Kinh tế Fulbright - Ngoại thương: Thể chế và tác động - Pdf 20

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 1 Bin dịch: Hoàng Nhị

CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP
VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Mari Pangestu
Phát triển công nghiệp là một bộ phận không thể thiếu của chiến lược tăng trưởng kinh tế.
Hầu hết các nước đều theo đuổi một loại chính sách công nghiệp nào đó, mặc dù mục tiêu
và cách tiếp cận của họ có thể khác hẳn nhau, và có thể thay đổi theo thời gian. Với môi
trường trong nước và toàn cầu đang thay đổi hiện nay, các nước đang phát triển cần đánh
giá lại các lựa chọn đang mở ra cho họ để có thể thực hiện một chính sách công nghiệp
hóa hiệu quả và phù hợp với WTO.
Mục tiêu và phạm vi của chính sách công nghiệp
Sách vở kinh tế và các bài học từ việc thi hành chính sách công nghiệp nhấn mạnh rằng
một chính sách hoặc chiến lược công nghiệp hiệu quả cần phải có những mục tiêu, lý do,
và phạm vi được xác định rõ ràng. Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một định nghĩa có thể
chấp nhận được của chính sách công nghiệp là “các nỗ lực của chính phủ nhằm thay đổi
cơ cấu công nghiệp để thúc đẩy tăng trưởng dựa trên năng suất” (World Bank 1992)
1
.
Định nghĩa này là hữu ích vì nó tập trung vào mục tiêu tăng trưởng năng suất yếu tố trong
toàn bộ nền kinh tế chứ không phải chỉ đơn giản thay đổi cơ cấu sản phẩm đầu ra của các
ngành sản xuất hay chăm lo đến một vài khu vực nhất định. Chính sách công nghiệp

Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 2 Bin dịch: Hoàng Nhị
giảm chi phí. Theo lập luận này, chỉ nên trợ giúp những quá trình học hỏi diễn ra bên
ngoài doanh nghiệp, bởi vì doanh nghiệp không thể chiếm được đặc quyền hoặc lợi nhuận
từ việc đào tạo này nên sẽ không đầu tư cho nó.
Có những điều kiện quan trọng giới hạn lập luận về ngành công nghiệp non trẻ. Thứ nhất,
mức độ giảm chi phí trong tương lai cần phải đủ để bù đắp chi phí cao hơn trong giai
đoạn được hỗ trợ. Thứ hai, không nên hỗ trợ bao trùm cho toàn bộ các doanh nghiệp
trong một ngành; sự tồn tại của ngoại tác và việc hỗ trợ cần phải được gắn với kết quả
hoạt động của người nhận hỗ trợ (ví dụ, hiệu quả phải cao hơn hoặc chi phí phải giảm đi),
và khoản hỗ trợ phải giảm dần theo thời gian. Thứ ba, công cụ thích hợp để tạo ra ngoại
tác tích cực từ việc mở rộng công nghiệp nội địa có thể không phải là thuế quan hay trợ
cấp theo sản lượng. Một chính sách thích hợp hơn là: trợ cấp theo quá trình, theo việc
làm, hoặc sản phẩm mà có thể giúp tạo ra kiến thức hay học hỏi.
Tính thích hợp của các công cụ chính sách tuân theo một chủ đề chung hơn trong lý
thuyết về sự can thiệp của chính phủ (xem Bhagwati 1971; Corden 1974). Mỗi ngoại tác
hoặc thất bại thị trường đòi hỏi phải có loại trợ cấp thuế dựa trên biến số đã tạo ra ngoại
tác hoặc thất bại thị trường đó, và tỉ lệ trợ cấp thuế phải là tỉ lệ giúp tạo được hiệu quả tối
ưu. Bất kỳ một trợ cấp thuế nào khác với trợ cấp thuế tối ưu sẽ tạo ra điều mà Corden
(1974) gọi là những tác động phụ, những tác động sẽ áp đặt chi phí không mong muốn ở
một nơi khác trong nền kinh tế.
Cũng cần lưu ý đến tác động của sự can thiệp vào một ngành đến toàn bộ nền kinh tế.
Một cách để làm điều này là chú ý đến tỉ lệ bảo hộ hiệu dụng, một đại lượng tính đến tác
động của thuế quan lên cả đầu vào và đầu ra. Ví dụ, thuế quan đánh vào một đầu vào sẽ

Bernard Hoekman et al. 3 Bin dịch: Hoàng Nhị
HP 17.1 T L BO H DANH NGHA VÀ HIU DNG
Tỉ lệ bảo hộ danh nghĩa (NRP) có thể được định nghĩa như:
*
*
P
PP
NRP

=

với P là giá trong nước của hàng hóa đã bao gồm thuế nhập khẩu, P* là giá khi có tự do
ngoại thương. Vì trong thực tế không thể thấy được P*, hầu hết các nghiên cứu thực
nghiệm đều lấy giá thế giới để thay cho P*.
Tỉ lệ bảo hộ hiệu dụng (EPR) có thể được định nghĩa như tỉ lệ tăng thêm của gía trị gia
tăng trên một đơn vị hàng hóa của một sản phẩm được sản xuất trong nước so với giá trị
gia tăng khi có tự do ngoại thương (không có bảo hộ). Độ lớn của ERP không chỉ phụ
thuộc vào thuế quan danh nghĩa đánh lên sản phẩm cuối cùng mà ta đang xem xét, mà
còn phụ thuộc vào thuế quan đánh lên các đầu vào được sử dụng và tầm quan trọng của
các đầu vào đó trong giá trị của sản phẩm cuối cùng. Một công thức đơn giản để tính ERP
là:
*
*
V
VV
ERP

=

với V là giá trị gia tăng trong nước trên mỗi đơn vị của hàng hóa cuối cùng (đã bao gồm

6001200
=

hay 50%.
Trong ví dụ này, ERP cao hơn gấp đôi tỉ lệ 20% NRP đánh lên thép nhập kh

u. N
ế
u không
có thuế đánh lên thép nhập khẩu nhưng một khoản thuế danh nghĩa 33% được đánh lên
quặng sắt nhập khẩu, ERP sẽ là:

5,0
400
)200600(1000
=
+

, hay –50%.
Ví dụ này cho thấy rằng NRP= 0 không nhất thiết có nghĩa là thương mại không bị biến
dạng. Một ví dụ khác, giả sử hạt ca cao chiếm 95% chi phí sản xuất của bơ ca cao. Đánh
thuế 5% danh nghĩa lên bơ ca cao đồng nghĩa với việc bảo hộ 100% cho ngành sản xuất
bơ ca cao.

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Ngoại thương:

(thường với lãi suất có trợ cấp) bằng cách yêu cầu các định chế tài chính cho một số
ngành hoặc một số loại công ty được vay. Việc can thiệp vào thị trường lao động có thể
có các mục tiêu về hiệu quả và công bằng. Mục tiêu thứ nhất liên quan đến việc phát triển
nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Mục tiêu thứ hai bao gồm các yêu cầu về
tiền lương tối thiểu và các hệ thống lưới an toàn xã hội.
Hộp 17.2 cho thấy ví dụ về các loại công cụ chính sách công nghiệp mà Hàn Quốc và
Nhật bản đã sử dụng trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa của họ.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 5 Bin dịch: Hoàng Nhị
Sự tiến hóa của chính sách công nghiệp
Cách tiếp cận đối với phát triển công nghiệp và các loại công cụ được sử dụng đã tiến hóa
theo thời gian do các thay đổi trong hệ thống quan niệm về phát triển cũng như trong môi
trường bên ngoài. Để có tính cụ thể, phần này sẽ tập trung vào các ví dụ từ Đông Á,
nhưng hầu hết những điều được đề cập đến đều có thể áp dụng được cho tất cả các nước
đang phát triển.
HỘP 17.2. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP VÀ XUẤT
KHẨU ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN
Khuyn khích xut khu và hn ch nhp khu
• Hạn chế nhập khẩu, cả tổng quát và cụ thể
• Ưu tiên trong việc xúc tiến xuất khẩu cho một số ngành cụ thể, và một s

doanh

Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 6 Bin dịch: Hoàng Nhị

BẢNG 17.1 SỰ TIẾN HÓA CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP Ở ĐÔNG Á (THẬP
KỶ 1950 – 1990)
Nền kinh
tế
1950s 1960s 1970s 1980s 1990s
Trung
Quốc

1965-76
Quốc
phòng/Công
nghiệp (công
nghiệp hóa
thiên về CN
nặng)
1977-78
Nhập khẩu
nhà máy
1980s
Tự do hóa vùng
duyên hải (các
ngành công

1959-
EO
1967-
Tự do hóa
Giữa 1980s
Giảm bớt luật lệ

Quốc tế hóa
Hàn Quốc
1961-72
EO
1973-79
EO
IS (công
nghiệp nặng)
1980
Tự do hóa
(thương mại, đầu
tư, tài chính)
1990s
Giảm bớt luật lệ
từ giữa 1980s
(hướng về phát
minh đổi mới)
Malaysia
1950-70
IS vừa phải
Thêm EO
1971-85
Tiếp tục IS

(Trung
Quốc)
1953-57
IS
1958-80
EO
1986-
Tự do hóa
Thái Lan
1961-71
IS
1971-86
IS (hàng hóa phục vụ sản xuất,
bắt đầu từ 1981)
1986-
EO
Các ngành thâm
dụng công nghệ
EO một phần

Ghi chú: IS: Thay thế nhập khẩu, EO: Hướng về xuất khẩu
Nguồn: Masuyama, Vanderbrink, và Chia (1997): bảng 1.1
.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển

Có nhiều giải pháp về chính sách thích hợp để giải quyết các vấn đề về cơ cấu mà các
quốc gia Đông Á đang gặp phải, và nhiều chính sách đã được các chính phủ áp dụng. Một
là duy trì sự cạnh tranh trong thị trường nội địa. Hàng nhập khẩu có thể tác động đến năng
suất qua công nghệ được thể hiện trong nó, và có thể là một cách hiệu quả để đồng hóa
các kỹ thuật và kiến thức mới (xem Chương 34 của Saggi trong cuốn sách này). Các nhân
tố khác có thể thúc đẩy xuất khẩu là: khuyến khích FDI và tham gia vào mạng lưới sản
xuất quốc tế; chính sách vĩ mô phù hợp; cơ cấu hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ hiệu quả;
các chính sách cải thiện vốn con người và năng lực công nghệ, ví dụ như hoạt động
nghiên cứu và phát triển, giáo dục, cũng như tạo ra các cụm công nghiệp. Nhìn chung, các
quốc gia Đông Á đã chuyển trọng tâm sang các chính sách bổ trợ như vậy, và giờ đây
đang nỗ lực cung cấp một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các ngành có khả
năng cạnh tranh, nâng cao tính linh hoạt của nền kinh tế nhằm đáp ứng với các thay đổi.
Bảng 17.2 tóm tắt các chính sách mà các nền kinh tế Đông Á đã theo đuổi ngay trước
cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Việc giải quyết khủng hoảng càng làm tăng thêm
nhu cầu phải có một cách tiếp cận toàn diện hơn đối với cuộc cải cách chính sách mà ở
một phạm vi nào đó là do gói cải cách của IMF bắt buộc. Các quốc gia không được các
chương trình của IMF hỗ trợ cũng đang buộc phải theo đuổi các cải cách tương tự.
5

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, và WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 8 Bin dịch: Hoàng Nhị
Các quy định đa phương về việc sử dụng các công cụ của chính sách công

Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 9 Bin dịch: Hoàng Nhị
Loại biện pháp An Độ Malaysia Bangladesh Philippines Thái
Lan
Hàn Quốc Singapore Indonesia Hồng
Kông
Nhật
1. Các biện pháp tác động đến sản xuất

Chính sách Phát triển công nghiệp
Chung Có Có Không Có Có Có Có Không Có Có
Ưu tiên cho ngành cụ thể Có Có Có Có Có Không Có Có Không -
Ngành chiến lược/nội địa Có Có Có Có Không Không Có Có Không -
Ngành xuất khẩu - - Có Có Có Không Có Không - -
Các biên pháp hỗ trợ
Bảo hộ nhập khẩu Giảm Có - Có Có Không Không Có Không Không
Kiểm soát giá cả Giảm Có - Không - Không Không Có Không -
Quy định về đầu tư Giảm - - Giảm - Không Không Giảm Không -
Trợ cấp hoặc hỗ trợ tín dụng Có Có Có - Có Có Có Có Có Có
Đào tạo nhân lực - Có Có Có - Có Có - Có Có
Khuyến khích đầu tư
Giảm bớt luật lệ Có Có - - Một
phần
Có - Có - -
Giảm thuế
Giai đoạn miễn thuế/Miễn thuế Có Có Có Có Có Có Có - - -
Giảm thuế suất Có Có Có Có Có Có Có - - Có

Có Có Có Có Có Có Có Có Có Không
Tài trợ xuất khẩu Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có
Bảo hiểm và bảo lãnh xuất khẩu Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có
Quản lý chất lượng xuất khẩu Có Không Không Có Có Không Không Có Có Không
Khu chế xuất Có Có Có Có Có Có Có Có Không Không
Yêu cầu về thành tích xuất khẩu Có Không Có Không Có Không Không Không Không Không
Trợ cấp tiền mặt cho xuất khẩu Không Không Có Có Có Không Không Không Không Không
Các cartel xuất khẩu Không Không Không Không Không Không Không Không Không Có
Các tổ chức xúc tiến xuất khẩu Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có
Các biện pháp khác ảnh hưởng đến xuất
khẩu

Yêu cầu đăng ký Có Có Có Có Không Không Không Không Không Không
Giấy phép xuất khẩu Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có
Cấm xuất khẩu Có Có Có Tối thiểu Không Có Có Có Có Có
Thuế/phí xuất khẩu Có Có Có Không Có Không Không Có Có Có
Giá xuất khẩu tối thiểu Có Không Có Không Với 2 Không Không Không Không Không
Hạn ngạch xuất khẩu Có Không MFA MFA, khác MFA,
khác
Không Không Có Không Có
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện MFA MFA, khác MFA MFA, khác MFA,
khác
Không Có Có MFA Có
- Không có thông tin
Ghi chú: MFA: Hiệp định Đa sợi
Nguồn: Singh (1996): phụ lục II
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Nin khĩa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động

mục tiêu. Trước 1995, Hàn Quốc có 26 loại trợ cấp khác nhau, tổng cộng lên đến 2,5
ngàn tỉ won mỗi năm (WTO 1996b). Khác với Luật trợ cấp (Subsidies Code) là thỏa
thuận tự nguyện được đàm phán trong Vòng đàm phán Tôkyô, tất cả các nước thành
viên đều bị ràng buộc bởi hiệp định của WTO, và hiệp định SCM có hiệu lực đến cả
các chính quyền cấp dưới. Tuy vậy, cần lưu ý rằng kỷ luật về trợ cấp chủ yếu là giới
hạn các khoản trợ cấp cho xuất khẩu; chứ hiệu lực kiềm chế đối với các khoản trợ cấp
sản xuất là yếu. Đối với các nước đang phát triển, hiệp định SCM là một con dao hai
lưỡi: nó có nhiều kẽ hở cho phép họ tiếp tục sử dụng trợ cấp để xúc tiến các mục tiêu
công nghiệp, nhưng điều này cũng đúng đối với các nước công nghiệp. Như vậy, các
nước đang phát triển không có triển vọng sử dụng trợ cấp để giành được lợi thế cạnh
tranh so với các nước công nghiệp.
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Theo Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS), một số
biện pháp liên quan đến hoạt động đầu tư có tác động đến thương mại cần phải được
thông báo và bãi bỏ trước tháng 1.2001 (tháng 1.2003 với các nước đang phát triển).
Các yêu cầu cần bãi bỏ bao gồm yêu cầu về tỉ lệ nội địa và cân bằng thương mại, cả
hai đều đã và đang là những công cụ quan trọng trong chính sách công nghiệp. Một số
nước đang phát triển vẫn chưa thông báo và chưa bãi bỏ các biện pháp này, và nhiều
nước đang tìm cách gia hạn thời gian chuyển đổi. Nhiều nước đang phát triển cũng
phản đối mạnh mẽ việc mở rộng danh mục các biện pháp bị cấm trong TRIMS tại các
cuộc đàm phán trong tương lai. (Xem phần thảo luận toàn diện hơn trong Chương 19
của Bora.)
Hiệp định về các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (TRIPS)
Có lẽ, hơn bất kỳ hiệp định nào khác của WTO, việc thực thi hiệp định TRIPS đòi hỏi
nhiều thay đổi trong luật pháp quốc gia và tăng cường sức mạnh của các cơ quan thực
thi. Việc tăng cường bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ (IPRs) có nhiều ý nghĩa đối với
chính sách công nghiệp. Các doanh nghiệp trong nước sẽ vừa có nhu cầu vừa có động
lực phải đổi mới và cạnh tranh năng động hơn; việc tháo máy để bắt chước và làm
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Nin khĩa 2005 – 2006

Từ quan điểm của chính sách công nghiệp, tự do hóa trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng là
cực kỳ quan trọng cho các nước đang phát triển. Vì kỷ luật đối với trợ cấp và các yêu
cầu về kết quả hoạt động đang buộc các nước đang phát triển phải nghĩ đến các cách
thức trung lập hơn để phát triển khả năng xuất khẩu (Laird 1997), việc cải thiện cơ sở
hạ tầng – đặc biệt là trong viễn thông, tài chính, và giao thông vận tải – là một cơ chế
quan trọng để tăng cường khả năng cạnh tranh.
Bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ
Điều XVIII, Phần A và C của GATT, cho phép các thành viên đang trong “giai đoạn
đầu của phát triển” được sử dụng các rào cản thương mại để bảo hộ cho công nghiệp
trong nước. Phần B của Điều XVIII cho phép các nước đang phát triển được linh hoạt
áp dụng các biện pháp thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán. Trước Vòng đàm
phán Uruguay, Phần C nói về các ngành công nghiệp non trẻ ít khi được dùng đến,
một phần là vì việc sử dụng điều khoản này đòi hỏi phải bồi thường, một phần là vì
các nước đang phát triển chưa có nhiều cam kết ràng buộc về thuế quan. Thay vào đó,
nhiều nước đã sử dụng Phần B, vì phần này không đòi hỏi phải bồi thường và cho
phép tự do hơn trong việc can thiệp có chọn lọc. WTO đưa ra kỷ luật chặt chẽ hơn về
cán cân thanh toán, giới hạn phạm vi và thời hạn của ngoại lệ này (Singh 1996:166).
Khi danh mục ràng buộc về thuế quan mở rộng, các nước đang phát triển có thể sẽ
phải dựa nhiều hơn vào Điều XVIII, cùng với các chương trình tự vệ và trợ cấp trong
nước để bảo hộ cho các ngành sản xuất nội địa.
Đối xử đặc biệt và khác biệt
WTO có nhiều điều khoản quy định về đối xử “đặc biệt và khác biệt” (S&D) ưu tiên
cho các nước đang phát triển, và có cơ hội cho đối xử S&D trong việc áp dụng chính
sách công nghiệp theo từng hiệp định đã nêu. Ngoài các giai đoạn chuyển đổi cho
phép chậm áp dụng, một số hiệp định (ví dụ như hiệp định về SCM, tự vệ, và chống
phá giá) còn có các ngoại lệ và kỷ luật ít nghiêm ngặt hơn cho các nước đang phát
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Nin khĩa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động

khuyến khích đầu tư hoặc tăng trưởng xuất khẩu) bị giới hạn ở các công cụ chung chứ
không phải là các công cụ đặc thù. Điều này có tác dụng san bằng sân chơi cho
thương mại quốc tế bằng cách không cho phép các quốc gia được phát triển một số
ngành công nghiệp riêng biệt qua các công cụ chính sách đặc thù.
Cuối cùng, cách tiếp cận đối với đối xử S&D trong WTO nói chung bị giới hạn ở các
thỏa thuận về chuyển đổi, được bổ sung bằng các điều khoản tối thiểu (de minimis)
(xem Chương 49 của Oyejide trong cuốn sách này).
Kết luận
Các thay đổi trong hệ thống khái niệm về phát triển, công nghệ, và các quy định đa
phương có nghĩa là các chính sách công nghiệp của các nước đang phát triển trong thế
kỷ 21 nếu muốn có hiệu quả và phù hợp với WTO thì phải toàn diện chứ không chỉ
nhắm đến một số ngành cụ thể. Việc công nhận tầm quan trọng của các chính sách bổ
trợ để bảo đảm khả năng cạnh tranh đã chuyển trọng tâm của chính sách theo hướng
nâng cao hiệu quả của cơ sở hạ tầng, cải thiện việc tạo nguồn vốn nhân lực, và tạo
môi trường khuyến khích đầu tư và sáng tạo đổi mới. Hơn nữa, vì sự phát triển của
các ngành sản xuất và chế biến tài nguyên phụ thuộc nhiều vào sự hiện hữu của ngành
dịch vụ có hiệu quả, các cải cách và tự do hóa về chính sách cần phải bao gồm cả khu
vực dịch vụ.
Các luật lệ đa phương đang phát triển phù hợp với sự chuyển dịch theo hướng sử
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Nin khĩa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, v WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 14 Biên dòch: Hoaøng Nhò


vay và bảo hiểm tại mức lãi suất được trợ cấp, các quy định giảm thuế và phí, và các
khu chế xuất. Các nước đang phát triển có ý định sử dụng các chính sách như thế
(hoặc tìm cách gia hạn giai đoạn chuyển đổi để có thể sử dụng các biện pháp khác
không phù hợp với WTO) cần phải đánh giá xem các chính sách ưu tiên cho một số
nhà sản xuất cụ thể là có lợi cho quốc gia đến mức nào. Đồng thời, giai đạn chuyển
đổi phù hợp để chuyển sang lập trường chính sách chung hơn cần phải dựa trên sự
đánh giá thực tế, phản ánh đúng chiến lược phát triển đất nước và nhu cầu xây dựng
thể chế, năng lực, và khả năng. Cuối cùng, việc theo đuổi các chính sách công nghiệp
cần phải tuân theo các tiêu chí được xác định ở đầu chương này: các mục tiêu phải
được xác định rõ ràng, công cụ chính sách phải được khẳng định là phù hợp nhất để
đạt được các mục tiêu đó; và việc thực thi phải minh bạch và đáp ứng được các tiêu
chí rõ ràng, tốt nhất là phải có các yêu cầu rõ ràng về kết quả và điều kiện rút lui. Chú thích
Chương này dựa trên Bora, Lloyd và Pangestu (2000)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Nin khĩa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Pht trịển, thương mại, v WTO
Ch. 17: Chính sách công nghiệp và các nước
đang phát triển Bernard Hoekman et al. 15 Biên dòch: Hoaøng Nhò
1

Hiệp định này có một danh mục các loại biện pháp được coi là đóng góp tài chính: các khoản cho
không, cho vay, góp cổ phần, bảo lãnh khoản vay, các ưu đãi về tài chính, cung cấp hàng hóa và dịch
vụ. Vì chính phủ được định nghĩa là bất kỳ cơ quan công quyền nào trong lãnh thổ của một thành viên,
định nghĩa này bao gồm cả các chính quyền cấp dưới trong nước, các cơ quan công quyền, và các công
ty quốc doanh. Định nghĩa về quyền lợi chưa được giải quyết đầy đủ trong những vụ khiếu kiện có liên
quan đến các khoản đóng góp tài chính gián tiếp.
10
Tổn thương được định nghĩa là thiệt hại cho một ngành sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu được
trợ cấp gây ra trên lãnh thổ của thành viên khiếu kiện. Thiên lệch nghiêm trọng là các tác động xấu trên
thị trường của thành viên trợ cấp hoặc trên thị trường thứ ba. Vô hiệu hóa lợi ích có thể xảy ra khi việc
tiếp cận thị trường được cải thiện do một khoản cam kết cắt giảm thuế, nhưng lại bị giảm đi do trợ cấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status