Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
***
Chính sách tiền tệ là trong các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của
một quốc gia. Thông qua chính sách tiền tệ, nhà nớc có thể kiểm soát và điều
tiết lĩnh vực tiền tệ ngân hàng nhằm đạt đợc những mục tiêu kinh tế vĩ mô
của mình. Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ một cách đúng đắn
sẽ làm cho nền kinh tế tiền tệ hoạt động lành mạnh và đó là một yêu cầu cần
thiết và cấp bách để đa nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam ra đời ngày 6-5-1951 đã đánh dấu một
bớc ngoặt quan trọng trong sự phát triển nền tiền tệ ngân hàng Việt Nam. Kể
từ đó cho đến nay Ngân hàng đã trải qua hơn 50 năm xây dựng và trởng
thành và hệ thống ngân hàng thực sự đổi mới và phát triển từ sau đại hội đảng
lần thứ 6. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 ngành
ngân hàng đã có những bớc cải cách toàn diện và vững mạnh. Hệ thống các
công cụ chính sách tiền tệ do vậy cũng hình thành và phát triển cùng với quá
trình NHNN hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ theo pháp lệnh ngân
hàng với mục tiêu đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền,
góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Trong điều kiện thị trờng tiền tệ và thị
trờng tài chính cha phát triển chúng ta cha thể áp dụng các công cụ một cách
bài bản nh ở các nớc phát triển mà phải áp dụng một cách linh hoạt giữa việc
sử dụng các công cụ trực tiếp sẵn có nh lãi suất, tỷ giá, hạn mức tín dụng
đồng thời thiết lập và bớc đầu sử dụng các công cụ gián tiếp nh dự trữ bắt
buộc, tái cấp vốn và gần đây nhất là việc đa vào sử dụng nghiệp vụ thị trờng
mở. Các công cụ này đã thực sự phát huy tác dụng góp phần tạo nên những
thành tựu quan trọng trong hoạt động ngân hàng thời gian qua.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ trong thời gian qua là hết
sức cần thiết và quan trọng vì có xem xét đánh giá nhìn nhận những thành
tựu đạt đợc và những vấn đề còn tồn tại thì mới có các phơng hớng phát triển
và hoàn thiện.
Với lợng kiến thức còn hạn chế, bài viết chắn chắn còn nhiều sai sót.
của cộng đồng.
Ngân hàng trung ơng với t cách là một cơ quan quan trọng trong bộ
máy quản lý của nhà nớc có nhiệm vụ xây dựng và thực thi một chính sách
tiền tệ đúng đắn nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển và ổn định.Vai trò
của NHTW là quản lý ở tầm vĩ mô đối với chính sách tiền tệ.
Vậy chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà
trong đó ngân hàng trung ơng thông qua các công cụ của mình thực hiện
việc kiểm soát và điều tiết khối lợng tiền cung ứng (hoặc lãi xuất) căn cứ
vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế nhằm đạt đợc các mục tiêu về giá cả,
sản lợng và công ăn việc làm.
Chính sách tiền tệ trong một khoảng thời gian nào đó của một quốc gia
có thể đợc xác định theo một trong hai hớng:
Chính sách tiền tệ mở rộng: đó là chính sách tăng tiền cung
ứng vào lu thông, dẫn đến trong lu thông thừa tiền. Trong trờng hợp khi nền
kinh tế có dấu hiệu suy thoái, NHTW sẽ hoạch định theo chính sách mở rộng
tiền tệ nhằm khuyến khích đầu t, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
ngời lao động.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: là chính sách thu hẹp lợng
tiền cung ứng dẫn đến khan hiếm tiền trong lu thông. Trong hợp nền kinh tế
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
có những dấu hiệu lạm pháp gia tăng thì NHTW sẽ hoạch định chính sách
tiền tệ thắt chặt nhằm hạn chế đầu t, kìm hãm sự tăng trởng quá mức của nền
kinh tế
Tóm lại, bằng việc thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt,
NHTW có thể tác động gián tiếp đến các mục tiêu kinh tế và việc chủ động
tạo ra các biến động về tiền tệ (xét cả về khối lợng và lãi suất) với một mục
tiêu xác định.
II. Hệ thống các mục tiêu của chính sách tiền tệ .
1. Mục tiêu cuối cùng.
trong từng thời kỳ nhất định. Tăng trởng kinh tế chính là điều kiện cần thiết
của quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nền kinh tế với tốc độ tăng
trởng ổn định là yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong
những yếu tố quan trọng để đảm bảo cho sự ổn định của tiền tệ và ngợc lại
tiền tệ ổn định thì tăng trởng kinh tế mới bền vững.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế tăng trởng khi tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội GDP lớn
hơn nhịp độ tăng dân số. Đó là tỷ lệ tăng trởng có đợc sau khi trừ đi tỷ lệ tăng
giá cùng thời kỳ. Tăng trởng kinh tế là nền tảng cho mọi sự ổn định, đảm bảo
cho các chính sách xã hội đợc thoả mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong n-
ớc, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của
nền kinh tế trên thị trờng quốc tế.
1.3 Mục tiêu tạo công ăn việc làm.
Mục tiêu tăng trởng kinh tế có quan hệ vững chắc với mục tiêu tạo
công ăn việc làm. Mục tiêu việc làm là mục tiêu tất yếu, nhất là đối với các
quốc gia cha phát triển, năng suất lao động thấp, dân số tăng với tốc độ
cao.Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo công ăn việc làm nhiều hơn nhằm
giảm thất nghiệp.
Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm là rất cần thiết nhng nó chỉ
có thể đảm bảo một tỷ lệ nhất định, khó có thể xoá đợc thất nghiệp hoàn
toàn. Mỗi nớc đều có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, việc giảm tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên cũng là một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Muốn đạt đợc mục tiêu này thì phải chống kết hợp với chống suy thoái, nhất
là suy thoái định kỳ và phải đạt đợc một mức tăng trởng kinh tế ổn định.
Trên đây là ba mục tiêu cuối cùng cơ bản nhất của chính sách tiền tệ
ngoài ra tuỳ vào đặt điểm phát triển kinh tế trong thời kỳ mà mỗi quốc gia
còn tập trung vào một số mục tiêu cụ thể khác nh ổn định thị trờng tài chính,
ổn định lãi xuất, ổn định thị trờng ngoại hối hay nh ở Việt Nam luật ngân
hàng nhà nớc đã đặt thêm mục tiêu ổn định hệ thống tổ chức tín dụng.
1.4 Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng.
trung gian để từ mục tiêu trung gian tác động đến mục tiêu cuối cùng.
Thông qua mục tiêu trung gian NHTW ảnh hởng đến tổng cầu, từ đó
tác động vào mục tiêu cuối cùng. Để trở thành mục tiêu trung gian cần đáp
ứng một số chỉ tiêu sau:
Mục tiêu đó phải đảm bảo tiêu chuẩn định lợng: có thể đa ra dấu
hiệu giúp NHTW biết đợc tác động của mình đúng hay sai để từ đó
đa ra những giải pháp phát huy hay khắc phục những hạn chế.
NHTW có thể kiểm soát đợc mục tiêu trung gian để điều chỉnh nó
cho phù hợp với định hớng của chính sách tiền tệ nhằm đạt đợc
mục tiêu cuối cùng.
Mục tiêu trung gian phải có liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối
cùng. Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một mục tiêu trung
gian bởi lẽ mục tiêu trung gian chỉ có ý nghĩa khi nó có khả năng
ảnh hởng trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng.
Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ bao gồm:mức cung tiền
tệ (có thể là M1,M2,M3), lãi suất thị trờng trung và dài hạn có thể là một
mức lãi suất cụ thể, tỷ giá, khối lợng tín dụng . Hiện nay các nớc thờng sử
dụng mức cung cấp tiền tệ hoặc lãi suất thị trờng làm mục tiêu trung gian của
chính sách tiền tệ.
Với các mục tiêu trung gian nêu trên, NHTW không thể chủ động tác
động một cách hoàn toàn vì vậy NHTW phải lựa chọn các mục tiêu hoạt
động để chỉ đạo thờng xuyên và trực tiếp.
3. Mục tiêu hoạt động.
Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu đợc NHTW lựa chọn để sao cho khi
NHTW sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hởng đến mục tiêu trung
gian. Để đợc lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì các mục tiêu đó phải mang
tính định lợng, và có thể đo lờng đợc, chỉ tiêu đó phải hết sức nhạy cảm với
biến động của chính sách tiền tệ và phải tác động đến mục tiêu trung gian.
Các mục tiêu hoạt động bao gồm: Dự trữ của các ngân hàng thơng
mại (R) và lãi suất ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng. Dự trữ của
này ít đợc sử dụng ở các nớc theo cơ chế thị trờng bởi trong cơ chế
thị trờng lãi suất rất nhạy cảm với đầu t, nó phải đợc vận động theo
quan hệ cung cầu vốn trên thị trờng.
1.2Hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp một cách trực
tiếp mang tính hành chính của ngân hàng trung ơng để khống chế mức
tăng khối lợng tín dụng của các hệ thống tài chính tín dụng cung ứng cho
nền kinh tế đảm bảo mức tăng trởng tổng phơng tiện thanh toán theo mục
tiêu đề ra.
Hạn mức tín dụng là mức d nợ tối đa mà ngân hàng trung ơng buộc
các tổ chức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Mức d nợ này đợc quy định cho từng tổ chức tín dụng căn cứ vào đặc
điểm kinh doanh của từng tổ chức tín dụng và định hớng cơ cấu đầu t tín
dụng cho nền kinh tế, tổng d nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế
trong khoảng thời gian nhất định. Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống
chế d nợ tín dụng của các ngân hàng thơng mại từ đó nó quyết định đến lợng
tiền cung ứng trong nền kinh tế vì mỗi khoản cho vay cấu thành d nợ tín dụng
của các ngân hàng thơng mại thì tơng đơng với nó là một lợng ngồn vốn tiền
gửi huy động từ đó ảnh hởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lợng tiền cung
ứng. Khi NHTW tăng mức tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền
qua hệ thống ngân hàng do đó làm tăng lợng tiền cung ứng và ngợc lại.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hạn mức tín dụng có u điểm là kiểm soát đợc tín dụng của các
ngân hàng nếu chú ý kiểm soát tiền dự trữ tại NHTW. Công cụ này
phát huy hiệu quả trong trờng hợp lạm pháp cao do khống chế trực
tiếp và ngay lập tức lợng tiền cung ứng. Nó là công cụ cứu cánh của
NHTW trong việc điều tiết lợng tiền cung ứng.
Tuy nhiên nó có nhợc điểm là làm sai lệch việc phân phối nguồn
vốn ngân hàng. Nó mang tính chủ quan kém linh hoạt và không thể
thay đổi thờng xuyên. việc quy định hạn mức tín dụng có thể han
hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trờng.
Ưu điểm của tỷ giá là nó ổn định sự tơng quan giữa nội tệ và ngoại
tệ góp phần thúc đấy xuất khẩu kiểm soát nhập khẩu, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế.
Hạn chế của tỷ giá là nó luôn biến động, đợc coi là một yếu tố của
trên thị trờng nên phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trờng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.Công cụ gián tiếp.
Công cụ gián tiếp là những công cụ tác động vào mục tiêu trung gian
thông qua việc điều chỉnh mục tiêu hoạt động.
2.1 Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại NHTW để
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nó đợc xác định bằng tỷ lệ % nhất
định trên tổn số d tiền gửi tuỳ theo tính chất và thời hạn mà các tổ chức tín
dụng huy động đợc. Tỷ lệ này gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Những thay đổi trong dự trữ bắt buộc tác động đến cung ứng tiền tệ
bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ.một sự tăng lên trong dự
trữ bắt buộc làm giảm số tiền gửi đợc nâng đỡ bởi một mức nhất định của cơ
số tiền tệ và dẫn đến thu hẹp cung ứng tiền tệ. Mặt khác một sự giảm xuống
của dự trữ bắt buộc dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ bởi vì có thể
tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần.
Ưu điểm của dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động đến tất cả các
ngân hàng nh nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng
tiền. Nó tác động lên cầu đối với dự trữ nên có thể dự đoán đợc cầu
dự trữ. Tăng yêu cầu dự trữ làm thay đổi d thừa thanh khoản.
Nhợc điểm của dự trữ bắt buộc: dự trữ bắt buộc cao là thuế đánh
vào các ngân hàng, do đó có thể làm tăng chênh lệch lãi suất
chovay-lãi suất tiền gửi. Công cụ này không thuận tiện cho việc
quản lývốn khả dụng và cho việc đạt mục tiêu chính sách tiền tệ vì
ngân hàng thụ động trong việc sử dụng.Vì vậy công cụ này thờng
Nghiệp vụ thị trờng mở đợc NHTW các nớc sử dụng nh là một công cụ
gián tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ thoong qua việc làm thay đổi vốn
khả dụng của hệ thống ngân hàng từ đó gián tiếp làm thay đổi lợng tiền cơ
bản theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Hoạt động thị trờng mở là việc NHTW tiến hành mua bán các trái
phiếu do kho bạc hay do chính phủ phát hành và trái phiếu NHTW mà thôi.
Sử dĩ nh vậy , theo Miskin là nhằm tránh mâu thuẫn quyền lợi và tiêu cực nên
NHTW không thực hiện việc mua bán các chứng khoán do khu vực t nhân
phát hành trong thị trờng mở. đây cũng là quan điểm chính thống đợc thừa
nhân rộng rãi trên thế giới về hoạt động thị trờng mở.
Ưu điểm của nghiệp vụ thị trờng mở là thị trờng mở đợc tiến hành
liên tục , tạo ra sự linh hoạt thuận lợi cho việc phát triển tiền tệ, nó
có tác dụng tức thời.
Nhợc điểm của công cụ này là nó yêu cầu phải có nột thị trờng thứ
cấp phát triển và NHTW phải có một khối lợng lớn tài sản chứng
khoán.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần ii: hiệu quả sử dụng công cụ chính sách tiền tệ
ở việt nam thập kỷ 90 và những năm đầu thế kỷ 21
Ngày 6-5-1951 ngân hàng quốc gia Việt Nam nay là ngân hàng nhà n-
ớc Việt Nam (NHNN) đợc thành lập. NHNN Việt Nam ra đời thực sự là một
bớc ngoặt lịch sử trong sự phát triển nền tiền tệ ngân hàng Việt Nam. Từ
đó cho đến nay lịch sử phát triển của NHNN Việt Nam đợc đánh dấu bằng 4
dấu mốc lịch sử sau:
Từ 6-5-1951 đến 1987: hệ thống ngân hàng một cấp. Chức năng
chủ yếu của NHNN lúc bấy giờ là phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc,
thực hiện chính sách tín dụng và quản lý tiền tệ.việc thực hiện hệ thống ngân
hàng một cấp không thể hiện một cách rõ ràng 2 chức năng chủ yếu chức
năng kinh doanh và chức năng quản lý nhà nớc các hoạt động ngân hàng,