LỜI MỞ ĐẦU:
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, đầu tư trực
tiếp nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển đất nước góp phần
đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Nhận thức rõ
điều này, liên tục trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam với mục tiêu đưa
Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thực hiện nhiều
chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam. Trong những năm gần đây, Việt Nam cùng với các nước
ASEAN đang là điểm đến đầy hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhật Bản là trong những nước phát triển nhất ở châu Á, là cường quốc kinh
tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Mặc dù là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên,
thiếu nguyên liệu cho sản xuất nhưng bù lại Nhật Bản lại có công nghệ hiện đại và
trình độ quản lý tiên tiến. Chính vì thế họ có xu hướng đầu tư ra bên ngoài, đặc biệt
là các nước đang phát triển ở châu Á, để khai thác các nguồn lực sẵn có của những
nước này. Với nền tảng vững chắc là quan hệ hữu nghị hợp tác suốt hơn 30 năm
trên tinh thần “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”, trong nhiều năm qua, Nhật Bản là
đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Nhật Bản luôn nằm trong nhóm 5 nước đứng đầu, các dự án đầu tư của
Nhật Bản được đánh giá là thành công nhất về phương diện vốn đầu tư thực hiện và
hiệu quả triển khai.
Khu vực phía Bắc Việt Nam với thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, chính
trị , kinh tế của cả nước, với vùng đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm kinh tế
của cả nước đã và đang thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
1
đặc biệt là từ các nhà đầu tư Nhật Bản. Trong những năm qua, Nhật Bản đã đầu tư
một lượng vốn một lượng vốn đầu tư đáng kể góp phần vào sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội của khu vực này. Tuy nhiên, quy mô đầu tư vẫn chưa thực sự tương
xứng với tiềm lực kinh tế của Nhật Bản và miền Bắc Việt Nam và xuất hiện nhiều
khó khăn đối với các doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư trực tiếp vào khu vực này
Vì vây, nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh
Chương I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp:
1.1 Cơ sở lý luận về FDI:
1.1.1 Khái niệm FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khái niệm quen thuộc đối với tất cả các
quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vận
động đa dạng, phong phú nên vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về đầu tư trực
tiếp nước ngoài giữa các tổ chức, các quốc gia trên thế giới.
Bởi vậy, nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đã đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhằm mục đích giúp cho các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ
mô về FDI, sử dụng trong công tác thống kế quốc tế.
Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra khái niệm về FDI. Theo đó thì “FDI là hoạt
động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh
nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu
tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.(BPM5,
fifth edition). Theo khái niệm này, có thể thấy FDI gắn liền với hai yếu tố: lợi ích
lâu dài và quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Lợi ích lâu dài chính là mối quan
tâm lâu dài của nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ
của một nền kinh tế khác. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi phải có mối quan hệ
lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời
có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này. Quyền
4
quản lý thực sự doanh nghiệp chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp. Cùng với
quyền kiểm soát doanh nghiệp, các nhà đầu tư có thể tham gia vào các quyết định
quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua
chiến lược hoạt động của công ty, thông qua, phê chuẩn kế hoạch hành động do
người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia lợi
nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên.
Theo khái niệm do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra thì:
“FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế
lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng
quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được cơi là
FDI.
1.1.2 Đặc điểm của FDI:
1.1.2.1 FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi
nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư
Theo quan điểm về FDI của IMF, OECD và Việt Nam thì cho thấy FDI là
đầu tư tư nhân vì vậy nó có mục đích ưu tiên hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp vào một tổ chức trên lãnh thổ của một
nền kinh tế khác luôn muốn tối đa hóa lợi ích, muốn tối đa hóa lợi nhuận. Vì thế,
các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến
hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các
chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát
6
triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích
tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
1.1.2.2 Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn
pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để
giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác. Quyền
kiểm soát ở đây là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển, sống còn của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư phải đóng góp một tỷ
lệ vốn nhất định thì mới có tiếng nói hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp nhận đầu
tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời kéo theo đó là các quyền lợi, sự phân
chia lợi nhuận, rủi ro cũng theo tỷ lệ này. Tỷ lệ vốn tùy theo quy định của luật pháp
từng nước. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%. Trước đây,
trong điều 8 Luật đầu tư nước ngoài 1996 có quy định tỷ lệ này là 30%, trừ những
trường hợp do Chính phủ quy định thì nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn với tỷ
lệ thấp hơn nhưng không dưới 20% (điều 14 mục 2 Nghị định 24/2000 NĐ-CP), tuy
nhiên, theo Luật đầu tư 2005 thì không quy định vốn tối thiểu của chủ đầu tư nước
đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động.
Theo Luật cạnh tranh năm 2004 điều 17 có đưa ra khái niệm sáp nhập và mua lại
như sau: Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp
8
khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.Mua lại doanh
nghiệp được hiểu là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của
doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại. Nếu như GI phổ biến hơn ở các nước đang phát triển và
được các nước nhận đầu tư ưa chuộng hơn, thì M&A chủ yếu mạnh ở các nước phát
triển vì có môi trường pháp lý tốt, thị trường vốn và tài chính được tự do hóa, các
doanh nghiệp trong nước cũng có tiềm lực mạnh, có danh tiếng. Hình thức này cũng
được các chủ đầu tư ưu tiên hơn bởi ưu thế tiết kiện thời gian tìm hiểu thị trường,
phân phối sản phẩm, đồng thời cũng tiết kiệm chi phí vì tận dụng được danh tiếng
vốn có của doanh nghiệp trong nước, quan trọng hơn cả là chủ đầu tư tận dụng
được các lợi thế sẵn có của các đối tác nước nhận đầu tư như hình ảnh doanh
nghiệp, hình ảnh sản phầm, mối quan hệ mới khách hàng, mạng cung cấp và hệ
thống phân phối sẵn có…
1.1.3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định trong điều 21, 22,
23, 24 và 25 Luật đầu tư 2005 của Việt Nam như sau:
• Thành lâp tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước.
• Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
• Đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC, hợp đồng BOT, hợp đồng
BTO, hợp đồng BT.
• Đầu tư phát triển kinh doanh
• Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
9
• Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
cũng như thế lực của họ ngày càng được mở rộng hơn. Hiện nay, cùng với xu
hướng toàn cầu hóa là sự hình thành các liên kết, hợp tác quốc tế song phương, đa
phương cùng với các khối hợp tác kinh tế như EU, NAFTA, AFTA…Trong điều
kiện này, khi các nhà đầu tư đầu tư trực tiếp vào một nước thành viên của khối nào
đó, thì họ cũng có thêm điều kiện để có thể mở rộng thị trường tiêu thụ hay đầu tư
với những nước cùng khối có quan hệ với nước nhận đầu tư. Như vậy, FDI đã trở
thành con đường hữu hiệu nhất giúp nước đầu tư nâng cao sức mạnh kinh tế cũng
như uy tín chính trị của mình trên thị trường quốc tế.
Các chủ đầu tư nước ngoài được cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu ổn định.
Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư tận dụng được nguồn nguyên,
nhiên liệu dồi dào ở các nước tiếp nhận đầu tư. Hầu hết các nước tiếp nhận đầu tư
là nước đang và chậm phát triển vì thế họ không có điểu kiện khai thác do thiếu
vốn và công nghệ. Khi đầu tư vào nước này, các chủ đầu tư có thể thu được nguồn
nguyên liệu thô với giá rẻ sau đó chế biến và bán sản phẩm với giá cao.
FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công
nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thông qua FDI, nước chủ đầu tư đã
chuyển một số bộ phận sản xuất công nghiệp mà phần lớn đã lạc hậu sang các
nước nhận đầu tư kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm chu kỳ sống
11
sản phẩm ở thị trường mới, tăng sản xuất tiêu thụ, giúp thu hồi vốn. Nhờ vậy, mà
các chủ đầu tư có thể nhanh chóng đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ
mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư:
FDI giúp các nước nhận đầu tư bổ sung vốn để phát triển kinh tế. Trong thời
kì đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp vì vậy khả
năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế. Trong khi đó nhu cầu vốn
đầu tư để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát
triển lại rất lớn. Và đầu tư nước ngoài, với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên
ngoài, giúp các nước đang phát triển giải được bài toán về thiếu vốn đầu tư và dần
thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn.
FDI giúp các nước đang phát triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động
dồi dào, ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người
lao động đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo. Nhìn chung, số lượng việc làm trong
khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước đang phát triển có
xu hướng tăng lên. Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao
trình độ cho người lao động. Các doanh nghiệp có vốn FDI có đội ngũ công nhân,
nhân viên lành nghề, có tác phong công nghệp, có kỷ luật cao. Phần lớn các lao
động cấp cao trong các dự án FDI được tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong và
ngoài nước, được tiếp thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của các nhà kinh
doanh nước ngoài. Bộ phận lao động trong khu vực FDI đã tác động lan truyền
13
sang các bộ phận lao động khác trong nước. Các cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật
trong nước được kích thích nâng cao trình độ khi giao dịch với các đối tác nước
ngoài. Người lao động, nhất là lực lượng lao động trẻ, mong muốn tìm việc làm
trong các doanh nghiệp có vốn FDI để được thử sức trong một môi trường năng
động hơn và có thu nhập cao hơn đã quan tâm hơn đến việc nâng cao trình độ và
tay nghề.
FDI giúp tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực ở các
nước nhận đầu tư. FDI chủ yếu được tiến hành bởi các TNCs và thường tập trung
vào các ngành công nghiệp và dịch vụ, vì vậy FDI đáp ứng được nhu cầu phát triển
các ngành này của các nước đang phát triển. Với tỷ trọng vốn FDI vào các ngành
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nguồn vốn này đã góp phần tăng nhanh tỷ
trọng về sản lượng, việc làm, xuất khẩu,…của các ngành công nghiệp, dịch vụ
trong nền kinh tế của các nước đang phát triển. Tỷ trọng của các ngành kinh tế
truyền thống như nông nghiệp, khai thác,…giảm mạnh.
FDI góp phần tích cực vào các cán cân đối lớn của nền kinh tế.
Các dự án FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển.
Các cân đối lớn của nền kinh tế như cung cầu hàng hóa trong nước, xuất nhập
khẩu, thu chi ngân sách đều thay đổi theo chiều hướng tích cực nhờ sự đóng góp
của FDI. Trong giai đoạn đầu mới phát triển, do trình độ phát triển thấp, công
triển từng bước tham gia vào phân công lao động quốc tế và vào hệ thống sản xuất
thế giới. Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế
15
khu vực và thế giới. Điều này tạo điều kiện cho các nước tham gia vào các hiệp
định hợp tác kinh tế song phương, đa phương.
1.2 Kinh nghiệm thu hút FDI Nhật Bản của một số quốc gia:
1.2.1 Trung Quốc:
Trong những năm gần đây, Trung Quốc luôn đứng đầu trong danh sách đầu
tư của Nhật Bản. Theo Công tác điều tra trong 605 doanh nghiệp Nhật Bản được
tiến hành vào mùa hè năm 2010 về mảnh đất hứa đầu tư trung kỳ có triển vọng
trong 3 năm tới thì Trung Quốc giữ ngôi vị đầu tiên.
Để trở thành quốc gia thu hút nhiều vốn FDI trên thế giới như hiện nay,
Trung Quốc đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư thông qua việc cải tạo,
xây dựng cơ sở hạ tầng và tạo dựng mội trường pháp lý cho đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Trung Quốc chủ động bỏ vốn ra xây dựng và cải tạo đường sá, bến bãi, cảng
nước sâu, sân bay, hệ thống thông tin. Trung Quốc chú trọng xây dựng nhiều đặc
khu kinh tế và các thành phố duyên hải. Tại các đặc khu này, Trung Quốc tập trung
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị, nhà ở, trường học, bệnh viện, trung tâm
công cộng. Nhà nước cho phép điạ phương tự khai thác mọi khả năng để có vốn đầu
tư cơ sở hạ tầng, để khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tái
cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
Trung Quốc xây dựng một hệ thống phát luật đồng bộ, đảm bảo quyền lợi
cho các nhà đầu tư. Trung Quốc thể hiện sự quan tâm đến những quyền lợi của nhà
đầu tư nước ngoài bằng cách thường xuyên bổ sung, sửa đổi Luật đầu tư nước
ngoài, đảm bảo tính thực thi nghiêm túc. Những hoạt động thanh tra trái phép, thu
lệ phí hay áp đặt thuế sai quy định đối với các doanh nghiệp nước ngoài bị xử lý
nghiêm khắc.Nhiều quy định được xóa bỏ để phù hợp với pháp luật kinh doanh
16
quốc tế như tỷ lệ nội địa hóa, cân đối ngoại tệ. Phạm vi ngành nghề được phép đầu
tư được mở rộng, từ 186 lên đến 262 khoản mục được đầu tư.
gia có môi trường đầu tư hấp dẫn bởi: sự ổn định của chính trị xã hội, sự phát triển
của kết cấu hạ tầng cơ sở, sự nhanh nhạy linh hoạt của chính phủ trong việc ban
hành các chính sách kinh tế phù hợp với đặc điểm thực tế của từng thời kỳ. So với
nhiều nước đang phát triển ở khu vực và trên thế giới, chính sách mở cửa và hội
nhập KTQT của Malaysia diễn ra khá sớm. Để thu hút được nguồn vốn FDI, Malaixia
đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút FDI tương đối đồng
bộ, thông thoáng, nhất quán và minh bạch. Bên cạnh những cam kết
bảo đảm sở
hữu, Malaixia có những chính sách khuyến khích ưu đãi về tài chính tiền tệ; tạo lập môi
trường chính trị - xã hội ổn định; nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật; chú
trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ… Qua đó, đã tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư nước ngoài.
Về chế độ ưu đãi đầu tư, chính phủ Malaysia đã căn cứ vào đặc điểm, vị trí,
trình độ công nghệ, danh mục khuyến khích của ngành nghề, quy mô xuất khẩu sản
phầm, quy mô và khu vực đầu tư để đề ra các chính sách, trong đó quy định rõ các
mức ưu đãi.
Ưu đãi thuế dành cho lĩnh vực sản xuất gồm 2 loại: ưu đãi dành cho doanh
nghiệp đi tiên phong và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư . Các ưu đãi này được cấp cho
18
doanh nghiệp trên cơ sở giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất, công nghệ áp dụng,
hay mức độ liên kết công nghiệp mà dự án đầu tư đem lại. Các dự án được hưởng ưu
đãi được coi là các hoạt động hay sản phẩm khuyến khích đầu tư.
Doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đi tiên phong sẽ được
giảm thuế TNDN trong vòng 5 năm, theo đó, doanh nghiệp chỉ phải nộp 30% số thu
nhập chịu thuế bắt đầu từ ngày đi vào sản xuất ngày mà số lượng sản phẩm đạt ít
nhất 30% công suất.
Ngoài các ưu đãi cơ bản như trên, doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản
xuất còn được hưởng một số ưu đãi đặc thù theo ngành như: (i) Ưu đãi dành cho
để thúc đẩy thu hút đầu tư FDI. Năm 1991, Chính phủ đã chính thức huỷ bỏ sự
kiểm soát hành chính đối với các ngành công nghiệp. Việc cấp giấy phép cho các
ngành công nghiệp năm 1951 đã được huỷ bỏ hoàn toàn trừ một số ngành như năng
lượng nguyên tử, đường sắt, sản xuất rượu, hoá chất độc hại, thiết bị cháy nổ,
thuốc lá, thiết bị quốc phòng. Năm 1994 Chính phủ tiến hành tự do kiểm soát ngoại
hối, thời hạn phê chuẩn đầu tư nước ngoài giảm từ 90 ngày xuống chỉ còn 4 đên 6
tuần . Năm 1998, RBI thông báo đơn giản hoá hoá các thủ rục phê chuẩn tự động
các dự án FDI, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong các hoạt
động giao dịch ngoại hối.
Ấn Độ cũng chú trọng tạo điều kiện thuận lợi về thuế cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Thuế nhập khẩu hàng hoá, vốn trong các dự án FDI hầu như được miễn
hoàn toàn, đồng thời danh mục các hàng hoá được miễn thuế nhập khẩu tăng lên
hàng năm. Những thay đổi vể thuế nhập khẩu được thực hiện thông qua chương
trình như Giấy phép Nhập khẩu đặc biệt (SIL) và Giấy phép Nhập khẩu chung mở
(OGL), áp dụng miễn thuế cho cả nhập khẩu hàng hoá sản xuất và tiêu dùng. Chính
20
phủ áp dụng chế độ miễn giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài trong thời hạn 3-5 năm tuỳ từng ngành ưu tiên.
Để thúc đẩy dòng vốn FDI chảy vào, Ấn Độ cũng đã chú trọng phát triển cơ
sở hạ tầng, xây dựng nhiều khu kinh tế. Các khu kinh tế này chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu và được hưởng các ưu đãi đặc biệt, trong đó có việc cho phép sở hữu của
người nước ngoài lên 100%.
Ngoài ra, Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng luật lệ đối với các tiêu chuẩn về thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc nới lỏng chủ yếu thuộc về các lĩnh vực
thông tin tài chính, chứng khoán, hàng không dân dụng và tăng mức trần đầu tư cho
lĩnh vực dầu khí.
Ấn Độ là tiên phong tiến hành các thủ tục phê chuẩn vốn đầu tư tự động
không thông qua giấy phép do Chính phủ trực tiếp phê chuẩn, ngoại trừ một số dự
án đặc biệt. Đơn xin đầu tư được gửi lên Ban thư ký hỗ trợ Công nghiệp hoặc thông
qua các cơ sở ngoại giáo Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ cũng đạt hộp thư để tiếp nhận
tầng: nhà xưởng, đường giao thông, viễn thông, dịch vụ...nhằm tạo môi trường hấp
dẫn và dễ dàng cho các nhà đầu tư khi hoạt động trên đất nước mình.Thái Lan chú
trọng đầu tư cơ sở hạ tầng: hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống sân bay, bến
cảng, khu công nghiệp, kho bãi hiện đại, thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch.
Nước này cũng xây dựng thành công hệ thống viễn thông, bưu điện, mạng internet
thông suốt cả nước phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế.
Cũng giống như một số nước châu Á khác, Thái Lan cũng coi trọng việc
phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm thu hút FDI. Hiện nay, Thái Lan có
tới 21% sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành toán, máy tính.
Thái Lan đặc biệt áp dụng chính sách khuyến khích ưu đãi về thuế nhập
khẩu đối với các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp.
Các dự án FDI trong nông nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu đối với
22
các loại máy móc, thiết bị để thực hiện dự án mà được cơ quan quản lý đầu tư công
nhận là thuộc loại thiết bị được khuyến khích đầu tư. Riêng đối với các dự án đầu tư
vào các lĩnh vực đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, được miến hoàn toàn
thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm. Là một quốc gia có nền nông nghiệp
tương đồng với Việt Nam,thậm chí có những điều kiện còn hạn chế hơn so với Việt
Nam, tuy nhiên, Thái Lan đã vươn lên trở thành một nước đứng đầu về xuất khẩu
nông sản và với giá trị nông sản xuất khẩu cao hơn hẳn so với Việt Nam. Nguyên
nhân có được điều đó là do Thái Lan đã biết định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào việc khai thác đặc sản của từng vùng thậm chí cả những vùng khó khăn nhất.
Chính chính sách này đã làm cho nền nông nghiệp Thái Lan có được những lợi thế
về chất lượng và giá cả trên thị trường nông sản thế giới và hơn nữa, nông sản Thái
Lan đã tạo được một thương hiệu tốt trên thị trường, điều mà nông sản Việt Nam
vẫn đang tìm kiếm.
Ngoài ra, để thúc đẩy dòng vốn FDI chảy vào nước mình, Thái Lan còn tập
trung phát triển công nghiệp. Chính phủ đã có sự kết hợp khéo léo giữa mục tiêu
công nghiệp hoá và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài, chính phủ Thái Lan đã có những chính sách nhằm giảm thiểu chi phí đầu vào
24
nước đối với hoạt động đầu tư. Việc ban hành Luật đầu tư 2005 đã là mốc quan
trọng trong định hướng phát triển đối ngoại Việt Nam, phù hợp với thời kỳ hội nhập
và tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hoạt động FDI tại Việt Nam cũng như thúc đẩy nền
kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ.
2.1.2 Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản (2003)
Ngày 7 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nhật Bản
Junichiro Koizumi đã thống nhất và quyết định thực hiện Sáng kiến chung Nhật
Bản - Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường sức cạnh tranh của
Việt Nam, đồng thời giúp giải quyết tốt các vướng mắc của các nhà đầu tư Nhật
Bản. Kế hoạch hành động Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản được thông qua
và đã được báo cáo lên thủ tướng Chính phủ Nhật Bản, Việt Nam tại cuộc hội đàm
cấp cao Nhật Việt diễn ra vào ngày 10 tháng 12 năm 2003 nhân dịp Hội nghị
thượng đỉnh Nhật Bản - ASEAN tại Tokyo. Trong giai đoạn I thực hiện sáng kiến
chung Việt Nam – Nhật Bản (2003-2005), hai bên đã cùng nhau đề xuất 125 giải
pháp để giải quyết 44 vấn đề vướng mắc của môi trường đầu tư như: thủ tục hành
chính, đất đai, tài chính…
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, sau hai năm thực hiện, cuộc họp lần thứ hai của
Ủy ban đánh giá – xúc tiến sáng kiến chung đã được họp và tại đây đã tiến hành các
đánh giá cuối cùng về Sáng kiến chung Việt Nam- Nhật Bản. Kết quả được công bố
cho thấy có 105 hạng mục trong số 125 mục đã được thực hiện theo tiến độ. Kế
hoạch hành động đã thu được kết quả lớn với tỷ lệ hoàn thành đạt 85%(báo cáo việc
thực hiện sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn I, đại sứ quán Nhật Bản tại
Việt Nam).
Giai đoạn II(2005-2007), hai bên sẽ cùng nhau giải quyết 7 vấn đề lớn khác là
46 giải pháp về thuế, luật pháp, tài chính, sở hữu trí tuệ, xây dựng kết cấu hạ tầng…
25