Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung - Pdf 20

Báo cáo thực tập chuyên ngành
Giáo viên hướng dẫn:TS.Quách Tuấn Ngọc
Sinh viên:Vũ Đình Bổng
Đề tài:Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung.
Mục lục
Phần I. Mở đầu 2
Phần II. Tìm hiểu CMS 3
1.Tổng quan CMS 3
2.Các khái niệm 3
3. Yêu cầu của một hệ thống CMS 4
4. Các thành phần cơ bản của hệ thống CMS 5
5.Các quy trình của CMS 7
Phần III. Tìm hiểu PHP
1.PHP Cơ bản 15
2.Tìm hiểu về Biến 17
3.Cấu trúc Điều khiển 21
4.Tìm hiểu hàm trong PHP 26
5.Làm việc với Số 28
6. Làm việc với Chuỗi ký tự 33
7.Làm việc với Mảng 34
8. Làm việc với Ngày và Thời gian 41
9.Sử dụng LỚP 47
10.PHP & MySql 51
11.Truy nhập cơ sở dữ liệu SQL 53
12.Truy nhập file trong PHP 54
Phần IV. Lựa chọn một CMS cài đặt 55
1.Cấu trúc trang web 55
2.Kết quả 60
Phần V. Tổng kết 60
1
Phần I. Mở đầu

Vậy quản lý nội dung (CMS) là quản lý thông tin trên các trang web hay
quản lý cả các ứng dụng?
Có thể nói việc quản lý thông tin sẽ mang đầy đủ ý nghĩa hơn nếu nó là
quản lý cả các ứng dụng chạy trên server.Nhưng việc quản lý ứng dụng như
thế nào có cần thiết phải quản lý các ứng dụng như quản lý thông tin
không.Câu trả lời là không bởi lẽ :
Các nội dung hiển thị là phần quyết định cái gì sẽ được đưa ra còn
các ứng dụng thì quyết định nó được đưa ra như thế nào.Vì vậy cần phát
triển hai hệ thống quản lý đó là quản lý nội dung thông tin và quản lý ứng
dụng.Ngoài ra những người sử dụng của hai hệ thống này cũng hoàn toàn
khác nhau.Trên thực tế những người làm về thông tin thường có khuynh
hướng sáng tạo hơn,những người phát triển ứng dụng thì thường có kĩ thuật
tốt hơn.Như vậy nếu ta xây dựng lồng gộp cả hai việc quản lý trên vào làm
một sẽ gây ra một sự khó chịu khi sử dụng hệ thống.Do những người làm
về thông tin sẽ không hiểu gì về kĩ thuật lắm khi sử dụng họ cần các thao
tác đơn giản chứ không phải làm các công việc liên quan nhiều đến các kĩ
năng kĩ thuật.
Việc phát triển một CMS hoạt động bất kể là nội dung gì đều yêu cầu khả
năng bảo trì theo luồng của hai hệ quản lý trên tại cùng một thời điểm.Thực
tế thì cả hai hệ quản lý thông tin và ứng dụng có những sự tương
đồng:Cùng được tạo ra thay đổi phê chuẩn kiểm thử và triển khai bảo
trì.Tuy nhiên chúng cũng có những điểm rất khác nhau:Việc tạo ra thông
tin và việc tạo ra các ứng dụng là hoàn toàn cần các kĩ năng khác nhau.Khi
đến giai đoạn triển khai thì sự khác nhau càng bộc lộ rõ hơn.
3
Các luồng công việc của quản lý nội dung thông tin và quản lý ứng dụng
không giống nhau.Trong quản lý ứng dụng cần có thêm các luồng công
việc và các công cụ sử dụng để phát triển.
c.Các thành phần của nội dung
Như đó trình bày ở trên nội dung cần quản lý được tạo thành từ các thành

• Cần có sự trao đổi thông tin với hệ thống bên ngoài.
• Yêu cầu trong quá trình khởi tạo nội dung
Độc lập nội dung và các lớp giao diện thể hiện
Cho phép nhiều người sử dụng làm việc trên một tài liệu
Một nội dung chỉ có một nguồn duy nhất
Cung cấp khả năng quản lý các thuộc tính khác liên quan đến nội
dung thông tin như tác giả, tiêu đề,từ khóa
4
Sử dụng không cần các kĩ năng đặc biệt về công nghệ và cụ thể là sử
dụng các công cụ biên tập và xử lý nội dung.
Dễ sử dụng
• Yêu cầu trong quá trình quản lý nội dung:
Kiểm soát phiên bản làm việc và lưu trữ
Quản lý quy trình biên tập phê duyệt nội dung
Đảm bảo tính bảo mật
Có khả năng tích hợp với hệ thống khác
Cung cấp dữ liệu báo cáo về tình trạng hoạt động đa dạng
• Xuất thông tin:
Đồng nhất về khả năng trình bày với những loại dữ liệu giống nhau.
Cung cấp các mẫu, khuôn dạng giúp xuất bản nội dung nhanh chóng
thuận lợi.
Có khả năng cá nhân hóa thông tin
• Về công nghệ:
Hệ thống phải tiện dụng và thân thiện với người dùng.
Công nghệ giúp hệ thống có khả năng tương thích và dễ dàng thích hợp mở
rộng
Hệ thống phải tuân theo các chuẩn dữ liệu xuất bản thông tin trực tuyến.
4.Các thành phần cơ bản của hệ thống CMS:
a.Ứng dựng quản lý nội dung CMA:
Nói một cách đơn giản hệ thống quản lý nội dung CMA quản lý đầy đủ

Bây giờ các thành phần nội dung của ta sẵn sàng cho việc quan sát
nên ta cần kiểm tra chúng.Việc kiểm thử đó để đảm bảo nó sẽ xuất
nội dung theo ý muốn của ta.
• Dàn dựng
Sau khi kiểm thử nội dung sẽ được dàn dựng lên server để chờ được
hiển thị.Mục đích của server dàn dựng là để chuyển dữ liệu càng
nhanh càng tốt để tránh những ảnh hưởng không tốt.
• Khai triển
Đây là giai đoạn đưa nội dung ra công chúng thủ tục triển khai khá
phức tạp phụ thuộc vào server ta có cho phép sự truy cập 24/7 hay
không.
• Bảo trì
Đây là giai đoạn cập nhật thông tin bổ xung,hoặc thông tin
mới,chỉnh sửa lỗi phát sinh.
• Lưu trữ:
Khi một nội dung đó quá thời hạn hiển thị thì nó được lưu trữ.Lưu
trữ không có nghĩa ló người dùng không thể truy cập được.Mà thông
tin người dùng vẫn có thể truy cập thông qua chức năng tìm kiếm.
• Xóa bỏ
Khi một nội dung đó quá lỗi thời quá hạn và không thể update được
nữa thì thành phần nội dung này có thể được xóa bỏ.Tuy nhiên có
thể xóa và lưu vào thựng rác như vậy khi cần ta vẫn có thể khôi phục
lại được,hoặc cũng có thể được xóa hoàn toàn.
b.Ứng dụng quản lý nội dung thông tin MMA:
MMA quản lý vòng đời đầy đủ nội dung thông tin.Ta có thể định
nghĩa nội dung thông tin là các thông tin về thành phần nội dung đặc biệt là các
thành phần nội dung được hiện thị trên các website như thế nào.
MMA khác với CMA ở chỗ MMA quản lý việc sinh ra nội dung
thông tin thay vì các thành phần nội dung. Cũng giống CMA sau mỗi giai
đoạn các nội dung thông tin ở trạng thái ổn định hơn.

Một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý nội dung là kiểm
soát phiên bản,nó quyết định chất lượng của một hệ quản lý nội dung là tốt
hay dở.
Chức năng này giúp người sử dụng lưu trữ và khôi phục các phiên
bản của trang thông tin kiểm soát phiên bản bao gồm Theo dõiphiên
bản(version tracking) và cơ chế phục hồi(rollback) và nó là nền tảng để trên
đó ứng dụng quản lý nội dung CMS và ứng dụng quản lý nội dung thông
tin MMA hoạt động.Không có chức năng kiểm soát phiên bản CMS sẽ rất
khó khăn trong việc đảm bảo tính nhất quán, toàn vẹn của nó. Quá trình
thêm ngẫu nhiên các thành phần nội dung và nội dung thông tin của các site
sẽ thay đổi làm cho các trang web thay đổi giúp người dùng không nhàm
chán khi truy cập vào.
Không có chức năng quản lý phiên bản thì các thành phần dữ liệu
hoặc nội dung rất dễ mất tính đồng bộ.Ví dụ:
Một người đưa nội dung thông tin lên,một người khác thấy một
thành phần nội dung này không hợp lý sửa đổi lại và cập nhật.Tác giả của
7
nội dung này cập nhật thành phần đó được phê duyệt lên.Tuy nhiên nếu
thành phần nội dung này có lỗi xảy ra như sai chính tả,tin tức sai lệch…Thì
quản lý phiên bản sẽ chỉ ra ai là người chỉnh sửa nội dung và còn cho phép
phục hồi lại nội dung cũ.
Có nhiều cách để kiểm soát phiên bản:
CMS có thể tích hợp các gói kiểm soát phiên bản được cung cấp bởi các
công ty thứ ba.
CMS cũng có thể xây dựng kiểm soát phiên bản trực tiếp gắn vào quy trình
quản lý nội dung.
Quản lý phiên bản mang lại rất nhiều lợi ích không chỉ đối với việc
quản lý một site có nhiều nhà thiết kế,viết phần mềm, các tác giả mà cả đối
với các trang web chỉ được quản lý bởi một người cũng mang lại lợi ích rất
to lớn

một thời điểm có thể có nhiều người được phép truy cập sửa đổi nội
dung ,miễn sao tồn tại một bản sao chính của thành phần nội dung.Mọi hoạt
động check out đều thực hiện trên thành phần được sao chộp ra và đế khi
check in nội dung thay đổi được gộp vào bản copy chính
Như vậy nhiều người có truy cập vào nội dung tại một thời điểm
chỉnh sửa các thành phần cần thiết sau đó cập nhật lại.Ví dụ hệ thống trợ
giúp trực tuyến của microsoft là một Ví dụ quản lý phiên bản phức tạp.
Như đó phân tích ở trên một hệ thống CMS chỉ cần tiếp cận quản lý phiên
bản theo hướng đơn giản là đó đủ rồi không cần thiết phải theo hướng phức
tạp.Tuy nhiên thì một số CMS vẫn để tùy chọn quản lý phiên bản phức tạp
do các CMS vẫn luôn cho phép tích hợp hệ thống quản lý phiên bản của
công ty thứ ba.
Sơ đồ hoạt động:
Tiến trình kiểm soát phiên bản và lưu trữ dữ liệu:
9
Mọi nội dung văn bản trước khi được đưa vào kho chứa sẽ được lưu
trữ dưới dạng những phần nhỏ delta.Mọi thay đổi được tạo ra giữa thời
điểm nội dung được đưa ra kho chứa với các tác động kiểm tra thời điểm
nội dung được đưa trở lại kho chứa cũng có kiểm tra.Cách lưu trữ như vậy
rất hiệu quả khi xột đến vấn đề không gian lưu trữ vì không cần lưu trữ
nhiều bản sao của nội dung ngay cả khi có nhiều phiên bản của nội dung đó
do không phải lưu trữ một bản sao của nội dung đầy đủ nên phần thông tin
nho như vậy một cách một cách logic ta có thể lấy ra phiên bản bất kì nào
ta muốn.Tất cả những mà phần mền kiểm soat phiên bản cần làm là sắp xếp
các thông tin theo đúng trình tự để có được phiên bản theo yêu cầu.
Nội dung nhị phân trước khi được đưa vào các kho chứa của các hệ CMS
cũng đôi khi sử dụng cơ chế delta,nhưng do sự phức tạp của file nhị phân
nội dung nhị phân được lưu dưới file hoàn chỉnh tương ứng với các phiên
bản mà không cần thiết một phép xử lý delta nào.
Theo dõi phiên bản(version tracking):

Cho phép sự cộng tác nhóm: Đây là vai trò quan trọng chủ yếu của quản lý
phiên bản trong CMS cung cấp một nền tảng tốt cho cộng tác làm việc theo
nhóm.Với vô số thành phần nội dung và các nội dung thông tin tạo nên
website thì không một ai có đủ khả năng để xây dựng cả một website,mà
công việc này đòi hỏi nhiều kĩ năng con người.
Nâng cao quản lý các Website:Một điều đó không được nói đến trong quá
trình nói về quản lý phiên bản và Theo dõi phiên bản.Đó là sự xếp hạng các
báo cáo mà quản lý phiên bản cung cấp.Một vài báo cáo tập chung vào một
dãy thông tin mà một người quản lý biên tập site hoặc chủ site có thể sử
dụng để quản lý nhân sự trong site.
Tăng tốc phát triển nội dung:Bên không thể bắt các tác giả và biên tập viên
làm việc nhanh hơn khả năng mà họ có nhưng có thể làm giảm thời gian
Mà nội dung ở trong tình trạng không tích cực như là chờ được biên tập
chỉnh sửa phê duyệt,kiểm thử triển khai.Công việc đó được thực hiện do
sinh tự động một sự kiện cho hệ thống,thông báo cho CMS thời khắc mà
nội dung được đưa trở lại kho chứa.Sự kiện này có thể khởi phát để sinh ra
một thư điện tử để thông báo cho người kế tiếp có trách nhiệm phê duyệt
trong quy trình quản lý nội dung.Không có hệ thống tự động này người
phát triển nội dung có thể phải bỏ ra nhiều thời gian để chờ đợi một người
trong hệ thống để làm việc tiếp với nội dung.
Nâng cáo sự giao tiếp:Theo dõi phiên bản cho phép tự động quá trình giao
tiếp giữa tất cả các bộ phận liên đới với một phần nội dung.Sự tự động tạo
ra và định tuyến thư điện tử khi tổng hợp thành phần nội dung hoặc nội
dung thông tin kết hợp với tham gia tất cả các liên lêc được yêu cầu trong
hệ thống Theo dõi phiên bản khiến chuyển giao trôi chảy giữa các trạng
thái trong vòng đời của nội dung.
Nâng cao hiệu quả của quy trình làm việc:Mỗi giai đoạn của trình làm việc
có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc khác nhau vì chức năng khóa
được cung cấp bởi hệ thống kiểm soát phiên bản. Vì chỉ có một người làm
việc với nội dung trong một thời điểm cụ thể,không có sự chồng chéo trong

chỗ.
-Khi nội dung cần phải cần phải sửa chữa cách duy nhất để biết được
cần phải sửa chữa những gì là yêu cầu người dùng đưa nội dung đó
giải thích vấn đề.
-Không có cách nào để Theo dõi các thành phần nội dung của ta.
-Và khi một nhân viên biết các quy tắc luân chuyển thành phần nôi
dung anh ta phải được đào tạo.
-Quá trình tạo ra các thành phần nội dung không bao giờ được thực
hiện như nhau hai lần.
-Không có cách nào Theo dõi được chi phí phải bỏ ra là bao nhiêu
và trong bao lâu thì sẽ xây dựng được một thành phần nội dung.
• Nếu một vài tình huống trên xảy ra thì đó là do CMS của ta chưa có một
hệ thống quy trình làm việc hoặc chưa sử dụng đúng đắn quy trình làm
việc của ta.Giải pháp rõ ràng là ta cần có một hệ thống quy trình làm
việc tốt.
• Quy trình làm việc là gì:
Để hiểu quy trình làm việc là gì, ta chia từ quy trình làm việc ra hai
thành phần work-flow.Work cho ta liên tưởng tới đến một nhóm những
người đang cố gắng hoàn thành một loại tác vụ hay hoạt động nào đó và
mỗi người thường được phân công một tác vụ hoặc một tập các tác vụ.Còn
từ flow cho ta một hoạt động thẳng tiến,ổn định mà hình ảnh đầu ta nghĩ tới
đó là luồng chảy.Như vậy work flow có thể hiểu như là một nhóm người
làm việc cùng nhau mỗi người phụ trách các thao tác và công việc của họ
cứ tiến hành xuôn xẻ để đạt được mục tiêu chung.
• Các thành phần của luồng công việc:
12
Phần lớn luồng công việc của CMS được chia thành hai thành phần:
Thành phần quản lý hành chính xác định luồng
Engine thực hiện luồng công việc cho hệ thống quản lý nội dung.
Tên các thành phần đó sẽ khác nhau ở mỗi loại CMS nhưng chức năng

luồng công việc là tạo bản nháp ban đầu cho thành phần nội dung
hay nội dung thông tin.Một phần nội dung thường được tạo ra
bằng cách nhập các thông tin thích hợp vào một mẫu web do
engine của hệ thống luồng công việc tạo ra.Thường thì mẫu web
đầu tiên mà một tác giả thấy khi tham gia luồng công việc là một
danh sách tất cả nội dung anh ta đó tạo và trạng thái của nó.Từ
đó,tác giả có thể chọn lựa hoặc tiếp tục nhập thông tin cho nội
dung dang dở hoặc tạo ra phần nội dung mới.
Phần III. Tìm hiểu PHP
1.PHP Cơ bản
• PHP là gì?
PHP là ngôn ngữ dựng để lập trình phát triển mạng và được viết bởi những
người phát triển mạng. PHP là từ viết tắt của PHP: Hypertext Preprocessor,
trước đây nó đó từng có tên là Personal Home Page Tool và nhiều người
vẫn còn nghĩ là được viết tắt từ những từ đó. Hiện tại, PHP đó ra đời phiên
bản thứ 5, được gọi là PHP5 hoặc cũng có thể gọi là PHP cũng được. PHP
là 1 ngôn ngữ server-side, mà có thể được nhúng vào trang HTML hoặc
như một chương trình mã nhị phân chuẩn (mặc dự nó chỉ được phổ biến
vào thời kì trước kia). Những sản phẩm tương tự như PHP có thể kể tới là:
Microsoft’s Active Server Pages (ASP), Macromedia’s ColdFusion và
Sun’s Java Server Pages (JSP). Một vài nhà báo kĩ thuật đó gọi PHP “the
open source ASP” bởi vì các thuộc tính của nó rất tương tự với sản phẩm
của Microsoft. Nhưng PHP lại có những đặc tính riêng biệt và độc đáo hơn
các ngôn ngữ khác.
• PHP là Free!!!
14
Bên không cần phải trả tiền cho bất cứ ai để dựng PHP (trừ tiền net và tiền
mua CD). Sẽ không có chi phí cấp giấy phép, những chi phí hỗ trợ, chi phí
bóo dưỡng…
• PHP là một dự án mã nguồn mở, PHP có thể cho bất cứ ai xem mã nguồn của

Bên cần truy cập gì trong quá trình tạo ra một ứng dụng web? LDAP,
IMAP mail server, Oracle, Informix, DB2 hoặc có thể cần truy xuất XML
hay các hàm WDDX… PHP có rất nhiều hàm để giúp bên có thể truy cập
những thứ đó một cách nhanh nhất và tối ưu nhất!
• PHP được sử dụng một cách rộng rãi
15
Tính đến tháng 3 năm 2004, PHP đó được cài đặt trên 15 triệu web sites, từ
những trang cá nhân nhỏ đến những trang của các đại gia như Google,
Yahoo!. Có rất nhiều sách, tạp chí, và web sites dạy PHP để bên có thể
khám phá nó. Cũng đó có trường, công ty hỗ trợ và huấn luyệt bên về PHP.
Tóm lại, nếu bên là người dùng PHP, bên sẽ không lẻ loi đâu.
• PHP – Nơi chứa đựng Web World
PHP là một ngôn ngữ lập trình để xây dựng web sites. Ngoài việc chương
trình PHP có thể chạy trên máy để bàn, nó còn có thể chạy được trên các
máy chủ và có thể cho người khác truy cập thông tin bằng trình duyệt trên
máy của họ. Mục này sẽ giải thích sự tương tác giữa trình duyệt và máy chủ
thông qua PHP.
• Thẻ lệnh PHP
Đây là một câu lệnh kết hợp PHP để hiển thị ngày tháng trên trang web:
Hôm nay là <?php echo date('j F Y');?>
Thẻ <?php là thẻ cho chúng ta biết phần giới hạn của mã PHP đối với
HTML, và được kết thúc bằng thẻ ?>. Trong Ví dụ này, câu lệnh echo báo
cho PHP hiển thị nội dung nào đó; lệnh thực thi (thực chất đây là một hàm
có sẵn trong PHP) tiếp theo date là định dạng hiển thị ngày tháng, bao gồm
ngày, tháng, và năm.
Các thẻ mở đầu và kết thúc của PHP được qui ước là <?php ?>. Bên
cũng có thể sử dụng những thẻ khai báo khác, Ví dụ như những thẻ sau
đây: <??<% (thẻ dạng ASP) hoặc <SCRIPT LANGUAGE="php"> (thẻ
script). Tuy nhiên, vào thời điểm này, theo qui ước của các lập trình viên
PHP thì chúng ta nên dựng <?php ?> là chuẩn nhất, và nên hạn chế dựng

• Đặt tên Biến
Làm cách nào để đặt tên biến đúng cách và dễ nhớ, thuận tiện cho việc lập
trình. Mục này sẽ hướng dẫn bên làm điều đó.
Sẽ không tốt lắm khi bên đặt những tên biến đại loại như $a, $b, hoặc
những cái gì quá ngắn gên. Và chắc rằng bên sẽ khó lòng mà nhớ được
những tên biến quá là ngắn và chả gợi một cái gì cho giá trị mà nó lưu trữ.
Một tên biến tốt theo đúng nghĩa của nó là phải thể hiện được ngắn gên và
liên quan tới giá trị mà nó lưu trữ (Ví dụ như, $price hay $name).
Phân biệt chữ hoa và thường Tên biến trong PHP có phân biệt chữ hoa và
thường. Ví dụ, $name thì khác với biến tên là $Name, và hai biến này sẽ có
thể chứa 2 giá trị khác nhau trong script.
Tên biến chỉ được khai báo với chữ cái, số, và dấu gêch dưới, và nó chỉ
được bắt đầu với chữ cái và dấu gêch dưới. Bảng 2.1 cho thấy một vài Ví
dụ về tên biến hợp lệ và không hợp lệ.
Bảng 2.1. Ví dụ về tên biến hợp lệ và không hợp lệ Tên biến hợp lệ
Tên biến không hợp lệ
$percent $pct%
$first_name $first-name
$line_2 $2nd_line
$percent
$pct%
$first_name
$first-name
$line_2
$2nd_line
17
Sử dụng dấu gêch dưới Sử dụng dấu gêch dưới là cách rất tốt để đặt tên
biến và cũng là cách để dễ phân biệt tên biến. Ví dụ $first_name và
$date_of_birth là những tên biến sử dụng dấu gêch dưới.
Một qui ước đặt tên biến khác là viết hoa những chữ cái đầu của từ, Ví dụ,

echo "Xin chào, $name";
Kết quả hiển thị Xin chào, Vietnam.
Còn trong Ví dụ sau đây, biến sẽ không được nhận ra và kết quả hiển thị là
tên của biến chứ không phải là giá trị của biến:
$name = 'Vietnam';
echo 'Xin chào, $name';
Kết quả hiển thị Xin chào, $name.
18
Lúc này, bên cần phải chỉ cho PHP biết đâu là bắt đầu và kết thúc của biến.
Bên có thể làm điều này bắt cách sử dụng dấu ngoặc mốc ({}). Sau đây là
một Ví dụ:
echo "The total weight is {$weight}lb";
Nếu bên không sử dụng dấu ngoặc mốc $weight, PHP sẽ nghĩ rằng bên đó
dựng biến $weightlb, nhưng biến này lại không tồn tại, nói đúng hơn là
không có giá trị trong script.
Bên cũng có thể làm cách khác đó là sử dụng toàn tử ghộp nối, đó là dấu
chấm, bên có thể sử dụng nó để ghộp 2 chuỗi với nhau và giữa đó là một
biến nào đó, bên dưới là Ví dụ:
echo 'The total weight is ' . $weight . 'lb';
Trong câu lệnh trên, biến $weight đó được nhận ra và kết quả sẽ là giá trị
của biến chứ không phải tên biến. Chuỗi đó được tách ra làm 3 phần, một
phần trong đó có chứa biến $weight.
Nếu $weight có giá trị là 99, câu lệnh sẽ xuất ra như sau:
The total weight is 99lb
• Kiểu Dữ liệu
Mỗi biến có giá trị và mỗi giá trị của biến đều có kiểu riêng của nó và kiểu
dữ liệu đó định nghĩa cho biến theo kiểu nào đó. Các kiểu dữ liệu cơ bản
trong PHP được liệt kệ trong Bảng 2.2.
Kiểu Dữ liệu Chú thích
Boolean A truth value; trả về giá trị TRUE hoặc FALSE.

sau của chuỗi, vì vậy khi xuất ra, giá trị sẽ là 29.
Phân tích Kiểu Dữ liệu Trong phần này, bên sẽ không sử dụng settype và
gettype thường xuyên bởi vì sẽ hiếm khi bên cần thay dổi kiểu dữ liệu của
biến.
• Kiểu "Ngẫu hứng"
éôi khi PHP sẽ thực hiện chuyển đổi kiểu dữ liệu nào đó nếu giá trị đó là một
kiểu đặc biệt. Đó được xem là kiểu ngẫu hứng.
Ví dụ, thêm toán tử cộng vào giữa 2 số. Giá trị kiểu chuỗi sẽ được chuyển đổi
thành double hay integer trước khi toán tử được thực thi, vì vậy mà kết quả sẽ
cho ra là một giá trị integer:
echo 100 + "10 inches";
Biểu thức này cộng 100 và 10, và kết quả là 110.
Điều tương tự xảy ra khi một toán tử kiểu chuỗi được sử dụng với dữ liệu số.
Nếu bên thực hiện chuỗi toán tử với kiểu số, giá trị số sẽ được chuyển tới chuỗi
đầu tiên.
Kết quả của một thao tác chuỗi sẽ luôn là kiểu dữ liệu chuỗi, mặc dự ta trông
thấy nó là một số nào đó. Ví dụ sau đây sẽ cho kết quả là 69, nhưng gettype
cho thấy rằng nội dung biến $number là một giá trị chuỗi:
$number = 6 . 9;
echo $number;
echo gettype(6 . 9);
Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về cách dựng giữa chuỗi và số trong Bài học 5,
"Làm việc với Số," và 6, "Làm việc với Chuỗi."
• Biến của Biến
éầy là cách để chúng ta cất giữ giá trị của một biến tới biến khác bằng tên
của biến đó. Nếu bên cảm thấy khó hiểu, có thể xem qua thử Ví dụ sau:
$my_age = 17;
$varname = "my_age";
echo "Giá trị của biến $varname là ${$varname}";
Kết quả xuất ra sẽ là

Trở lại Ví dụ, Ví dụ sẽ thực thi giá trị là TRUE vì 5 nhỏ hơn 10, vì vậy câu
lệnh trong dấu ngoặc mốc sẽ được thực thi, và tương ứng sẽ có kết quả hiển
thị ra trên trình duyệt. Bây giờ, nếu thay đổi giá trị của biến $number thành
10 hoặc lớn hơn trong script, đều kiện sẽ có giá trị sai, và sẽ không có kết quả
được hiển thị.
Dấu ngoặc mốc trong PHP sử dụng để nhóm các câu lệnh lại. Trong một câu
lệnh điều kiện, các câu lệnh nằm trong dấu ngoặc mốc sẽ được thực thi khi
kết quả trả về đúng với điều kiện đó định.
Dấu ngoặc và ngoặc mốc Bên sẽ gặp 3 kiểu dấu ngoặc khi biết PHP scripts.
Thường sử dụng cho các kiểu dấu ngoặc là dấu ngoặc đơn (()), ngoặc mốc
({}), và ngoặc vuông ([]).
Dấu ngoặc mốc không yêu cầu sau một câu lệnh if. Nếu chúng bị bỏ xót, biểu
thức sẽ được thực hiện nếu trả về giá trị đúng. Bất kỳ câu lệnh nào sau đó đều
được thực hiện mà không chú ý đến trạng thái của câu lệnh điều kiện.
21
• Toán Tử Điều Kiện
PHP cho phép bên thực hiện một số so sánh khác nhau, để kiểm tra sự cần
bằng hoặc cần xứng giữa 2 giá trị. Bên có thể sử dụng các Toán tử Điều kiện
trong PHP, nó được liệt kê trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Toán tử Điều kiện trong PHP Toán tử
Toán tử Tên Chú thích
! a
NOT đúng nếu a không đúng (không bằng a)
a && b
AND đúng nếu cả a và b là đúng
a || b
OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng
a and b
AND đúng nếu cả a và b là đúng
a xor b

$number = 8;
if ($number >= 5 and $number <= 10) {
echo "$number is between five and ten";
}
Từ khóa and là một toán tử logical, mà nó biểu thị rằng điều kiện sẽ đúng
chỉ khi biểu thức kia cũng có giá trị đúng. Đó là, $number phải vừa lớn hơn
hoặc bằng 5 và cũng phải nhỏ hơn hoặc bằng 10.
Bảng 3.2 liệt kê các toán tử logical mà bên có thể sử dụng trong PHP.
Toán tử Tên Chú thích
! a
NOT đúng nếu a không đúng (không bằng a)
a && b
AND đúng nếu cả a và b là đúng
a || b
OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng
a and b
AND đúng nếu cả a và b là đúng
a xor b
XOR đúng nếu a hoặc b là đúng, nhưng không phải cả hai
a or b
OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng
Bảng 3.2. Toán Tử Logical trong PHP Toán tử
Chú thích
! a
NOT
đúng nếu a không đúng (không bằng a)
a && b
AND
đúng nếu cả a và b là đúng
a || b

báo nói rằng nó nhỏ hoặc lớn hơn 10:
$number = 16;
if ($number < 10) {
echo "$number is less than ten";
}
else {
echo "$number is more than ten";
}
Mệnh đề else đưa ra nhưng cơ chế cho câu lệnh điều kiện khi điều kiện trả
về giá trị sai. Để thêm nhiều nhánh hơn vào câu lệnh điều kiện, từ khóa
elseif có thể sử dụng để thêm vào một điều kiện nữa mà nó sẽ kiểm tra nếu
điều kiện ở trước trả về giá trị sai.
Ví dụ sau đây sử dụng hàm date để tìm giờ hiện tại trong ngày date("H")
cho một số giữa 0 và 23 mà nó mô tả trên đồng hồ và hiển thị câu chào
thích hợp:
$hour = date("H");
if ($hour < 12) {
echo "Good morning";
}
elseif ($hour < 17) {
echo "Good afternoon";
}
else {
echo "Good evening";
24
}
Mã sẽ hiển thị Good morning nếu giờ máy chủ ở giữa mười hai giờ đêm và
11:59, Good afternoon từ buổi trưa đến 4:59 p.m., và Good evening từ 5
p.m. trở đi.
Ghi chú rằng điều kiện elseif chỉ kiểm tra khi $hour nhỏ hơn 17 (5 p.m.).

bên có thể là Adolf hoặc Saddam. Nếu bên có tên khác thì sẽ hiển thị không
biết bên là ai.
Ở đây có thể có một số câu lệnh case có trước PHP code mà nó liên quan.
Nếu giá trị được kiểm tra bởi câu lệnh switch (trong trường hợp này là
$name) phự hợp với giá trị đó, mã PHP ở phía sau sẽ được thực thi khi đến
câu lệnh break thì dừng lại.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status