LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thế
giới hiện nay. Đối với mỗi quốc gia đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang ý nghĩa
cực kỳ quan trọng, nó không chỉ tạo ra nguồn thu thứ cho nền kinh tế mà còn
góp phần giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tránh các rào cản
thuế quan và phi thuế quan, mở rộng thị trường... Nhận thức được tầm quan
trọng đó trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương
chính sách nhằm khai thác lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Tuy nhiên hiện nay hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam mới
chỉ ở những bước đi chập chững đầu tiên. Đồng thời hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài đã bộc lộ nhiều hạn chế như: vốn đầu tư ít, không có chiến lược đầu
tư dài hạn, các doanh nghiệp thì thiếu kinh nghiệm kinh doanh trên thương
trường quốc tế... thêm vào đó cơ chế chính sách của Nhà nước tuy đã có nhiều
đổi mới nhưng vẫn còn nhiều rào cản, thiếu chính sách thúc đẩy doanh nghiệp
Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Trên cơ sở thực trạng của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt
Nam hiện nay, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp”.
1
Chương I: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở các nước đang phát triển.
I. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở các nước đang phát triển.
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Theo Luật Đầu tư Việt Nam 2005 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2006): Ðầu tư
trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp
pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư.
2. Các hình thức đầu tư ra nước ngoài ở các nước đang phát triển.
Có thể nói FDI được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu là: Đầu tư mới
(GI) và Liên minh và sáp nhập (M&A).
Đầu tư mới là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài
phổ biến là:
2.1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là hình thức mà hai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh với nhau dựa
trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hình thức này có đặc điểm:
Không thành lập pháp nhân mới.
Hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên. Khi hết thời hạn hiệu lực
thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý.
2.2. Hình thức doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hoặc
nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp tại nước sở tại trên
cơ sở hợp đồng liên doanh. Đặc điểm:
3
Thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi
ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên
2.3. Hìn thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Đây là hình thức doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ
vốn để thành lập. Đặc điểm:
Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật nước sở tại. Doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của
tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp là một pháp nhân của nước nhận đầu tư.
2.4. Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT).
Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại
với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng
trong một thời gian. Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi
hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước sở tại.
Các hình thức biến tướng của BOT là BT và BTO.
tạo ra khả năng mới cho nền kinh tế.
1.2. Giúp doanh nghiệp ở các nước đang phát triển tiếp cận với những tiến
bộ khoa học công nghệ.
Trong thời đại bùng nổ khoa học và công nghệ thông tin thì đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài là một trong những phương thức mà các doanh nghiệp ở các
5
nước đang phát triển có thể áp dụng để tiếp cận với khoa học công nghệ cao,
đồng thời học hỏi những ứng dụng trong công nghệ thông tin.
Ngày nay khoa học công nghệ và công nghệ thông tin đang biến đổi và
phát triển từng giây từng phút, những áp dụng của nó có vai trò vô cùng quan
trọng đối với kinh tế và trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống. Khi thực hiện
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở các nước tiên tiến có khoa học công nghệ phát
triển cao thì Việt Nam có cơ hội được tiếp cận trực tiếp với những ứng dụng
khoa học công nghệ ở các nước này. Hơn nữa khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
thì các doanh nghiệp có thể đem những tiến bộ khoa học công nghệ cao mà trong
nước chưa có điều kiện áp dụng để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tạo ra những
sảm phẩm mới, thị trường mới có sức cạnh tranh cao tại các nước phát triển.
1.3. Giúp các doanh nghiệp san sẻ rủi ro trong đầu tư và kinh doanh.
Rủi ro luôn luôn là người bạn đồng hành của nhà đầu tư. Một trong những
biện pháp để san sẻ, phòng tránh rủi ro là thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, đa dạng hóa các danh mục đầu tư nhằm thu được lợi nhuận, củng cố hoạt
động kinh doanh bền vững, ổn định và sự phát triển của các doanh nghiệp: Nhằm
giảm thiểu rủi ro về lạm phát, rủi ro về tỷ giá...Mặt khác đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài còn tạo ra các khoản thu bằng ngoại tệ cho các doanh nghiệp góp phần làm
tăng ngoại tệ của đất nước, giúp cho cán cân thanh toán được ổn định và phát
triển theo chiều hướng tốt.
1.4. Tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới cơ cấu sản xuất, tăng cường
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp đổi mới cơ cấu
thể tồn tại và chiến thắng ở những nơi mà doanh nghiệp tiến hành đầu tư sản
7
xuất kinh doanh. Và khả năng cạnh tranh là điều kiện cần thiết cho doanh nghiệp
tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
- Các doanh nghiệp phải có một đội ngũ nhân viên đủ năng lực đầu tư.
Đội ngũ cán bộ phải có năng lực, am hiểu, để có thể phân tích tình hình.
Đặc biệt phải có đội ngũ cán bộ am hiểu lĩnh vực mà mình định đầu tư, biết khai
thác triệt để mọi nguồn lực trong doanh nghiệp và tận dụng triệt để mọi cơ hội
đầu tư.
2.2. Về phía Nhà nước.
Có thể nói chính sách của Nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp.
- Đầu tiên, Nhà nước phải có chính sách để thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Trước hết phải có khung hành lang pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ cho
hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Đồng thời phải có các hoạt động để thúc đẩy hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài, như: Ký các hiệp định đầu tư song phương và đa biên;
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, cung cấp các thông tin về môi trường đầu tư ở
nước ngoài...
Bên cạnh đó, chính phủ có thể khuyến khích hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài thông qua việc thành lập trung tâm xúc tiến đầu tư ở nước ngoài,
phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư, hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn... Đó là các
hoạt động cung cấp thông tin thị trường, thông tin đối tác, cơ hội và kinh nghiệm
kinh doanh, thông tin về môi trường đầu tư ở nước ngoài....
- Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế vĩ mô trong nước ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, như các chính sách về tiền tệ, xuất
nhập khẩu, quản lý ngoại hối...
đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài là vào năm 1989
với số vốn 563.380 triệu Đôla Mỹ nhưng đáng tiếc dự án này đã không được
thực hiện. Từ thời điểm năm 1989 - 1998, mỗi năm có vài ba dự án, năm nhiều
10
nhất có năm dự án (1993) đầu tư ra nước ngoài nhưng vốn thực hiện còn thấp, có
năm không giải ngân được đồng nào. Có những năm không có dự án nào cả như
các năm 1995, 1996, 1997. Điều này có thể lý giải là do trong giai đoạn này
chúng ta tập trung tất cả nguồn lực trong nước để phát triển đất nước, đưa nước
ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, hơn nữa khi đó chúng ta vẫn chưa có một
văn bản quy phạm pháp luật chính thức về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Tính
đến năm 1998 chúng ta đã có tổng số 18 dự án với tổng số vốn đăng ký khoảng
13,9 triệu USD, trong đó vốn điều lệ khoảng 13,3 triệu USD, bên Việt Nam đóng
góp khoảng 7,2 triệu USD.
Kể từ năm 1999, khi Chính phủ ban hành Nghị định 22 về một số biện
pháp khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài của các doanh
nghiệp Việt Nam bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định. Đây được coi như là cú hích
rất mạnh vào hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt
Nam.
Năm 1999 có 10 dự án với quy mô vốn trung bình một dự án là 1.233.779
USD, năm 2000 tăng lên 15 dự án, năm 2001 là 13 dự án với tổng vốn đăng ký
là 7.696.452 USD. Năm 2002 có 15 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được
cấp giấy phép với số vốn đăng ký đạt gần 172 triệu USD, vốn pháp định 134,5
triệu USD nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 1,7 triệu USD. Năm 2003 là 25 dự án,
năm 2004 là 17 dự án.
Trong năm 2005 việc Luật đầu tư chung chính thức có hiệu lực, đồng thời
năm 2006 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thay thế Nghị định 22/1999/NĐ-CP với nhiều
điểm thông thoáng hơn trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nên hoạt
12
khoảng 969 triệu USD, quy mô vốn trung bình một dự án vào khoảng 5 triệu
USD.
Trong Năm 2007, với việc Việt Nam đã là thành viên chính thức của
WTO, và mới đây Cục Đầu tư nước ngoài đã xây dựng đề án khuyến khích đầu
tư ra nước ngoài, một thông tin thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp.
Tính riêng trong 7 tháng đầu năm nay, có 32 dự án do các doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 200 triệu USD.
Thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, các dự án đầu tư ra nước
ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tập trung trong lĩnh vực công nghiệp
(chiếm 39,6% số dự án và 64% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là lĩnh vực nông
nghiệp (chiếm 21,2% số dự án và 22,6% tổng vốn đầu tư), số còn lại là các dự án
đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ. Trong số 217 dự án đầu tư ra nước ngoài thì các
doanh nghiệp Việt Nam tập trung đầu tư tại một số nước như Lào (76 dự án,
tổng vốn đầu tư là hơn 555 triệu USD, chiếm tương ứng 35% số dự án và 47%
vốn đầu tư). Angieri có 1 dự án với tổng vốn đầu tư là 243 triệu USD, chiếm
20,6% về vốn đầu tư. Campuchia có 22 dự án với tổng vốn đầu tư là 80,7 triệu
USD (chiếm 10% số dự án và 6,9% tổng vốn đầu tư).
Ta thấy tuy các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp
Việt Nam có quy mô nhỏ, khối lượng vốn thực hiện ít. Một trong những nguyên
nhân khiến dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
khó thực hiện, nhất là những dự án do doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đầu tư là
do các dự án này được thành lập nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ hai
nước. Nhưng khi tình hình quốc tế thay đổi, những ưu đãi trước đây cho việc
thực hiện dự án không còn, việc kinh doanh không thuận lợi như trước nên việc
dự án không thực hiện được cũng là điều dễ hiểu. Trường hợp Iraq là một ví dụ
13
điển hình. Tuy nhiên khối lượng vốn đăng ký và vốn thực hiện qua các năm lại
Trong đó: Vốn điều lệ
Tổng số
Chia ra
Nước
ngoài
góp
Việt Nam
góp
An-giê-ri 1 243.0 243.0 208.0 35.0
Cô-oét 1 1.0 1.0 1.0
Căm-pu-chia 15 30.1 25.2 13.1 12.1
Cộng hòa Séc 2 1.9 0.3 0.3
CHLB Đức 4 4.8 3.5 2.5 0.9
Hàn Quốc 3 1.3 1.3 0.2 1.0
Đặc khu hành
chính Hồng
Công (TQ) 5 1.8 1.6 0.7 0.9
Hoa Kỳ 21 14.4 14.1 7.0 7.1
In-đô-nê-xi-a 2 9.4 9.4 9.4
I-rắc 1 100.0 100.0 100.0
Lào 64 422.2 182.6 49.0 133.6
Liên bang Nga 14 73.3 32.2 11.8 20.5
Ma-lai-xi-a 4 18.7 18.7 0.7 18.1
Nam Phi 1 1.0 1.0 1.0
Nhật Bản 5 2.1 1.6 0.6 1.0
Xin-ga-po 14 27.0 27.3 24.2 3.1
Tát-gi-ki-xtan 2 3.5 3.5 1.4 2.1
CHND Trung
Hoa 3 3.5 2.6 0.6 1.9
U-crai-na 5 4.3 4.3 0.4 3.9