đảm
bảo đem lại lợi ích cho cả hai bên, vai trò của hoạt động FDI đợc hiểu là do sự
tác động đồng thời của bản thân hoạt động đầu t đôí với cả nớc đi đầu t và nớc
tiếp nhận đầu t. Trong khuôn khổ bài viết này, xin đợc đề cập tới vai trò của đầu
t trực tiếp nớc ngoài đối với các nớc đang phát triển khi ở vị trí của nớc nhận đầu
t, cũng nh các nớc phát triển khi ở vị trí nớc đi đầu t.
1. đối với nớc đi đầu t
Thứ nhất, nớc đi dầu t có thể tận dụng đợc lợi thế so sánh của
nớc nhận đầu t. Đối với các nớc đi đầu t, họ nhận thấy tỷ suất lợi nhuận đầu t ở
trong nớc có xu hớng ngày càng giảm, kèm theo hiện tợng thừa tơng đối t bản.
Bằng đầu t ra nớc ngoài, họ tận dụng đợc lợi thế về chi phí sản xuất thấp của nớc
nhận đầu t (do giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp bởi
các nớc nhận đầu t là các nớc đang phát triển, thờng có nguồn tài nguyên phong
phú nhng do hạn chế về vốn và công nghệ nên cha đợc khai thác, tiềm năng còn
rất lớn) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất
hàng thay thế nhập khẩu của nớc nhận đầu t, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả của
vốn đầu t.
Thứ hai, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm thông qua chuyển
giao công nghệ. Thông qua đầu t trực tiếp, các công ty của các nớc phát triển
chuyển đợc một phần các sản phẩm công nghiệp (phần lớn là máy móc thiết bị)
ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống của chúng sang nớc nhận đầu t để tiếp tục sử
dụng nh sản phẩm mới ở các nớc này, hoặc ít ra cũng nh các sản phẩm đang có
nhu cầu trên thị trờng nớc nhận đầu t, nhờ đó mà tiếp tục duy trì đợc việc sử
dụng các sản phẩm này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu t. Với sự phát triển nh
vũ bão của khoa học kỹ thuật nh ngày nay thì bất cứ một trung tâm kỹ thuật tiên
Bởi chính nó, cái vòng luẩn quẩn, đã làm hạn chế quy mô đầu t và đổi
mới kỹ thuật trong điều kiện nền khoa học kỹ thuật cũng nh lực lợng sản xuất
trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Đồng thời qua đó cho chúng ta thấy chỉ có mở
cửa ra bên ngoài mới tận dụng đợc tối đa lợi thế so sánh của nớc mình để từ đó
mà phát huy và tăng cờng nội lực của chính mình. Các nớc NICs trong gần 30
năm qua nhờ nhận đợc trên 50 tỷ USD đầu t nớc ngoài cho phát triển kinh tế
Tiết kiệm, đầu t thấp
Thu nhập bình quân thấp
Năng suất thấp
Tích luỹ vốn thấp
cùng với một chính sách kinh tế năng đông và có hiệu quả đã trở thành những
con rồng châu á.
Thứ ba, đầu t sẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh nghiệm của các n-
ớc trên thế giới cho thấy, con đờng tất yếu có thể tăng trởng nhanh với tốc độ
mong muốn (9-10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu
vực công nghiệp và dịch vụ. Đầu t sẽ góp phần giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,kinh
tế, chính trị Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu sản phẩm và lao động,
cơ cấu lãnh thổ sẽ đợc thay đổi theo chiều hớng ngày càng đáp ứng tốt hơn các
nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc.
Thứ t, đầu t sẽ làm tăng cờng khả năng khoa học- công nghệ của quốc
gia. Thông qua đầu t trực tiếp , các công ty (chủ yếu là các công ty đa quốc gia)
đã chuyển giao công nghệ từ nớc mình hoặc các nớc khác sang nớc nhận đầu t.
Mặc dù còn nhiều hạn chế do những yếu tố khách quan và chủ quan chi phối,
song điều không thể phủ nhận đợc là chính nhờ sự chuyển giao này mà các nớc
chủ nhà nhận đợc những kỹ thuật tiên tiến (trong đó có những công nghệ không
thể mua đợc bằng quan hệ thơng mại đơn thuần) cùng với nó là kinh nghiệm
quản lý, đội ngũ lao động đợc đào tạo, rèn luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật,
phơng pháp làm việc, kỷ luật lao động ).
việc triển khai và thực thi một dự án đầu t. Thông thờng mục đích đầu t là nhằm
có chỗ đứng hoặc chiếm lĩnh thị trờng của nớc sở tại với kỳ vọng vào sực tiêu thụ
tiềm năng của nó. Chình vì vậy mà trong cùng một quốc gia, vùng hay miền nào
có sực tiêu dùng lớn, thu nhập bình quân đầu ngời đi kèm với thị hiếu tiêu dùng
tăng lên sẽ thu hút đợc nhiều dự án đầu t hơn.
Ngoài ra, để đảm bảo cho hoạt động đầu t đợc hiện thực hoá và đi vào
hoạt động đòi hỏi quốc gia tiếp nhận đầu t phải đảm bảo một cơ sở hạ tầng đủ để
đáp ứng tốt nhất những nhu cầu đầu t kể từ lúc bắt đầu xây dựng, triển khai dự án
cho đến giai đoạn sản xuất kinh doanh khi dự án đi vào hoạt động. Đó là cơ sở
hạ tầng công cộng nh Giao thông - Liên lạc , các dịch vụ đảm bảo cho sinh
hoạt và sản xuất nh Điện, nớc , cũng nh các dịch vụ khác phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh nh Tài chính- Ngân hàng.
4. môi trờng pháp lý
Pháp luật và bộ máy hành pháp có liên quan chi phối hoạt động của nhà
đầu t từ khi bắt đầu tìm kiếm cơ hội đầu t cho đến khi dự án kết thúc thời hạn
hoạt động. Đây là cấu thành có tác động trực tiếp cũng nh gián tiếp đến hoạt
động đầu t. Nếu môi trờng pháp lý cùng bộ máy vận hành nó tạo nên sự thông
thoáng, cởi mở và phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng nh sức hấp dẫn và đảm bảo
lợi ích lâu dài cho nhà đầu t thì cùng với các cấu thành khác sẽ tạo nên một môi
trờng đầu t có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu t nớc ngoài.
iv. các hình thức đầu t trực tiếp nớc
ngoàI
1. các hình thức phổ biến
Đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài, mỗi nớc đều có cơ sở lý luận và
quan điểm phù hợp với đặc điểm hoàn cảnh riêng của mình. Điều này cho phép
họ tìm thấy ở mỗi lý luận những khía cạnh riêng, những hạn chế riêng của FDI.
Đây là điều vô cùng quan trọng giúp chọ họ có những quan điểm và vận dụng cụ
thể hơn trong việc xây dựng chiến lợc về FDI của riêng mình. Từ cách tiếp cận
trên, trong thực tiễn FDI có nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Nhng những hình
thức áp dụng phổ biến là :
Nam.
* Hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT) : là văn bản ký kết
giữa cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để
xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (nh cầu đờng, sân bay,
bến cảng tại Việt Nam) trong một khoảng thời gian nhất định. Với hình thức
này, các chủ đầu t chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình
trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án
kết thúc, toàn bộ công trình sẽ đợc chuyển giao cho nớc chủ nhà mà không thu
bất cứ khoản tiền nào.
* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao- kinh doanh (BTO) : với hình thức
này, sau khi xây dựng xong, nhà đầu t chuyển giao công trình cho nớc chủ nhà.
Chính phủ nớc chủ nhà giành cho nhà dầu t quyền kinh doanh công trình đó
trong thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) : với hình thức này, sau khi xây
dựng xong, chủ đầu t chuyển giao công trình cho nớc chủ nhà. Nớc chủ nhà sẽ
tạo điều kiện cho nhà đầu t nớc ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu
t và có lợi nhuận hợp lý.
* Đầu t vào Khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Quan
hệ trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong thị trờng Việt Nam với các
doanh nghiệp chế xuất đợc coi là quan hệ xuất nhập khẩu và phải theo các quy
định của pháp luật xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp trong khu chế xuất đợc h-
ởng chế độ u đãi nh nhau : trong khu chế xuất áp dụng chế độ tự do thuế quan, tự
do mậu dịch. Tuy nhiên các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đợc điều chỉnh
theo luật khác nhau : các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thì theo Luật đầu
t nớc ngoài tại Việt Nam, các doanh nghệp Việt Nam thì theo Luật doanh
nghiệp.
Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam mới chỉ thấy chủ yếu là ba hình thức
BBC, JVC và doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài. Các dự án kêu gọi đầu t theo
các hình thức khác nh BOT, BTO đang đ ợc xúc tiến và hy vọng sẽ hấp dẫn và
thu hút đợc các nhà đầu t nớc ngoài.
xuất hiện một số nớc đang phát triển có tốc độ đâù t ra ngoàI khá cao. Tuy rằng,
lợng FDI của các chủ mới này chỉ chiếm khoảng 2% tổng số vố đầu t quốc tế
nhng nó đạI diện cho xu thế đI lên. Nổi bật trong số đó là các nớc NICs ở Châu
á.
- Lĩnh vực đầu t cũng có những thay đổi sâu sắc. ở đầu thế kỷ, các nớc
đầu t ra ngoàI thờng hớng vào các lĩnh vực truyền thống nh khai thác tàI nguyên
thiên nhiên, phát triển nông nghiệp và một số ngành chế biến nông sản chủ
yếu là hớng vào các ngành cần nhiều lao động để khai thác nhân công rẻ và
nguồn tàI nguyên thiên nhiên ở các nớc này. Ngày nay, lĩnh vực đầu t đã có
những thay đổi sâu sắc. Các chủ đầu t thờng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ chủ
yếu là thơng mạI và tàI chính. Số còn lạI của t bản xuất khẩu chủ yếu tập trung
vào các ngành có hàm lợng công nghệ kỹ thuật cao nh nghành đIện tử, chế tạo ô
tô Riêng đối với các n ớc chậm phát triển, các chủ đầu t thờng hớng vào:
+ Các dự án vừa và nhỏ, những ngành nhanh thu hồi vốn để
giảm tới mức tối đa sự rủi ro.
+ Các dự án cho phép lợi dụng triệt để các điều kiện u đãI mà
các nớc tiếp nhận đầu t dành cho họ
+ Các ngành khai thác tàI nguyên chiến lợc nh quặng sắt, than,
dầu mỏ
+ Các ngành có thị trờng tiêu thụ ngay tạI nớc sở tại.
+ Các ngành sử dụng nhiều nhân công và khó cơ giới hoá.
- Đông á và Đông Nam á trở thành khu vực hấp dẫn đầu t nớc ngoàI vì
khu vực này nằm trong vùng kinh tế phát triển năng động nhất thế giới trong
những năm gần đây. Mặt khác, khu vực này có nhiều hấp dẫn với các nhà đầu t
nh giá nhân công rẻ, môI trờng đầu t ngày càng đợc cảI thiện và so với các nớc
phát triển thì khu vực này có mức độ cạnh tranh thấp hơn.
Chơng II: Thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoàI
của các nớc ASEAN vào Việt Nam giai đoạn 1988- 1998:
I. Tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoàI tạI Việt Nam giai đoạn
1988-1998: