Phân tích tác động của khoa học kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất lúa tại 2 địa bàn: Cần Thơ và Sóc Trăng - Pdf 20

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Đặt vấn đề
Lúa được xem là cây trồng chủ yếu ở các nước Châu Á và sản phẩm lúa
gắn liền với đời sống con người gần 10.000 năm, riêng khu vực Châu Á với hơn
3 tỷ dân đang sản xuất và tiêu dùng hơn 90% sản lượng gạo của thế giới. Cuộc
cách mạng “xanh” đã giúp các nước Châu Á tránh được tình trạng thiếu lương
thực và cải thiện đời sống vùng nông thôn xuất phát từ việc giảm được 30% chi
phí sản xuất nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất cải tiến. Trong những năm gần đây,
sản lượng tiêu thụ gạo tại một số nước thuộc Châu phi, Châu mỹ và Châu âu có
xu hướng tăng lên mặc dù gạo không phải nguồn lương thực chính đối với họ.
Năm 2002, hơn 50% dân số thế giới phụ thuộc vào sản phẩm gạo và gạo trở
thành nguồn cung cấp calories và protêin hàng ngày cho con người (Oladele, O.I
và Sakagami, J-I, 2004).
Thực trạng sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã trì trệ ở thập niên 1960 và
tăng nhẹ vào những năm 1970, trong giai đoạn này không có sự mở rộng diện
tích cũng như tăng năng suất do ảnh hưởng của chiến tranh. Tuy nhiên, đến
những năm sau thập niên 1980, 1990 thì sản xuất lúa gạo đạt tốc độ tăng trưởng
cao bình quân 5%/năm trong giai đoạn 1980 – 2000; trong đó, tăng năng suất
đóng góp 3,5% và tăng diện tích canh tác chiếm 1,5% (Trần Thị Út, 2002). Với
tốc độ tăng trưởng trên đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong ba nước
xuất khẩu gạo lớn nhất của thế giới từ năm 1989; cụ thể năm 2005, sản lượng
gạo xuất khẩu trên 5,2 triệu tấn đạt kim ngạch trên 1,2 tỷ đôla (Thời báo Kinh tế
Việt Nam, 20/02/2006). Thành tựu về sản xuất lúa gạo trong thời gian xuất phát
từ những nguyên nhân sau đây: thứ nhất, chính sách mở cửa nền kinh tế khởi động từ năm
1986 đã tạo điều kiện cho cho việc tự do hóa sản xuất hướng theo thị trường; thứ hai, chính sách
xác định quyền sử dụng đất của nông hộ và miễn giảm thuế nông nghiệp (Irving, 1995;
Pingali. P và V.T. Xuân, 1992).
1
Ngày nay, xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế đã và đang dẫn đến
việc đô thị hóa các vùng nông thôn chuyên sản xuất nông nghiệp. Điều này làm
giảm diện tích đất canh tác ở một số vùng trong cả nước cũng như ở khu vực

tương lai đối với nông hộ sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, đề tài này sẽ đi vào “Phân tích tác động của khoa học kỹ thuật đến
hiệu quả sản xuất lúa tại 2 địa bàn: Cần Thơ và Sóc Trăng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung: Phân tích thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật sản xuất
lúa của nông hộ, đánh giá hiệu quả sản xuất của các mô hình áp dụng kỹ thuật
và phân tích những thuận lợi và rào cản trong quá trình sản xuất nhằm mục đích
đề xuất những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập
cho nông hộ.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
 Mô tả thực trạng sản xuất của nông hộ liên quan các nguồn lực sẵn có;
 Nhận định và phân tích các hoạt động hỗ trợ áp dụng kỹ thuật;
 Đánh giá hiệu quả sản xuất của các mô hình áp dụng kỹ thuật; và
 Đề xuất các biện pháp phát huy các mặt tích cực và khắc phục những hạn
chế trong quá trình triển khai và áp dụng kỹ thuật đối với nông hộ.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.3.1. Chọn địa bàn nghiên cứu:
Khảo sát nông hộ sản xuất lúa tại các huyện: Cờ đỏ, Ô môn (TP.Cần Thơ)
và Mỹ Tú (Sóc Trăng). Phương pháp chọn địa bàn khảo sát dựa theo các tiêu chí
sau:
- Tham khảo số liệu từ Niên giám thống kê cấp tỉnh và chọn huyện có diện
tích sản xuất lúa tương đối lớn.
3
- Địa bàn khảo sát gần với các trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật như
Viện lúa ĐBSCL, Trung tâm khuyến nông… nhằm mục đích quan sát khả
năng chuyển giao cũng như việc tiếp cận thông tin kỹ thuật của nông dân.
- Cách chọn nông hộ để phỏng vấn theo hướng dẫn của cán bộ địa phương
và phân tầng số mẫu theo mô hình canh tác, qui mô sản xuất, số năm áp
dụng kỹ thuật, thu nhập của nông hộ.
Bảng 1-1 Mô tả địa bàn nghiên cứu và thông tin nông hộ

a
Phú Tâm 60 19,54
Hồ Đắc Kiện 40 15,33
Tổng 261 100,00
Nguồn: Kết quả khảo sát 261 nông hộ tại vùng nghiên cứu, 06/2006
a
Các xã thuộc huyện Mỹ Tú (Sóc Trăng) chỉ có các mô hình: IPM, giống mới, 3 giảm – 3 tăng
1.3.2. Số liệu thu thập
1.3.2.1. Số liệu thứ cấp
- Báo cáo tổng kết của các cơ quan, ban ngành
2
nông nghiệp năm 2005,
Trung tâm khuyến nông tỉnh Sóc Trăng, niên giám thống kê 2004, 2005,
các nghiên cứu liên quan.
- Một số nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn, quản lý trong lĩnh vực
nông nghiệp và kinh tế được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc.
1.3.2.2. Số liệu sơ cấp:
Phỏng vấn trực tiếp 261 nông hộ trong địa bàn bàn nghiên cứu, gồm
+ 161 nông hộ tại TP.Cần Thơ (Ô Môn: Thới Long và Cờ Đỏ: Thới Lai)
+ 100 nông hộ tại Sóc Trăng (Mỹ Tú: Phú Tâm và Hồ Đắc Kiện)
1
Integateted Pest Management: Chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp do Tổ chức DANIDA của Đan Mạch tài
trợ và triển khai từ năm 1992.
2
Cơ quan ngành Nông nghiệp & PTNT cấp tỉnh, huyện, xã.
4
Nội dung phỏng vấn nông hộ, bao gồm:
+ Thông tin tổng quát về đặc điểm nguồn lực và sản xuất của nông hộ.
+ Các mô hình canh tác lúa mà nông hộ đang áp dụng.
+ Hình thức và khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật.

Trong đó:
• lnY: Thu nhập của nông hộ (đồng/1.000m
2
)
• ln(X
1
, X
2
, X
3
,

X
4
, X
5
, X
6,
X
7
, X
8
): trình độ học vấn, năm kinh nghiệm,
lao động, chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuỷ lợi,
chuẩn bị đất.
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng nhằm tiếp thu các ý
kiến, nhận định của các nhà chuyên môn, quản lý nhằm làm cơ sở để đề xuất các
giải pháp cụ thể trong việc triển khai và áp dụng kỹ thuật đạt hiệu quả hơn.
5
1.4. Phạm vi nghiên cứu

sản xuất và thuận lợi, khó khăn trong quá trình áp dụng mô hình cải tiến cũng
được đề cập trong chương này.
Chương 5 tổng hợp một số vấn đề nổi bật trong quá trình áp dụng khoa
học kỹ thuật của nông hộ tại vùng nghiên cứu. Từ đó, một số đề xuất được đưa
ra nhằm góp phần phổ biến vai trò của khoa học kỹ thuật cũng như nâng cao
hiệu quả sản xuất đối với nông dân trong sản xuất lúa.
CHƯƠNG 2. XU HƯỚNG ÁP DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG
NÔNG NGHIỆP
7
2.1. Khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, các tác giả như Schultz (1953),
Grilleches (1958) đã từng nghiên cứu về sự đóng góp của công tác khuyến nông
vào sự tăng trưởng nông nghiệp. Cho đến nay, có hàng trăm công trình nghiên
cứu ở các mức độ khác nhau về đóng góp của khoa học kỹ thuật đối với sự phát
triển của nông nghiệp và nông thôn.
Phát triển nông nghiệp tác động đến cả kinh tế, xã hội và môi trường. Vì
thế, khi đánh giá sự đóng góp của khoa học kỹ thuật, chúng ta thường mong
muốn xem xét tác động của nó đến cả ba bộ phận trên. Tuy nhiên, hầu hết các
nghiên cứu được tiến hành phần lớn tập trung vào đánh giá tác động của khoa
học kỹ thuật về mặt kinh tế.
Trên thế giới các nghiên cứu về tác động của khoa học kỹ thuật rất khác
nhau. Theo không gian, phạm vi tác động của khoa học kỹ thuật được xem xét ở
các cấp độ như đồng ruộng, từng nông trại, từng cộng đồng, từng vùng và cả
nước. Theo đối tượng ứng dụng của khoa học kỹ thuật, tác động của nó được
xem xét ở phạm vi từng sản phẩm riêng biệt (lúa, sản phẩm thịt) hay nhóm sản
phẩm như lương thực, thực phẩm hay cả nền nông nghiệp.
Trong phạm vi từng sản phẩm, khoa học kỹ thuật được thể hiện dưới các
dạng chủ yếu như: áp dụng giống mới, thay đổi quy trình, kỹ thuật sản xuất, thay
đổi các nguồn lực đầu vào, hoặc kết hợp các mô hình trong quá trình sản xuất
3

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là xu thế của các nhà sản xuất trong
quá trình hội nhập kinh tế. Kết quả của sự ứng dụng là năng suất sản xuất được
nâng cao cũng như chất lượng sản phẩm được cải tiến. Tại Việt Nam cho đến
nay, nhiều ý kiến cho rằng sự đóng góp của khoa học kỹ thuật vào tốc độ tăng
trưởng nông nghiệp là khoảng 30%. Tuy nhiên, đây chỉ là ý kiến ước đoán của
các chuyên gia hơn là dựa vào các kết quả nghiên cứu. Nhiều tác giả cũng đã chỉ
ra rằng chính sách đổi mới có tác động làm tăng năng suất và sản lượng lúa một
cách rõ rệt. Cụ thể là trường hợp áp dụng mô hình IPM trên ruộng lúa cho thấy, chi
phí sản xuất sẽ giảm 22,85% và thu nhập ròng tăng 33% so với không áp dụng mô
hình (Báo cáo của Câu lạc bộ IPM, xã Viên An, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, 2004).
9
Hơn nữa, theo nhận định của Ông Bùi Bá Bổng - Thứ trưởng Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn- ngành nông nghiệp trong những thập kỷ gần đây
đạt tốc độ tăng trưởng khá, trong đó có sự đóng góp đáng kể của khoa học kỹ
thuật, công nghệ. Theo kết quả tính toán của tác giả dựa theo mô hình Solow
cho thấy tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của ĐBSCL trong giai đoạn 1995 –
2003 bình quân 6,3%; trong đó, sự đóng góp của khoa học kỹ thuật là 15,74%,
và các yếu tố khác chiếm 84,26%. Bên cạnh đó, diện tích canh tác lúa đã tăng từ
6.042.800 ha năm 1990 lên 7.443.800 ha (2004), những năm qua với sự chuyển
đổi các giống mới và mô hình canh tác cải tiến đã tác động đến năng suất tăng từ
40,2 tạ/ha (1995) lên đến 48,6 tạ/ha (2004); nên sản lượng lúa tăng gần gấp hai
lần trong giai đoạn 1990 – 2004 từ 19,2 triệu tấn lên 35,8 triệu tấn.
Chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng ưu điểm của ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng đã tạo ra khối
lượng hàng hóa rất lớn, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và tăng
kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, tồn tại một vấn đề đó là thu nhập của
người sản xuất lúa tương đối thấp (khoảng 700.000 đồng/công/vụ) bởi vì trong
thời gian qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật theo chiều rộng nghĩa là nâng cao
năng suất, tăng sản lượng dẫn đến tình trạng trúng mùa rớt giá cho nên để giúp
cho người sản xuất nâng cao thu nhập thì cần chuyển hướng ứng dụng khoa học

1
, X
2
, X
3
,

X
4
, X
5
, X
6
)
Trong đó:
• Y: Thu nhập
• X
1
, X
2
, X
3
,

X
4
, X
5
, X
6

Nguyễn Kim Chung (2004) đã chỉ ra rằng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất lúa tác động làm phân biệt hiệu quả sản xuất giữa hộ có áp
dụng mô hình và không áp dụng. Khi nông hộ sử dụng giống đạt năng suất cao
12
sẽ giúp họ tăng lợi nhuận từ 1.100.000 – 1.600.000 đồng/ha; và nếu như nông hộ
ứng dụng phương pháp sạ hàng thì chi phí giống chỉ còn ở mức 73% so với các
mô hình khác và thuốc bảo vệ thực vật chỉ còn 35-60% kết quả được thực hiện
tại Long Điền B, vụ lúa Đông Xuân.
Huỳnh Thanh Chí (2004) đã phân tích hiệu quả sản xuất của các mô hình
tại xã Viên An, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng cũng cho thấy kết quả tương tự, đó là lợi
nhuận của những hộ có áp dụng mô hình kỹ thuật tiến bộ tăng từ 20-30%.
Nguyễn Văn Luật (2001), Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, kết quả nghiên
cứu của tác giả cho thấy rằng phương pháp sạ hàng được triển khai với qui mô
10 ngàn ha tại ĐBSCL đã giúp nông dân không những tiết kiệm bình quân ít
nhất 100-150kg giống/ha, mà còn tạo điều kiện tốt cho các loại cá tự nhiên trên
ruộng phát triển, giảm thiệt hại do dịch bệnh và năng suất tăng khoảng 20%.
CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN LỰC
CỦA NÔNG HỘ SẢN XUẤT LÚA
13
3.1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
ÐBSCL chẳng những làm tròn nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực
quốc gia mà còn hướng mạnh vào thị trường xuất khẩu với những sản phẩm chủ
lực như lúa, cá, tôm sú... Ðiều đó cho thấy nền kinh tế ÐBSCL đã chuyển động
đúng hướng và tăng trưởng nhanh. Cơ cấu kinh tế vùng đã chuyển dịch theo
hướng tích cực trong những năm qua. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông
nghiệp từ 61,8% năm 1995 giảm còn 51,38% năm 2000 và 45,9% vào năm
2005; khu vực 2: công nghiệp và xây dựng từ 11,7% năm 1995 tăng lên 19,5%
vào năm 2000 và 23% vào năm 2005; khu vực 3: dịch vụ từ 21,3% vào năm
1995 tăng lên 29% vào năm 2000 và lên 31% vào năm 2005. ÐBSCL chuyển từ
kinh tế thuần nông sang nền kinh tế đa dạng, nông nghiệp chất lượng cao và

triển kinh tế - xã hội theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, TP.Cần Thơ được xem
là một trong những địa phương trọng điểm của vùng có tốc độ phát triển
công nghiệp cao 17,3% /năm so với mức bình quân 15,4% của vùng và
15,9% của Sóc Trăng (Niên giám thống kê 2004, tr.276).
Hình 3-1 Cơ cấu kinh tế của vùng, TP.Cần Thơ và Sóc Trăng, 2004
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê, 2004
Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng trong giai
đoạn đến năm 2010 xác định: Đồng bằng sông cửu long vẫn là vùng sản xuất,
cung cấp lương thực cho cả nước và xuất khẩu; trong đó, lúa vẫn được xem là
chủ yếu. Trên cơ sở, các địa phương đã tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp
theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng bằng cách bố trí cơ cấu mùa vụ
từng vùng một cách hợp lý, thay đổi các giống lúa cũ, thoái hóa bằng những
giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao.
Hơn nữa, từ trước đến nay, sản xuất nông nghiệp của Cần Thơ và cả vùng
ĐBSCL chỉ làm nhiệm vụ sản xuất ra nông sản hàng hóa như lúa gạo, tôm cá,
trái cây... phục vụ cho người tiêu dùng. Các loại nông sản hàng hóa này có giá
trị thấp, hiệu quả sản xuất không cao, nên đời sống nông dân còn khó khăn. Khi
15
chuyển sang nền sản xuất nông nghiệp đô thị, nghĩa là tạo ra những sản phẩm có
giá trị kinh tế cao như cây cảnh, hoa, cá kiểng... để cung cấp cho các đô thị trong
nước và xuất khẩu. Kết quả thực tế từ nền sản xuất nông nghiệp đô thị như
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt đã thực hiện cho thấy hiệu quả kinh tế cao gấp
nhiều lần so với sản xuất nông sản hàng hóa thông thường. Tuy nhiên, nền sản
xuất nông nghiệp đô thị cần nhiều vốn và đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ
của khoa học kỹ thuật vào sản xuất mới mang lại hiệu quả
5
.
Sóc Trăng là một trong các tỉnh trong vùng có thế mạnh về sản xuất nông
nghiệp; đặc biệt là cây lúa với những giống lúa mới đạt năng suất cao. Diện tích

với hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông dân Cần Thơ nói riêng cũng như cả
vùng đã tự tích lũy được nhiều kinh nghiệm, mặt khác việc tăng cường tuyên
truyền và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân thời gian gần đây đã giúp
bà con nâng cao trình độ và khả năng tiếp nhận, ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất. Trường hợp chuyển giao giống mới của Viện Lúa ĐBSCL
hợp tác với Công ty Mekong là một minh chứng cụ thể; hoạt động này đã giúp
hàng trăm nông hộ ở huyện Cờ Đỏ trực tiếp tham gia sản xuất ra lúa giống xác
nhận để cung cấp cho các vùng nguyên liệu của công ty này. Những hộ tham gia
sản xuất lúa giống cho công ty Mekong đều đạt mức lợi nhuận cao và rất thành
thạo việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Hơn nữa, ÐBSCL đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh năng
động và hiệu quả như Nông trường sông Hậu, phong trào hợp tác hóa trên quy
mô ấp ở các địa phương. Trong đó, cụm nhà máy xay xát và đánh bóng gạo tại
huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ trở thành đầu mối thu gom lúa hàng hóa
các tỉnh ÐBSCL và chiếm từ 30% đến 50% lượng gạo xuất khẩu cả nước
7
. Việc
hình thành và đầu tư xây dựng chợ đầu mối chuyên doanh lúa gạo khu vực tại
huyện Thốt Nốt sẽ dự báo xu hướng phát triển mạng lưới kinh doanh cũng như
nâng cao giá trị sản phẩm gạo của vùng trong thời gian tới.
Bảng 3-1 Tình hình sản xuất lúa của vùng, TP.Cần Thơ và Sóc Trăng, 1995 – 2004
Địa
phương
ĐBSCL TP. Cần Thơ Sóc Trăng
Năm DT NS SL DT NS SL DT NS SL
1995 3.190,6 40,2 12.831,7 401,8 42,6 1.710,7 275,6 39,5
1.088,
1
1996 3.442,7 40,1
13.818,

hướng giảm chủ yếu đối với vụ Xuân Hè và Thu Đông, nguyên nhân do chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp sang trồng màu và nuôi thuỷ sản và do nạo vét các
công trình thuỷ lợi. Tuy nhiên, lúa vẫn là cây lương thực chủ yếu của vùng, đây là
ngành hàng có thể nói điều kiện thị trường tương đối ổn định so với các sản phẩm
nông nghiệp khác vì tính thiết yếu của sản phẩm gạo, năm 2005 giá lúa phổ biến ở
mức 2.200-2.300 đồng/kg
8
.
Trong quá trình khảo sát cho thấy nông dân sản xuất lúa chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm tập quán của họ và thông tin thị trường về sản phẩm hạn chế. Từ
năm 1994 một số giống lúa mới đã được đưa vào sản xuất đặc biệt sự đóng góp
của các giống lúa mới có năng suất cao như OM3238, PSBRc20, OM3242…
Chúng ta có thể lấy trường hợp của tỉnh Sóc Trăng làm minh chứng, năng suất lúa
tăng bình quân từ 43,7 tạ/ha năm 2000 lên đến 48,1 tạ/ha năm 2004 so với năng
suất bình quân của TP.Cần Thơ là 52 tạ/ha và của vùng là 48,6tạ/ha năm 2004.
3.2. Đánh giá thực trạng sản xuất lúa của nông hộ
8
Trích bài viết “Thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật tại phường Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ” của Ngô Thị
Ngọc Giàu, Luận văn tốt nghiệp đại học ngành Kinh tế nông nghiệp. Khoa Kinh tế - QTKD, Đại học Cần Thơ,
(2006). tr 27.
18
3.2.1. Nguồn lực sản xuất của nông hộ
Đất sản xuất: kết quả khảo sát 261 nông hộ sản xuất lúa tại vùng nghiên
cứu cho thấy nguồn lực của nông hộ giữa hai địa phương có nhiều tiêu chí tương
đồng nhau. Diện tích canh tác của nông hộ bình quân 11,6 công, trong đó diện
tích sản xuất lúa đạt 10,7 công (chiếm 92,3% tổng diện tích canh tác của nông
hộ). Khoảng 10% trong số những hộ được hỏi cho rằng diện tích sản xuất họ có
thay đổi trong những năm gần đây phần lớn do họ mở rộng thêm diện tích từ
việc cải tạo đất chưa sản xuất hoặc mua đất từ những người khác.
Lực lượng lao động tham gia hoạt động sản xuất bình quân khoảng 3

nuôi và áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nhằm đạt mục tiêu nâng cao
giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác như cánh đồng 30, 50 triệu, nông
hộ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng trong địa bàn
nghiên cứu đã thay đổi tạp quán canh tác lúa từng bước ứng dụng những giống
lúa mới đạt năng suất cao cũng như hình thức canh tác như sạ hàng, IPM, 3 giảm
– 3 tăng hoặc tăng vụ. Cho nên, nhu cầu đầu tư vốn cho các khâu chuẩn bị sản
xuất cũng tương đối cao bình quân trên 5 triệu đồng; nhu cầu vốn đối với nông
hộ tại địa bàn của Cần Thơ là 6,1 triệu đồng so với Sóc Trăng là 4,4 triệu đồng.
Tỷ lệ nông hộ có nhu cầu vốn sản xuất từ 500 ngàn đến 10 triệu đồng chiếm khá
cao (63,6%) do diện tích sản xuất lúa của nông hộ chủ yếu từ 5 – 10 công chiếm
đến 40,6% trong tổng số 261 hộ được khảo sát (xem chi tiết ở Phụ lục 2).
Khi được hỏi đến khả năng nguồn vốn của nông hộ trong quá trình sản
xuất, 110 trong số 258 nông hộ trong vùng nghiên cứu cho biết họ phải vay vốn
để phục vụ sản xuất lúa chiếm 42,6%. Trong đó, nông dân vay chủ yếu từ Ngân
hàng nông nghiệp & PTNT chiếm 82,7%, bởi vì, lãi suất cho vay của Ngân hàng
nông nghiệp & PTNT chỉ ở mức bình quân 1,2%/tháng (dao động từ 0,5% đến
2,0%) thấp hơn các tổ chức tín dụng khác như Ngân hàng đầu tư & phát triển,
Ngân hành TMCP lãi suất cho vay bình quân ở mức 1,3%/tháng và lãi suất cho
20
Hình 3-2 Nhu cầu vốn sản xuất của nông hộ
Nguồn: Kết quả khảo sát 261 hộ tại vùng nghiên cứu, 2006
63,60%
24,90%
9,96%
1,53%
Dưới 10 triệu Trên 10 - 20 triệu
Trên 20 - 30 triệu Trên 30 triệu
vay của Quỹ tín dụng nhân dân, hoặc các tổ chức xã hội ở mức bình quân
1,25%/tháng.
Hơn nữa, trong một số trường hợp cụ thể thì Ngân hàng Nông nghiệp &

12.000
14.000
NN & PTNT
(N=92)
TMCP (N=11) Quỹ tín dụng
(N=8)
1.000 đ

ng
1,14
1,16
1,18
1,20
1,22
1,24
1,26
1,28
1,30
%
Lượng vay đồng Lãi suất %
tổ chức là nơi để trao đổi thông tin sản xuất, thị trường đối với thành viên Hội
nông dân, hoặc giúp họ có thể tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức không
phải thế chấp như Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, đối với những thành viên
tham gia tổ chức chính quyền giúp cho họ có thể tiếp cận thông tin sớm hơn so
với nông dân bình thường bởi vì thông tin được truyền đạt theo chiều dọc của hệ
thống quản lý. Kết quả khảo sát này phù hợp với nghiên cứu về tiếp cận tín dụng
của tác giả Nguyễn Văn Ngân
9
.
3.2.2. Thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa

22
Giống mới 174 32,28 1
Sạ hàng 135 25,05 2
Ba giảm ba tăng 125 23,19 3
IPM 45 8,35 4
Lúa - thủy sản 36 6,68 5
Lúa – Màu 24 4,45 6
Nguồn: Kết quả khảo sát 209/261 hộ có áp dụng KHKT tại vùng nghiên cứu, 2006
Từ bảng số 3-3 cho thấy, 209 hộ có áp dụng khoa học kỹ thuật
được hỏi có đến 543 trả lời rằng họ thực hiện kết hợp nhiều mô hình cải
tiến kỹ thuật như sử dụng giống mới (chiếm 32,28%) chủ yếu sử dụng
các giống lúc xác nhận đạt năng suất cao, giá lúa hàng hóa cao hơn các
giống lúa thường. Trong đó, Sóc Trăng là địa phương có hoạt động sản
xuất mạnh các loại giống lúa năng suất cao cho nên mức độ ứng dụng
giống mới của nông hộ trong địa bàn nghiên cứu khá cao, đạt 48,33% so
với 24,24% của Cần Thơ; hơn nữa, các giống lúa mới hiện nay giúp
nông dân có thể tăng năng suất tăng 20-30% so với năm 1994 đạt bình
quân từ 6-7 tấn/ha (theo đánh giá của cán bộ khuyến nông Phường Thới
Long, Ô Môn, TP.Cần Thơ).
Bên cạnh đó, trước áp lực tăng giá của các nguồn lực đầu vào như
phân bón, thuốc trừ sâu, nhiên liệu… nên nông dân rất quan tâm và áp
dụng mô hình ba giảm ba tăng trong sản xuất lúa, có đến 23,19% trong
số những áp dụng khoa học kỹ thuật chọn mô hình này nhằm giảm chi
phí sản xuất và tăng năng suất lúa; kế đến là mô hình IPM đây là một
những mô hình được phổ biến sớm nhất không chỉ riêng cho cây lúa do
giảm lượng thuốc trừ sâu, phân bón trên đồng ruộng; trong khi đó, các
mô hình như sạ hàng, kết hợp lúa – màu hoặc lúa - thủy sản thì mức độ
áp dụng của nông hộ chưa cao bởi vì đòi hỏi phải thỏa mãn các điều
kiện về độ bằng phẵng của mặt ruộng cũng như nguồn nước tưới tiêu.
Tuy nhiên, khi xét về tỷ lệ thu hồi sản phẩm sau chế biến hay tiêu chuẩn

vào sản xuất nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu của thị trường đây là một trong
những dấu hiệu tốt khi mà yêu cầu thị trường ngày càng cao về chất lượng cũng
như đảm bảo sản phẩm sạch. Ngoài ra, nông dân tham gia thực hiện các mô hình
cải tiến với sự khuyến khích và hỗ trợ của cơ quan nông nghiệp, trường hợp khi
nông dân sử dụng giống lúa mới của Trạm khuyến nông thì họ được hỗ trợ 40%
chi phí giống. Do đó, đây là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định lựa chọn
mô hình sản xuất bởi vì nông dân có thể giảm được phần chi phí sản xuất (bình
quân chi phí giống chiếm gần 10% trong tổng chi phí sản xuất, tương đương
575.000 đồng/ha vụ Đông Xuân 2005-2006). Bên cạnh đó, 14% trong số 213 hộ
cho rằng giá lúa đối với các giống mới như Jasmine, OM2514, OM2717,
OM2718, OMCS2000 khi bán trên thị trường được mức giá khoảng 2.424
đồng/kg so với 2.353 đồng/kg đối với các giống thường; trong đó, giống
Jasmine được nhiều hộ ứng dụng ở vụ Đông Xuân, còn giống OM1490 chủ yếu
cho vụ Thu Đông vì khả năng kháng bệnh cao, phù hợp với điều kiện của vùng.
Ngoài ra, nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa xuất phát từ những
yếu tố như học hỏi kỹ thuật mới, kinh nghiệm sản xuất để tăng năng suất lúa,
giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho nông hộ.
3.2.2.2. Khả năng tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật của nông hộ
Khi được hỏi về nguồn cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật, kết
quả khảo sát 261 nông hộ có đến 680 ý kiến cho rằng họ tiếp cận thông
tin chủ yếu từ các phương tiện thông tin đại chúng như radio, chương
trình nhịp cầu nhà nông, các chương trình khuyến nông, khuyến ngư
hàng tuần…chiếm 26,76%; kênh thứ hai mà nông dân có thể tiếp cận
đối với từ cán bộ của Trạm khuyến nông tại địa phương bởi vì hầu hết
những tiến bộ kỹ thuật do cán bộ Trạm khuyến nông thực nghiệm và
triển khai; ngoài ra, nhân viên công ty thuốc bảo vệ thực vật cũng là đối
tượng mà nông dân tiếp cận chủ yếu các nhân viên giới thiệu và hướng
dẫn sử dụng các loại thuốc tương ứng với các mô hình sản xuất; hơn
nữa, nông dân tại địa bàn nghiên cứu cho thấy họ còn có thể tiếp cận
thông tin về khoa học kỹ thuật từ các nguồn khác như Hội nông dân, cán

Ibid
25

Trích đoạn Một số nhận định của nông dân về hiệu quả sản xuất CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ BIỆN PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA Một số biện pháp liên quan đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status