97
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nuôi, cơ cấu mùa vụ còn chậm. Sản xuất chủ yếu là tự cấp tự túc, kinh tế trang
trại chậm đƣợc hình thành, kinh tế tƣ nhân chậm đƣợc phát triển, kinh tế hợp
tác xã còn gặp nhiều khó khăn. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho hàng hoá sản
xuất ra còn khó khăn, các dịch vụ thƣơng mại chƣa phát triển Tất cả những
vấn đề trên đã hạn chế sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn Đồng
Hỷ. Ngƣời lao động sản xuất trong ngành nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều
khó khăn, lao động vất vả nhƣng thu nhập thấp, khiến nhiều ngƣời phải rời
quê hƣơng đi tìm việc làm nơi khác.
Trong thời gian tới, để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, tạo nhiều
việc làm, huy động hết tiềm năng nguồn lao động, kinh tế nông nghiệp nông
thôn Đồng Hỷ phải đƣợc chuyển dịch theo hƣớng CNH, HĐH. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở Đồng Hỷ phải đảm bảo an ninh lƣơng
thực, đảm bảo sự phát triển ổn định kinh tế - xã hội trong tỉnh nhằm mục tiêu
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động, nguồn vốn, tăng giá trị và giá trị lợi
nhuận trên diện tích đất canh tác, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở Đồng
Hỷ phải gắn với nhu cầu của thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, sản xuất các loại
sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao, có hiệu quả kinh tế cao, coi trọng
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải tạo ra
mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu,
khai thác tốt lợi thế của từng tiểu vùng sinh thái và phát huy vai trò tích cực
của các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà lợi ích giữa nông dân với cơ sở
chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Phấn đấu đến năm 2010, Đồng Hỷ sẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hƣớng công nghiệp chiếm 53,8%, nông - lâm nghiệp chiếm 20,7%, dịch vụ
25,5%. GDP bình quân đầu ngƣời đạt 600USD, tỷ lệ hộ nghèo đạt dƣới 3%,
98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
không còn hộ đói. Muốn đạt đƣợc mục tiêu đó, tỉnh Đồng Hỷ phải tiến hành
thuỷ sản, đồng thời lập dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Qui hoạch đất trồng cỏ để phục vụ chăn nuôi bò, trâu trồng cây công
nghiệp lâu năm, trồng rừng ở những xã vùng núi, mở rộng vốn rừng, trồng
cây phân tán, tạo nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Dự kiến đến năm 2010
ngành trồng trọt sẽ giải quyết việc làm cho 62.000 ngƣời lao động ở nông
thôn.
Bốn là, xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại sản xuất
hàng hoá tập trung, nhất là các trang trại chăn nuôi tập trung nuôi lợn siêu
nạc, nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là chăn nuôi bò theo hƣớng công nghiệp
lấy thịt, lấy sữa.
Năm là, phát triển công nghiệp nhỏ, công nghiệp chế biến, tiêu thụ
nông sản hàng hoá cho nông nghiệp, nông thôn: Nâng cấp nhà máy chế biến
chè đen xuất khẩu.
Sáu là, tăng cƣờng xúc tiến hoạt động thƣơng mại, dịch vụ trong nông
nghiệp nhằm hỗ trợ phục vụ sản xuất nhƣ: Cung ứng vật tƣ kỹ thuật, vận tải,
đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trƣờng cho sản xuất nông nghiệp, từng bƣớc
làm tốt công tác dự tính, dự báo thị trƣờng. Những giải pháp chủ yếu trên sẽ
tác động thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn Đồng
Hỷ tạo điều kiện có thêm nhiều việc làm, khắc phục tình trạng thiếu việc làm
và thất nghiệp.
3.2.1.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Đồng Hỷ chủ trƣơng đến năm 2010 sẽ tập trung mọi nguồn lực tạo
bƣớc đột phá về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Phấn đấu giá trị sản xuất
100
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
công nghiệp xây dựng tăng bình quân 27%/năm, riêng ngành công nghiệp
tăng trên 33%; giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp tăng 23%.
Bên cạnh đó để phát huy thế mạnh của tỉnh là nguồn tài nguyên khoáng
sản lớn, nguồn lao động dồi dào, Đồng Hỷ cũng đã phát triển công nghiệp
khai khoáng, công nghiệp chế biến nông lâm sản, tạo ra sự liên kết thúc đẩy
Bốn là, khôi phục và phát triển các nghề và các làng nghề truyền thống.
Hiện nay ở Đồng Hỷ có những nghề nhƣ mây tre đan, nghề làm miến và các
khu khai thác vật liệu xây dựng.
Để tạo điều kiện phát triển các ngành nghề, nâng cao năng suất chất
lƣợng và sức cạnh tranh của sản phẩm ngành nghề nông thôn Đồng Hỷ cần
chú ý giải quyết các vấn đề sau:
- Hỗ trợ vốn và công nghệ cho các nghề và làng nghề. Có các hình thức
tín dụng ƣu đãi cho sản xuất ngành nghề ở nông thôn. Các tổ chức đoàn thể
nhƣ hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh phối hợp với các ngành
ngân hàng hình thành các quĩ khuyến công, khuyến thƣơng, cho vay dài hạn
(từ 5 năm trở lên) gắn hoạt động tín dụng ƣu đãi với thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho ngƣời
lao động.
- Có chính sách miễn giảm thuế đối với những ngành nghề mới, những
cơ sở thử nghiệm công nghệ mới để khuyến khích đầu tƣ phát triển. Ngoài ra
cần hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất,
cung cấp điện nƣớc và bảo vệ môi trƣờng cho các làng nghề.
- Hỗ trợ tìm kiếm, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm cho ngành
nghề nông thôn; cung cấp đầy đủ thông tin về sản xuất kinh doanh cho ngƣời
sản xuất, phát triển dịch vụ tƣ vấn kinh doanh, tƣ vấn thị trƣờng, giúp các
102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
làng nghề làm các thủ tục xuất khẩu hàng hoá, gắn tổ chức sản xuất với tiêu
thụ sản phẩm; đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, khuyến
khích và tạo điều kiện cho các làng nghề thành lập trung tâm hay doanh
nghiệp chịu trách nhiệm bao thầu sản phẩm, giới thiệu đầu vào, đầu ra cho sản
phẩm và ban hành chính sách bảo hiểm sản phẩm mới để các cơ sở sản xuất
kinh doanh mạnh dạn đầu tƣ phát triển sản xuất.
- Đổi mới trang thiết bị và công nghệ, từng bƣớc cơ giới hoá lao động
sản xuất của các ngành nghề, giảm bớt sức lao động cơ bắp cho ngƣời lao
đồng thời thực hiện tốt quản lý thị trƣờng chống buôn lậu, tạo lập trật tự
thƣơng mại, du lịch lành mạnh.
- Khai thác tối đa các trung tâm thƣơng mại đã có, đồng thời phát triển
nhanh mạng lƣới thƣơng mại dịch vụ ở huyện, thị trấn làm hạt nhân, mở rộng
thị trƣờng ở nông thôn, xây dựng các thị trấn, các chợ, trung tâm thƣơng mại
nông thôn tại các xã, cụm xã, phát triển thị trƣờng nông thôn, tạo điều kiện để
nông dân có môi trƣờng thuận lợi giao lƣu hàng hoá - dịch vụ.
- Ƣu tiên đầu tƣ phát triển các ngành du lịch, vận tải, bƣu điện, tài chính
ngân hàng, những ngành chiếm tỉ trọng cao và then chốt, đồng thời mở rộng
và đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ: thông tin, tƣ vấn pháp lý, tƣ vấn kỹ
thuật, tƣ vấn kinh doanh Đây là hƣớng cơ bản để tăng “cầu” lao động cả ở
nông thôn và thành thị.
- Khai thác triệt để lợi thế đƣờng 1B và các khu di tích lịch sử, di tích
văn hoá phát triển ngành du lịch.
- Có cơ chế đầu tƣ theo hƣớng đa dạng hoá các thành phần kinh tế hình
thức tổ chức và loại hình du lịch, xây dựng các tour, tuyến du lịch trong và
ngoài nƣớc, phát triển ngành du lịch kéo theo phát triển nhiều loại hình dịch
104
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vụ phục vụ du lịch, phát triển kinh tế xã hội những vùng xung quanh giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động.
3.2.2. Phát triển và đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh
doanh, tạo việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn
Phát triển và đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh với
nhiều trình độ kỹ thuật và qui mô tổ chức khác nhau, thu hút nhiều lao động là
hƣớng đi quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nông thôn.
3.2.2.1. Phát triển kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế nhƣng nó là
một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Trong kinh
nữ, trẻ em, lao động lớn tuổi lao động có trình độ văn hóa và chuyên môn
thấp, tạo việc làm tại chỗ cho ngƣời lao động ở nông thôn.
3.2.2.2. Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã
Ở Đồng Hỷ hiện nay, các hợp tác xã là loại hình kinh tế có đóng góp to
lớn vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, góp phần xoá đói giảm nghèo, xây
dựng nông thôn mới. Hợp tác xã còn có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống
xã hội, là cầu nối giữa hộ nông dân với chính quyền, tạo lập mối quan hệ cộng
đồng, góp phần tăng cƣờng tình làng nghĩa xóm, hỗ trợ nhau trong sản xuất và
đời sống.
Trong những năm tới, Đồng Hỷ xác định phát triển kinh tế hợp tác xã
vẫn là hƣớng đi cơ bản để phát triển kinh tế, nhất là trong kinh tế nông nghiệp
nông thôn, mang lại nhiều việc làm cho ngƣời lao động khu vực này. Chính vì
vậy, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác xã theo các hƣớng sau:
- Cải tiến công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
hợp tác xã nông nghiệp, phi nông nghiệp hiện có. Phát triển các hình thức đa
106
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dạng trong các lĩnh vực chăn nuôi, chế biến sau thu hoạch, sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ, sinh vật cảnh ở những nơi có nhu cầu và điều kiện.
- Tập trung chỉ đạo để kiện toàn lại các hợp tác xã đã đƣợc chuyển đổi
và xây dựng mới. Tổng kết những mô hình tốt đê rút ra bài học kinh nghiệm,
đồng thời tập trung hỗ trợ, kiện toàn các hợp tác xã còn gặp khó khăn để tạo
sự chuyển biến đồng đều.
- Ngoài các chính sách ƣu đãi các hợp tác xã nông nghiệp do Nhà nƣớc
quy định, huyện cần có chính sách hỗ trợ mọi mặt tạo điều kiện cho kinh tế
hợp tác và hợp tác xã phát triển, nhƣ:
+ Bố trí mặt bằng cho các hợp tác xã xây trụ sở, sân phơi, xây các cơ sở
dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp đƣợc miễn tiền thuê đất
để sản xuất kinh doanh kể từ khi hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi theo Luật
Hợp tác xã hoặc mới thành lập đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ về cả số lƣợng và chất lƣợng trong các
lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống khơi
dậy tính sáng tạo và phát huy truyền thống của địa phƣơng. Bên cạnh đó, chú
trọng phát triển một số công ty đủ mạnh trên một số lĩnh vực nhƣ: công
nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông thủy lợi, để vừa làm đối tƣợng liên
kết, liên doanh trong và ngoài tỉnh, tạo cơ sở thúc đẩy các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
Cần tập trung phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đồng Hỷ theo
những hƣớng sau:
- Rà soát quy hoạch phát triển ngành nghề trên địa bàn huyện, điều
chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch cho phù hợp với thực tế và xu thế phát
triển. Công bố quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển các khu công
108
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nghiệp, cụm công nghiệp, quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để ngƣời
dân và doanh nghiệp có nhu cầu đầu tƣ có thông tin đầy đủ và chính xác nhất.
- Xây dựng, thành lập và ban hành các chính sách khuyến khích phát
triển các quỹ dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cƣờng khả năng tiếp
cận các nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn tại các ngân hàng thƣơng
mại, tín dụng ƣu đãi, tổ chức tín dụng quốc tế, các tổ chức thuê mua tài chính;
hƣớng dẫn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp có khả năng lập đƣợc những dự án
khả thi để thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn, đồng thời khuyến khích
các doanh nghiệp cùng góp vốn để hình thành các quỹ trợ giúp nhau.
- Bồi dƣỡng kiến thức, năng lực tổ chức quản lý và phát triển doanh
nghiệp cho chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và những ngƣời có nguyện vọng
thành lập doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
- Chấn chỉnh bộ máy cơ quan đăng ký kinh doanh từ huyện, thị; xây
dựng phƣơng án củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực để thống nhất đăng ký
Hỷ cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
- Tranh thủ tối đa các nguồn vốn hỗ trợ của ngân hàng cấp trên, đồng
thời chủ động khai thác những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, lãi suất thấp tại
các địa phƣơng, các chƣơng trình dự án tài trợ trong nƣớc, quốc tế có chính
sách ƣu đãi, nguồn vốn ngân sách địa phƣơng giành cho chƣơng trình xóa đói
giảm nghèo, tạo việc làm để đảm bảo nguồn vốn vay.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu quả phối hợp giữa các ngân hàng
chính sách xã hội các cấp với lãnh đạo chính quyền địa phƣơng, ngành lao
động thƣơng binh xã hội, các tổ chức chính trị xã hội tham gia hợp đồng ủy
110
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thác, các đơn vị tham gia cho vay vốn, các trung tâm đào tạo, dịch vụ xuất
khẩu lao động. Củng cố kiện toàn ban giải quyết việc làm các cấp; thƣờng
xuyên kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện, kịp thời phát hiện và chấn
chỉnh sửa chữa những sai sót trong thực tiễn điều hành, đảm bảo sử dụng
nguồn vốn cho vay có hiệu quả, đúng mục đích.
Giữ gìn kỷ cƣơng quản lý, đặt mọi hoạt động của chƣơng trình cho vay
dƣới sự chỉ đạo chặt chẽ của ban chỉ đạo chƣơng trình, cấp ủy đảng và các
cấp chính quyền.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế địa
phƣơng, tạo ra sự thông thoáng trong việc triển khai thực hiện ở các cấp, đơn
giản hóa thủ tục hành chính, công khai hóa và thực hiện đúng vai trò của cơ
quan quản lý nhà nƣớc trong quan hệ với các chủ thể kinh tế, giúp các chủ thể
này đƣợc hƣởng chính sách tín dụng ƣu đãi của Nhà nƣớc một cách bình đẳng
và có hiệu quả.
- Củng cố, nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các
điểm giao dịch tại xã, tổ tiết kiệm cho vay vốn. Những tổ hoạt động yếu, tổ
trƣởng có ý thức trách nhiệm thấp hay có biểu hiện rƣợu chè cờ bạc cần
chấn chỉnh, thay đổi kịp thời. Những tổ trƣởng năng lực yếu thực hiện nghiệp
vụ chƣa đầy đủ, chính xác, cần phối hợp tập huấn bồi dƣỡng.