Các chính sách kinh tế trong thời gian gần đây và tác động đến
doanh ngiệp
Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác như bội chi ngân sách, nhập siêu,… cũng khó
thực hiện. Trước những đòi hỏi của nền kinh tế, những tháng đầu năm, Chính phủ
đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp chính sách kinh tế bảo đảm
kinh tế vĩ mô, kiểm soát, ngăn ngừa tái lạm phát cao. Đây là những giải pháp
chính sách cần thiết. Tuy nhiên, những giải pháp chính sách này có tác động như
thế nào đối với doanh nghiệp? Bài viết này nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu
về tác động của những giải pháp chính sách kinh tế trong thời gian vừa qua đến
hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài phần mở đầu, bài viết gồm 3 phần. Phần 1 sơ
lược tình hình kinh tế năm 2010 và 4 tháng đầu năm 2011. Phần 2 trình bày những
giải pháp chính sách đã được ban hành và thực hiện trong thời gian vừa qua, đặc
biệt trong những tháng đầu năm 2011 (chủ yếu là những giải pháp chính sách kinh
tế có liên quan đến doanh nghiệp). Phần 3 đưa ra một số tác động ban đầu của giải
pháp chính đến doanh nghiệp đồng thời đề xuất một số ý kiến hoàn thiện trong
thời gian tới.
1. Sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và bốn tháng đầu năm 2011
Trong khuôn khổ hạn hẹp, phần này chỉ điểm qua tình hình về tăng trưởng kinh tế,
thương mại, đầu tư và lạm phát.
Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có mức tăng trưởng khá và có xu hướng quý
sau tăng nhanh hơn quý trước nhờ việc thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định
kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển và những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
Nền kinh tế đã sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ tăng GDP của quý I là 5,84%, quý II - 6,44%,
quý II - 7,16%, quý IV- 7,34%. Tính chung, cả năm 2010 GDP tăng 6,78%. Tăng
trưởng của cả 3 khu vực nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
năm 2010 đều tăng so với với năm 2009 (Bảng 1).
Đến quý I/2011, tốc độ tăng trưởng đạt 5,43% so với cùng kỳ năm 2010. Tốc độ
tăng trưởng tương ứng của các khu vực nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ lần lượt đạt 2,05%, 5,47%, và 6,28%.
valid bookmark self-reference.). Trong quý I/2011, do giải ngân mới chỉ chủ yếu ở
khu vực kinh tế nhà nước, nên tỷ trọng của khu vực này trong tổng đầu tư đã đạt
44,5%, tức là cao hơn so với mức của cả năm 2010.
Bảng 2: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo nguồn vốn giai đoạn 2006-2010 (%)
Nguồn vốn 2006 2007 2008 2009 Ước 2010
Khu vực nhà nước
45,7
37,2 33,9
40,6
38,1
Khu vực ngoài nhà nước 38,1 38,5 35,2 33,9 36,1
Khu vực có vốn FDI 16,2 24,3 30,9 25,5 25,8
Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê (TCTK).
Về thu hút vốn FDI, tính đến ngày 21/12/2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng
ký đầu tư vào Việt Nam 18,6 tỷ USD (gồm cả vốn đăng ký và tăng thêm), bằng
82,2% so với cùng kỳ 2009. Năm 2010, ước tính các dự án FDI đã giải ngân được
11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009; trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư
nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Trong những tháng đầu năm 2011 (tính đến
22/4/2011), thu hút FDI đạt 4.024,1 triệu USD, bằng 52.2% cùng kỳ năm 2010.
Tuy nhiên, vốn FDI thực hiện trong giai đoạn này ước đạt 3.620 triệu USD, tăng
0,6% so với cùng kỳ năm 2010.
Về đầu tư ra nước ngoài, trong năm 2010, có 107 dự án đầu tư ra nước ngoài được
cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài là
2,93 tỷ USD; quy mô vốn đầu tư cho một dự án đạt trên 22,76 triệu USD.
Lạm phát
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2010 so