Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam - thực trạng và triển vọng - Pdf 11

Lời mở đầu
Bớc sang thế kỷ XX, toàn cầu hoá nền kinh tế trở thành vấn đề thời
đại mang tính sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đó là một xu
thế mới của quá trình phát triển kinh tế thị trờng, phản ánh trình độ phát
triển cao của lực lợng sản xuất xã hội mà ở đó, phân công lao động quốc tế
và quốc tế hoá sản xuất trở thành phổ biến. Và có thể nói rằng Tổ chức th-
ơng mại thế giới (WTO) ra đời là một hệ quả tất yếu của quá trình này.
WTO là một tổ chức quốc tế biểu hiện gần nh đầy đủ và tiêu biểu nhất cho
xu hớng toàn cầu hoá hiện nay. Thực tế đã chứng minh rằng thơng mại quốc
tế đã mang lại rất nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế thế giới nói chung và
từng quốc gia nói riêng. Do vậy, gia nhập WTO không chỉ đơn thuần là chịu
sức ép của xu thế tất yếu của thời đại mà nó còn mang tính chủ động, là
mục tiêu của nhiều nớc trên thế giới vì lợi ích phát triển kinh tế quốc gia
mình.
Đối với Việt Nam, một nớc mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mới
chỉ diễn ra trong vòng 10 năm trở lại đây thì tiến trình đàm phán gia nhập
WTO càng trở nên khó khăn phức tạp. Mặc dù hiện nay Việt Nam đã có
thêm nhiều thuận lợi trong quan hệ quốc tế nh: là thành viên của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình D-
ơng (APEC), và gần đây nhất là đã ký kết đợc Hiệp định thơng mại song ph-
ơng với Hoa Kỳ... Nhng không thể phủ nhận một thực tế là Việt Nam vẫn
còn rất yếu trong quá trình đàm phán cả song phơng, khu vực và đa phơng.
Việt Nam vẫn còn thiếu cả về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đối với
các cuộc đàm phán quốc tế. Trong khi đó tiến trình đàm phán để gia nhập
WTO lại đặt ra rất nhiều vấn đề phức tạp.
Trớc một thực tế bức bách đó, em đã chọn đề tài: "Tiến trình đàm
phán gia nhập WTO của Việt Nam - thực trạng và triển vọng" để có thể
nghiên cứu sâu hơn về tình hình đàm phán gia nhập WTO hiện nay của Việt
1
Nam, cố gắng tìm ra những khó khăn, những mặt yếu kém tồn tại... để từ đó

thuận đa phơng then chốt về mậu dịch toàn cầu. Hiệp định GATT trở thành
văn kiện công pháp quốc tế đầu tiên điều chỉnh quan hệ thơng mại giữa các
quốc gia mang tính chất đa phơng. Nhiệm vụ chính của GATT là tự do hoá
thơng mại, cắt giảm thuế quan, bãi bỏ các hạn chế về nhập khẩu và chấm
dứt mọi phân biệt đối xử về kinh tế và buôn bán giữa các nớc. Bất cứ sự
thay đổi nào trong hiệp định cũng đòi hỏi phải đợc tất cả các thành viên
đồng ý. Nếu có sự tranh chấp, mọi thành viên phải đồng thuận về giải pháp.
Khi GATT ra đời, các quốc gia chỉ xem đây là một giải pháp dung
hoà tạm thời nhng trên thực tế nó tồn tại trong một thời gian dài. GATT đã
trải qua bảy vòng đàm phán, không kể vòng khai sinh ra nó gồm: 1949
(vòng Annecy), 1951 (vòng Torquay), 1956 (vòng Geneva), 1960 - 1961
(vòng Dillon), 1964 - 1967 (vòng Kennedy), 1973 - 1979 (vòng Tokyo) và
1986 - 1994 (vòng Uruguay).
Sau hơn 40 năm tồn tại của mình, GATT đã góp phần đáng kể vào
tăng trởng kinh tế thế giới. Nhng do cơ chế giải quyết tranh chấp không
hiệu quả và ngời đợc lợi chủ yếu là Mỹ nên các quốc gia khác đòi phải có
một tổ chức thay thế GATT có hiệu quả hơn. Trong vòng Uruguay (vòng
đàm phán cuối cùng của GATT) các quốc gia thành viên đã đồng thuận
3
thành lập Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) để kế vị GATT từ ngày 1
tháng 1 năm 1995.
Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế, là thiết chế
pháp lý của hệ thống thơng mại thế giới quy định các nghĩa vụ chủ yếu
mang tính cam kết để xác định các chính phủ xây dựng và thực thi luật pháp
và các quy chế thơng mại trong nớc nh thế nào.
Hiện nay WTO là một tổ chức quốc tế có quy mô lớn nhất thế giới
(trừ Liên Hiệp Quốc) với 135 thành viên chính thức, 33 nớc là quan sát
viên. Thêm vào đó, thoả thuận WTO cũng có quy mô khá đồ sộ với 29 văn
bản pháp quy riêng rẽ, bao quát mọi thứ từ nông nghiệp đến vải vóc và may
mặc, từ dịch vụ đến mua sắm của chính phủ, từ nguồn gốc hàng hoá đến sở

đa phơng đầu tiên về thơng mại trong dịch vụ đã giải thích rõ nghĩa vụ của
các thành viên nh phạm vi thi hành, đối xử quốc gia, tiếp cận thị trờng và đa
ra một khuôn khổ cho tiến trình tự do hoá trong thơng mại dịch vụ. Rõ ràng
tất cả các điều trên đều nhằm phục vụ cho mục tiêu tự do hoá thơng mại.
Có thể thấy rõ nhất mục tiêu này là ở chỗ WTO đã cấm phân biệt đối
xử giữa các thành viên, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nớc.
Chẳng hạn, theo Điều I về đãi ngộ tối huệ quốc - MFN, các thành viên phải
đối xử với sản phẩm của các thành viên khác không kém hơn sự đối xử bất
cứ quốc gia nào khác. Một hình thức thứ hai về không phân biệt đối xử gọi
là "đối xử quốc gia", yêu cầu một khi hàng ngoại đã vào một thị trờng phải
đợc đối xử không kém thuận lợi so với hàng nội.
Biểu hiện rõ ràng hơn cả trong mục tiêu này chính là vấn đề cắt giảm
thuế quan. Từ năm 1948, sau khi GATT thành lập, trải qua các vòng thơng
lợng đã tiến hành giảm thuế từng bớc, đến vòng cuối cùng, vòng Uruguay
thuế đã đợc giảm mạnh hơn, đồng thời tăng đáng kể số lợng các mặt hàng
cần đợc giảm thuế. Tính ra, theo WTO, trong vòng 5 năm đã cắt giảm đợc
40% thuế quan đánh vào các mặt hàng công nghiệp nhập vào các nớc phát
triển, từ mức thuế bình quân 6,3% giảm xuống còn 3,8%, đa giá trị hàng
công nghiệp nhập khẩu đợc miễn thuế ở các nớc phát triển từ 20% lên 44%.
5
Ngoài ra, trong lời mở đầu văn bản khai sinh WTO còn bao gồm một
số mục tiêu phi thơng mại nh: mức sống cao hơn và toàn dụng lao động,
còn các thoả thuận của nó ảnh hởng tới nhiều chính sách quốc gia về kinh
tế và xã hội, chẳng hạn nh đầu t, an ninh lơng thực và cả y tế. Trong thực tế
các cuộc thơng thuyết này đều bị chi phối bởi các lợi ích thơng mại của các
nớc thành viên nên quá trình đàm phán thờng rất khó khăn và quyết liệt.
2.2. Chức năng chủ yếu của WTO.
Trớc hết, với bản chất pháp lý của mình, WTO có chức năng điều
hành và thực thi các hiệp định thơng mại đa phơng và hiệp định giữa một số
bên cấu thành WTO. Đây là một trong những chức năng quan trọng nhất

thâm nhập vào một thị trờng thì nó phải đợc đối xử không kém u đãi so với
hàng hoá tơng tự sản xuất trong nớc. Ngoài ra, WTO còn đa ra các điều
khoản không có sự phân biệt đối xử khác bao gồm các hiệp định, các quy
tắc về xuất xứ, kiểm nghiệm hàng hoá trớc khi giao hàng, về biện pháp đầu
t liên quan đến thơng mại và về áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh và kiểm
dịch.
3.2. Sự thâm nhập thị trờng ngày càng tăng và có thể dự đoán trớc.
Hệ thống thơng mại đa phơng là một sự cố gắng của các quốc gia
nhằm cung cấp cho các nhà đầu t, ngời chủ, ngời lao động và ngời tiêu dùng
một môi trờng kinh doanh thuận lợi để có thể khuyến khích thơng mại, đầu
t và tạo công ăn việc làm, cũng nh các cơ hội và giá cả thấp trên thị trờng.
Môi trờng đó cần đợc ổn định và có khả năng dự đoán trớc, đặc biệt là với
những công việc liên quan đến đầu t và phát triển.
Vấn đề mấu chốt của những điều kiện thơng mại có thể dự báo trớc là
sự rõ ràng của luật pháp trong nớc, các quy định và thực tiễn. Nhiều hiệp
định của WTO chứa đựng những điều khoản rõ ràng đòi hỏi phải công bố
trong toàn quốc, ví dụ thông qua các báo chí, các phơng tiện thông tin đại
chúng hay thông báo chính thức với WTO. Phần lớn công việc của các quan
chức WTO có liên quan là xem xét lại những thông báo này. Việc giám sát
7
này sẽ cung cấp thêm các biện pháp nhằm khuyến khích sự rõ ràng của các
điều luật và các quy định ở cả phạm vi trong nớc và quốc tế.
3.3. Tăng cờng cạnh tranh lành mạnh.
WTO là một tổ chức hớng tới tự do hoá thơng mại trên toàn cầu nhng
hiện tại nó vẫn chấp nhận một số dạng bảo hộ (thuế...) mà WTO cho phép
các nớc thành viên sử dụng để chống trả lại mọi biện pháp có thể gây méo
mó về giá cả trong nớc hoặc gây tổn hại cho chính nớc bạn hàng nh việc
bán phá giá, trợ cấp đầu vào, áp dụng các biện pháp phụ thu đối với hàng
nhập khẩu để bảo hộ nội địa, sử dụng các hàng rào thuế để hạn chế hoặc
hạn chế buôn bán... Theo nguyên tắc này buộc các thành viên phải đa ra

nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng có thể trở thành không thể cạnh tranh đ-
ợc trong một vài sản phẩm hay dịch vụ khi nền kinh tế của họ phát triển.
Tuy nhiên, với những u thế của nền kinh tế mở, chúng có khả năng cạnh
tranh ở một nơi khác. Đây là một quá trình dần dần. Mặt khác bảo hộ quá
mức sẽ làm nền kinh tế trì trệ, không hiệu quả. Chính vì những lợi ích trên
mà một trong những mục tiêu mang tính nguyên tắc của WTO là ngăn cản
xu thế bảo hộ và tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa bảo hộ.
3.6. Giải quyết các bất đồng thơng mại.
Việc giải quyết tranh chấp trong WTO đợc coi là một yếu tố trung
tâm bảo đảm cho việc vận hành thơng mại một cách an toàn và nằm trong
dự kiến. Các thành viên phải dựa vào cam kết không hành động đơn phơng
chống lại những điều mà họ coi là vi phạm luật lệ thơng mại, mà phải dựa
vào hệ thống giải quyết tranh chấp đa phơng và phải tuân thủ các quy định
và phán quyết của hệ thống này.
Trong vòng 30 ngày sau khi nhận đợc khiếu kiện hoặc kháng án, cơ
quan xử lý tranh chấp (DSB) phải họp để phán quyết. Bên bị kiện phải tuyên
bố rõ ý định chấp hành khuyến nghị. Nếu có khó khăn trong việc tuân thủ
ngay lập tức thì có thể đợc DSB cho kéo dài "một thời gian hợp lý" để chấp
hành. Trong trờng hợp vẫn không chấp hành đợc thì thành viên bị kiện phải
thơng lợng với bên nguyên để xác định những điều kiện bồi thờng có thể
9
chấp nhận đợc cho cả hai phía - chẳng hạn, giảm thuế suất về một số lĩnh
vực nào đó có lợi cho bên nguyên.
Nếu sau 21 ngày mà yêu cầu bồi thờng vẫn cha đợc thoả mãn thì bên
nguyên có thể đề nghị DSB cho phép mình thực hiện việc đình chỉ thoả nh-
ợng hoặc nghĩa vụ với phía bên kia. DSB sẽ đồng ý với đề nghị này sau khi
mãn hạn 30 ngày nói trên. Vụ việc sẽ nằm trong nghị trình của DSB cho đến
khi đã đợc hoàn toàn giải quyết. Nh vậy, DSB có thẩm quyền duy nhất
thành lập các hội đồng xét xử, thụ lý các báo cáo của hội đồng xét xử và
kháng cáo, duy trì giám sát việc thực thi các phán quyết và khuyến nghị,

Thoả thuận WTO quy định bốn trờng hợp bỏ phiếu:
- Một đa số phiếu ba phần t có thể thông qua một diễn dịch của bất
kỳ hiệp định thơng mại đa phơng nào.
- Cũng bằng đa số đó, Hội nghị bộ trởng có thể quyết định cho một
thành viên nào đó lùi thời gian thi hành một hiệp định đa phơng nào đó.
- Những quyết định bổ sung một số điều khoản của các hiệp định th-
ơng mại có thể đợc thông qua nếu đợc tất cả các thành viên hoặc đợc một số
hai phần ba chấp thuận, tuỳ theo tính chất của vấn đề. Tuy nhiên, các điều
khoản bổ sung đó chỉ có hiệu lực đối với các thành viên đã chấp nhận
chúng.
- Việc kết nạp thành viên mới phải đợc đa số hai phần ba của Hội
nghị cấp bộ trởng tán thành.
5. Các điều kiện gia nhập WTO.
Để trở thành thành viên của WTO, một quốc gia phải đáp ứng đầy đủ
một số điều kiện cụ thể.
1. Phải là quốc gia có nền kinh tế thị trờng.
2. Phải sẵn sàng và có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ là thành viên
WTO.
11
3. Phải đợc sự tán thành của hai phần ba số thành viên trở lên tại Hội
nghị bộ trởng WTO.
Trên thực tế, khi xem xét cho một nớc gia nhập WTO thì việc đánh
giá xem các nớc đó đã hội đủ các điều kiện gia nhập cha thì các quan chức
WTO cũng nh các nớc thành viên căn cứ vào 5 điều kiện mang tính nguyên
tắc sau:
- Không phân biệt đối xử: Không một nớc nào có thể phân biệt đối xử
với các nớc bạn hàng của mình cùng có chân trong WTO hoặc với các sản
phẩm, dịch vụ cùng các công dân các nớc này.
- Tự do hơn: Các rào cản sẽ lần lợt đợc dỡ bỏ thông qua thơng thuyết.
- Có thể tiên liệu đợc: Các công ty, các nhà đầu t, các chính phủ các

WTO.
d. Quốc gia xin gia nhập trả lời các câu hỏi trên.
e. Sau khi Ban th ký WTO nhận đợc số lợng các câu hỏi xác định từ
quốc gia xin gia nhập WTO, thì phiên đầu tiên sẽ diễn ra (thời gian 8 - 10
tuần sau khi Ban th ký nhận đợc các câu hỏi).
f. Những phiên đàm phán thuộc giai đoạn đầu (thờng từ 2 - 5 phiên)
tập trung để minh bạch chính sách thơng mại cuả quốc gia xin gia nhập
WTO. Hình thức đàm phán là đàm phán đa biên.
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn bao gồm những phiên đàm phán song biên
giữa quốc gia xin gia nhập với từng đối tác cụ thể. Đan xen là những phiên
đàm phán đa biên để đa chính sách thơng mại của nớc đàn xin gia nhập tiếp
cận với các nguyên tắc và định chế chung của WTO.
Khi các điều kiện đã chín muồi tức là quốc gia đang gia nhập thoả
mãn những điều kiện của các nớc tham gia đàm phán chấp thuận thì Chủ
tịch Ban công tác tham vấn với Ban th ký WTO và đại diện các nớc đang
13
tham gia đàm phán thông qua các văn bản chấp nhận là thành viên chính
thức đối với quốc gia đang gia nhập WTO.
6. Triển vọng của WTO.
Hiện nay có rất nhiều ý kiến tỏ ra nghi ngờ về triển vọng tơng lai của
WTO vì Hội nghị Bộ trởng thơng mại WTO diễn ra tại Siatơn, Mỹ ngày 30
tháng 10 năm 1999 vừa qua đã không đạt đợc kết quả nh mong muốn ban
đầu của nớc chủ nhà. Dờng nh WTO đã rơi vào tay những tập đoàn t bản
lớn, những quốc gia t bản lớn. Chính vì vậy mà tơng lai của WTO phụ thuộc
rất nhiều ở các nớc đang phát triển, những nớc đang bị xem là thua thiệt
trong quá trình toàn cầu hoá. Thất bại của Hội nghị Siatơn đã cho thấy rằng
WTO đang cần một sự cải tổ lớn. Tuy nhiên muốn làm đợc điều đó thì các
nớc thế giới thứ ba phải đoàn kết với nhau, đoàn kết với các lực lợng không
ngừng lớn mạnh của các tổ chức nhân dân, của những ngời có lơng tri và có
hiểu biết thì chắc chắn các tập đoàn t bản không dễ dàng thao túng bộ máy

thuật hiện đại, nâng cao chất lợng sản phẩm.
Đối với ngành dịch vụ: Các lĩnh vực bu chính, ngân hàng, bảo hiểm
và tài chính tiền tệ của Trung Quốc cơ bản nằm dới sự khống chế độc quyền
của nhà nớc. Nhng sau khi gia nhập WTO, những ngành này tất phải mở
cửa, chính phủ sẽ từng bớc giảm can thiệp hành chính, lãi suất và hối suất
từng bớc đợc thị trờng hoá, vì thế mà thị trờng tài chính tiền tệ sẽ chịu
nhiều rủi ro hơn. Ngân hàng nớc ngoài có chất lợng cao hơn sẽ thu hút hết
khách hàng của ngân hàng trong nớc. Vì vậy Trung Quốc đã không ngừng
cải cách hệ thống ngân hàng của mình, bồi dỡng thêm cho cán bộ ngân
hàng trong nớc, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng...
Trên đây là vài kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi về thể chế và
cơ cấu kinh tế của Trung Quốc nhằm mục đích nhanh chóng gia nhập WTO.
Đây là bài học quý giá cho những nớc có cơ cấu và thể chế kinh tế tơng
đồng với Trung Quốc đang trong quá trình gia nhập WTO.
15
Chơng II
Thực trạng tiến trình đàm phán gia
nhập WTO của Việt Nam
I. Sự cần thiết gia nhập WTO của Việt Nam.
1. Quá trình quốc tế hoá phát triển.
Toàn cầu hoá đang trở thành xu thế tất yếu của thời đại. Trớc xu thế
nh vũ bão của toàn cầu hoá, một quốc gia muốn phát triển đợc phải tham
gia vào quá trình đó. Bởi vì toàn cầu hoá mang lại nhiều lợi ích to lớn cho
các quốc gia. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho thơng mại quốc tế, đầu t quốc
tế, hợp tác các lĩnh vực khác giữa các quốc gia. Đại diện tiêu biểu nhất và
đầy đủ nhất cho xu thế toàn cầu hoá hiện nay chính là Tổ chức thơng mại
thế giới. Việt Nam cũng là một quốc gia đang đứng trớc thử thách toàn cầu
hoá và một điều tất yếu là Việt Nam sẽ tham gia vào Tổ chức thơng mại thế
giới để tận dụng những thuận lợi cho phát triển kinh tế đất nớc. Thực tế đã
chứng minh rằng kể từ khi hoà nhập vào quá trình toàn cầu hoá, Việt Nam

tháng 4 năm 2001 đã đa ra các quyết định tiếp tục đổi mới nền kinh tế và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
17
Một sự kiện có ý nghĩa lớn trong việc tham gia WTO của Việt Nam là
ngày 28 - 7 - 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và đã ký hiệp định để gia
nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Theo Hiệp định này, Việt
Nam sẽ cắt giảm thuế quan đối với các nớc thành viên ASEAN xuống còn 0
- 5% trong vòng 10 năm, bắt đầu từ này 1 - 1 - 1996. Việc gia nhập ASEAN
của Việt Nam đã củng cố thêm vị trí của Việt Nam trong việc tham gia
WTO.
Hơn nữa vừa qua Việt Nam đã ký đợc Hiệp định thơng mại với Mỹ là
một bớc đệm quan trọng nhất cho quá trình đàm phán gia nhập WTO sau
này. Bởi vì mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ trong quá khứ là rất căng
thẳng. Trong khi đó Mỹ lại là lãnh đạo WTO cho nên việc bình thờng hoá
quan hệ với Mỹ đặc biệt là ký đợc một hiệp định thơng mại song phơng với
Mỹ là một cơ hội lịch sử cho Việt Nam trong quá trình tham gia WTO và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Cuối cùng, việc gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam phát triển thơng mại
một cách toàn diện hơn. So với trớc đây những vấn đề thơng mại quan trọng
của GATT đã đợc tự do hoá rất nhiều bởi các hiệp định của WTO (chẳng
hạn nh ngành dệt và nông nghiệp), mà đối với những vấn đề đó Việt Nam
có nhiều tiềm năng và có các thị trờng xuất khẩu lớn.
3. Những lợi ích khi gia nhập WTO của Việt Nam.
Một khi trở thành thành viên WTO, các Hiệp định của vòng Uruguay
có thể đem lại cho Việt Nam các lợi ích sau:
- Hiện tại thơng mại giữa các nớc thành viên WTO chiếm 90% khối l-
ợng thơng mại thế giới, việc Việt Nam trở thành thành viên WTO sẽ đẩy
mạnh thơng mại và các quan hệ của Việt Nam với các thành viên khác trong
WTO và đảm bảo nâng dần vai trò quan trọng của Việt Nam trong hệ thống

hơn từ các Hiệp định của vòng Uruguay, vì theo quy định của WTO hàng
xuất khẩu dới dạng sơ chế của các nớc đang phát triển sang các nớc phát
triển thờng không phải chịu thuế hoặc thuế thấp. Việt Nam là một nớc xuất
khẩu nhiều hàng sơ chế sẽ rất có lợi từ quy định này.
19
Nh vậy, xét một cách tổng thể thì Việt Nam vẫn phải nhất định gia
nhập WTO. Bởi vì vấn đề không phải là e sợ những thách thức mà không
gia nhập mà cốt lõi là phải biết tìm cách vợt qua những thách thức đó. Trớc
xu thế thời đại là quá trình toàn cầu hoá thì một quốc gia muốn phát triển
cần phải hoà mình vào xu thế đó. Việt Nam gia nhập WTO cũng không nằm
ngoài mục đích đó. Việt Nam vẫn còn đang là một nớc nghèo nên vấn đền
phát triển kinh tế là vấn đề sống còn, vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia,
dân tộc. Chính vì vậy, việc tham gia WTO cần phải là một điều tất yếu phải
đợc thực hiện. Việt Nam cần phải tận dụng tối đa những cơ hội, những lợi
ích do việc gia nhập WTO đem lại để phát triển đất nớc.
4. Những thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO.
Trớc hết, để thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử và áp dụng
quy chế tối huệ quốc đối với nhau, Việt Nam phải cam kết cắt giảm thuế
quan và phi thuế quan đối với các sản phẩm công nghiệp, thực hiện đối xử
bình đẳng đối với các doanh nghiệp trong nớc và ngoài nớc. Điều này đòi
hỏi phải loại bỏ những u đãi cho doanh nghiệp Nhà nớc về quyền kinh
doanh trong một số lĩnh vực, đất đai, tín dụng về xuất nhập khẩu và đối xử
bình đẳng đối với các loại hình doanh nghiệp. Đây chính là một khó khăn
cho ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam trớc sự đối đầu với các doanh
nghiệp của các nớc phát triển và các nớc có lợi thế so sánh cao hơn. Việc
đóng cửa các doanh nghiệp không có năng lực cạnh tranh và một số ngành
vốn đợc bảo hộ trớc đây sẽ dẫn đến sự phá sản của nhiều doanh nghiệp, gây
ra những biến động trên thị trờng tài chính, thất nghiệp gia tăng... Những hệ
quả về xã hội và tâm lý có thể dẫn tới những hiệu quả về chính trị không thể
xem nhẹ.

và sẽ phải chuẩn bị để giải quyết các vấn đề nh không phân biệt đối xử,
thuế cao, cấm nhập khẩu và hạn ngạch, sự không rõ ràng của cơ chế thơng
mại, thơng mại nhà nớc, các hạn chế dịch vụ, các yêu cầu về đầu t và sự vi
phạm các quyền sở hữu trí tuệ. Thậm chí trớc khi trở thành thành viên của
WTO, các nớc xin gia nhập WTO cần phải đáp ứng hàng loạt các yêu cầu
này trong luật và các quy định để đảm bảo rằng, Việt Nam hoàn toàn áp
dụng các hiệp định của WTO.
21
Tuy quá trình đổi mới của Việt Nam mới diễn ra đợc một thời gian
ngắn nhng Việt Nam đã đạt đợc bớc tiến đáng kể trong việc tiến tới sự tự do
hoá thơng mại và hội nhập quốc tế. Trong một thời gian ngắn, Chính phủ
Việt Nam đã tạo ra một nền tảng nhằm thiết lập một hệ thống ngoại thơng
mới đó là việc tăng số lợng các công ty thơng mại trên toàn đất nớc, cải
cách hệ thống ngân hàng phù hợp với cơ chế ngoại thơng, thiết lập một cơ
chế đầu t nớc ngoài tự do, và một cơ cấu thuế nhập khẩu. Việt Nam cũng đã
thành công trong việc tự do hoá cơ chế ngoại hối - một khâu khó khăn nhất
của cải cách thơng mại.
Tuy nhiên, để trở thành thành viên của WTO, Việt Nam vẫn cần có
những cải cách tiếp theo nhằm áp dụng hoàn toàn các quy tắc của WTO và
để giữ vững đợc quá trình chuyển đổi nền kinh tế đất nớc sang kinh tế thị tr-
ờng.
2. Cơ chế ngoại thơng của Việt Nam.
Một trong các yêu cầu quan trọng đối với t cách hội viên WTO là sự
rõ ràng của các cơ chế ngoại thơng. Để đạt đợc mục tiêu này, WTO yêu cầu
các thành viên cung cấp các loại thông tin cần thiết về thực tiễn và chính
sách thơng mại của mình nh định chế hải quan, các thủ tục hành chính hải
quan, các tiêu chuẩn nhãn hiệu và xuất xứ. Từng thành viên của WTO đợc
yêu cầu thông báo kịp thời cho WTO về bất kỳ sự thay đổi nào của luật và
chính sách thơng mại của mình. Nhằm tăng tính rõ ràng của các cơ chế
ngoại thơng của các thành viên, WTO thiết lập thờng xuyên một cơ chế

tích cực hơn nữa để giảm thiểu các hàng rào thơng mại, tạo ra sự thâm nhập
tốt hơn cho các công ty ở cả trong và ngoài nớc theo yêu cầu của WTO.
4. Tự do hoá thơng mại dịch vụ.
Sau vòng Uruguay, sự tự do hoá thơng mại đã lan sang cả lĩnh vực
dịch vụ. Hiện tại, thị trờng dịch vụ nớc ngoài của Việt Nam còn nhiều hạn
chế nh công ty dịch vụ nớc ngoài chỉ đợc phép hoạt động tại Việt Nam
trong các ngành công nghiệp đã chọn và ở một mức độ giới hạn, phải đối
mặt với những hạn chế hành chính đáng kể trong khi hoạt động tại Việt
Nam.
23
Trong khi thơng lợng gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải đa ra biện
pháp cho sự xâm nhập thị trờng dịch vụ của mình. Chính phủ Việt Nam sẽ
phải nghiên cứu những ảnh hởng của tự do hoá các ngành công nghiệp dịch
vụ tới nền kinh tế và quyết định ngành công nghiệp dịch vụ nào sẽ phải mở
cho các đối thủ cạnh tranh nớc ngoài và mức độ bảo vệ cần thiết cho các
ngành công nghiệp khác. Mặt khác do trách nhiệm quốc gia và thâm nhập
thị trờng chỉ ràng buộc những bên ký hiệp ớc, tự cam kết trong các chơng
trình của các cam kết ban đầu của mình, Việt Nam phải chọn những lĩnh
vực dịch vụ có khả năng cạnh tranh hơn. Trên thực tế Việt Nam có lực lợng
lao động dồi dào và rẻ, nên có thể xem xét để mở cửa những thị trờng cần
nhiều lao động nh các dịch vụ nghề nghiệp, xây dựng, vận tải, du lịch, trong
khi mở cửa dần dần các lĩnh vực khác nh tài chính, bảo hiểm, viễn thông,
môi trờng, sức khoẻ và giáo dục.
5. Bảo về các quyền sở hữu trí tuệ.
Bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm tơng đối mới đối với
hầu hết ngời Việt Nam với nghĩa hiện đại của nó. Các quyền sở hữu trí tuệ
thờng là về nhãn hiệu thơng mại, bản quyền tác giả, thiết kế công nghiệp,
âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính... Hiện tại ở Việt Nam không có bộ
luật nào để bảo vệ các chơng trình âm thanh hình ảnh và phần mềm máy
tính. Gần đây có nguồn tin xác định rằng Việt Nam đã ký các hiệp định

- Này 13 - 7 - 2000 Việt Nam đã ký Hiệp định quan hệ thơng mại
Việt - Mỹ. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ là bản hiệp định thơng mại song
phơng đầu tiên của Việt Nam đợc xây dựng trên cơ sở nguyên tắc, quy chế,
ngôn ngữ của WTO. Đây là bớc khởi đầu quan trọng cho quá trình đàm
phán gia nhập WTO của Việt Nam sau này.
2. Những kết quả đạt đợc.
Tiến trình đàm phán gia nhập WTO đã tạo nên một sức ép và đem lại
những yêu cầu buộc Việt Nam tự nhìn nhận phơng thức hoạch định chính
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status