Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
80
truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, tiếp thị xã hội nhằm nâng cao
nhận thức của người dân và các cấp chính quyền, khuyến khích người dân đầu
tư, tham gia bảo vệ và sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh.
Ba là, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, rà soát, đánh
giá, bổ sung, cập nhật quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về cấp nước
và VSMTNT làm cơ sở xây dựng kế họach phát triển 5 năm và hàng năm.
Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá. Việc
xây dựng kế hoạch của chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn phải căn cứ vào nhu cầu của người dân và được tiến hành theo lịch trình
5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở để đảm bảo tính khả thi cao. Tăng
cường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tỉnh chủ động trong vịêc lập kế
hoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sạch &VSMTNT, đồng
thời có cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo thực hịên có hiệu quả.
Bốn là, chủ trọng phát triển khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát
triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình công nghệ khai thác, sử dụng
nguồn nước hợp lý và nâng cao chất lựơng nứơc phù hợp với điều kịên tự
nhiên- kinh tế- xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc bền vững. Ưu tiên
tìm kiếm và tận dụng các nguồn nước ổn định với các vùng đặc biệt khó khăn
( vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng núi cao, hải đảo…); cấp nước tập
trung cho nhũng vùng dân cư đông và tập trung; nâng cấp, mở rộng các công
trình cấp nước hịên có.
Năm là, quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng, khai thác và bảo vệ công
trình cấp nước. Việc đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy họach, kế hoạch, dự
án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định hiện hành về quản lý
đầu tư xây dựng; đảm bảo công trình được đầu tư đúng mục đích, đúng đối
tượng, đúng giá trị và bền vững. Vịêc xác định dự án, công trình xuất phát từ
nhu cầu của người dân, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, người dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
82
hình điểm để nhân rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế -
xã hội rất lớn. Đây là hướng đi đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn chỉ đạo thực hiện.
3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nƣớc cho xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn
3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập
3.3.1.1. Giải pháp cho khu khực tiếp cận tốt nguồn nước
Phát triển và bảo vệ tốt các công trình thuỷ lợi, cần tăng cường vai trò
của chính quyền cơ sở, bởi các điều kịên về nguồn lực, kỹ thuật về cấp nước
công tác vận hành- bảo dưỡng các công trình nước sạch và vệ sinh diễn ra
thường xuyên và lâu dài trong phạm vi quản lý của người dân và chính quyền
địa phương. Các họat động cấp nước và VSMTNT chỉ có thể thành công và
bền vững nếu có sự liên kết chặt chẽ với chính quyền cơ sở và sự phối hợp
của các cơ quan chức năng liên quan.
Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung tâm xã,
nơi có điều liện thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, do tác động
của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt động canh tác
nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh, trong khi
vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn ngày trên thực tế
đã được khai thác tới hạn. Do vậy, việc phát triển nông lâm nghiệp trong
những năm tiếp theo phụ thuộc phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả
và lâu bền quỹ đất đồi núi vốn đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn
đề mấu chốt tiếp cận và sử dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp là giải
quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói mòn đất.
Là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước, nhưng còn gặp nhiều khó
khăn do phải hứng chịu những thiên tai từ thiên nhiên, cần xây các bể chứa
nước nhỏ. Dòng suối chảy qua trung tâm xã cần có các guồng quay dẫn nước
đều có những khó khăn giống nhau như, xa nguồn nước, chưa được sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
84
hệ thông kênh mương thuỷ lợi, cùng nằm ở địa hình cao và dốc, không có các
công trình chứa nước như ao, hồ và bể chứa nước, vì vậy cần đầu từ xây dựng
các hồ chứa nước tự nhiên phù hợp để tránh lẵng phí.
Cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương trong
việc đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, định hướng phát triển kinh tế phù hợp
với vùng. Sử dụng nguồn nước một cách hợp lý, phân bố cây trồng phù hợp,
ví dụ trồng các loại cây có khả năng chịu hạn cao…
Một số giải pháp về giữ nước và sử dụng nước
Một là, phải tính đến những giải pháp giữ nước, giữ tại chỗ, giữ từng
chặng, triệt để hạn chế lượng nước mưa chảy ra biển. Ðịa hình phần lớn của
huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập là đều có độ dốc đổ ra Biển Ðông, nếu không
có những giải pháp giữ nước thì sau mỗi trận mưa tạo dòng chảy trên mặt đất
chiếm tới 90% lượng nước mưa, làm xói mòn đất mùn và lượng nước mưa quý
hiếm đó nhanh chóng theo sông chảy ra biển. Các giải pháp giữ nước tại chỗ và
từng chặng bao gồm tích trữ nước mặt, tăng lượng nước ngầm.
Tổng thể các giải pháp là một hệ thống hoàn chỉnh chia nhiều bước,
thực hiện trong nhiều năm; nhỏ và dễ làm trước, to và khó làm sau, tùy theo
khả năng huy động nhân lực, sự hỗ trợ của dân và Nhà nước. Trước mắt cần
tổ chức một chương trình nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp được bố trí
thành hệ thống kế hoạch, chia bước hằng năm, góp phần tăng trưởng kinh tế,
bảo đảm sản xuất bền vững và ổn định đời sống nhân dân. Mỗi khi tạo được
các công trình trữ nước lớn, nhỏ hay các đập tràn dâng mức nước, cần có kế
hoạch sử dụng có hiệu quả nguồn nước mới được tạo nên, lấy hiệu quả kinh tế
của bản thân nó để tạo điều kiện thực hiện tiếp kế hoạch của giai đoạn sau.
Hai là, sử dụng nước hợp lý, phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cần hình
là vấn đề mấu chốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
86
3.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước
Để tạo điều kịên cho người dân nông thôn tiếp cận đựơc với nước sạch
và điều kiện vệ sinh tốt, Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải ưu
tiên cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh cho người nghèo, khu vực nghèo
và giải quyết đồng bộ các yếu tố xây dựng, quản lý, công nghệ, nâng cao năng
lực cộng đồng và thông tin, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức. Đồng
thời thực hịên chủ trương tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thực
hiện công tác cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn một cách mạnh mẽ
hơn, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc trao quyền cho cộng đồng và lấy
cộng đồng làm trọng tâm.
Tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng các kênh mương còn dang dở, kiên
cố hoá kênh mương, tránh tình trạng nước không đến được với những diện
tích cần tưới tiêu, tránh tình trạng nước bị thấm do mương chưa được xây
kiên cố hoá.
Là khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước, mặc dù chưa thật sự
có điều kiện tốt nhất về tiếp cận nguồn nước, nhưng là một vùng có nguồn
nước dồi dào và có điều kiện thuận lợi. Vùng đã được hưởng hệ thống kênh
mương thuỷ lợi, nhưng do còn một số chỗ kênh mương còn thấp hơn mặt
ruộng và diện tích cần tưới nước, vì vậy cần có một quy hoạch đồng bộ, tránh
tình trạng diện tích cần tưới nước gần hệ thống thủy lợi, nhưng không thật sự
thuận tiện khi tiếp cận với nguồn nước đó.
3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử
dụng nguồn nước
Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung du miền
núi do tác động của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt
tăng thu nhập của mình. Ngoài ra cũng cần có chiến lược và định hướng đúng
đắn đối với việc canh tác và trồng loại cây thích hợp với vùng đất canh tác, để
đạt được năng suất cao.
Bên cạnh đó còn cần có giải pháp mang tính cộng đồng, trồng rừng để
giữ nước đầu nguồn, tạo nguồn nước mạch và độ màu mỡ cho đất trồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, vì vậy
việc quan tâm của các cấp các ngành trong nước đã có nhiều sự quan tâm và
đầu tư lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững, các chính sách khuyến
khích, hỗ trợ và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước, phát triển sản xuất
nông nghiệp, đưa nền kinh tế chúng ta phát triển cùng khu vực.
Trong quá trình thực hiện Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng việc tiếp cận
nguồn nước tác động đến thu nhập của người nông dân xã Tân Lập, từ số liệu
điều tra thực tế, Luận văn rút ra một số kết luận sau:
1. Trong những năm qua, cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, sự
phấn đấu nỗ lực của chính quyền địa phương và sự vươn lên khắc phục những
khó khăn của người dân, việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước đã và
đang dần được cải thiện, với nhiều điều đã đạt đươc trong phát triển nông
nghiệp của địa phương. Tuy nhiên, bên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cần
tháo gỡ, chính vì vậy vẫn cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, cụ thể hơn
nữa về vấn đề nâng cao khả năng được tiếp cận với nguồn nước, và đề ra
những giả pháp mang tính tổng thể hơn.
2. Tân Lập là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Chợ Đồn
tỉnh Bắc Kạn. Đời sống nhân dân còn nghèo nàn, lạc hậu, giao thông đi lại
giữa các vùng còn khó khăn, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông
nghiệp và lâm nghiệp. Sạt lở bờ sông khu vực trung tâm xã Tân Lập sẽ ảnh
thuỷ lợi là rất tốn kém, với nguồn ngân sách hạn hẹp, trong khi đó rất nhiều
công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải pháp về sửa chữa nâng
cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, nâng cao
hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệm
nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô hình điểm để nhân
rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
90
4. Đề tài hoàn thành thể hiện sự cố gắng của tác giả trong quá trình học
tập, tích luỹ kinh nghiệm cũng như quá trình nghiên cứu thực tế. Có thể nói,
đề tài đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, do thời gian và
trình độ có hạn, cũng như để phù hợp với cấp độ một Luận văn thạc sỹ, bản
thân tác giả cũng nhận thấy một số điểm hạn chế:
Công trình nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở phân tích sự ảnh hưởng
của việc tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân từ
nông nghiệp.