TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ VÀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
I. DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH
1. Khái niệm du lịch
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được latinh hoá thành tornus và sau đó thành touriste (tiếng
Pháp), tourism (tiếng Anh). Theo Robert Lanquar từ touriste lần đầu tiên xuất
hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ touriste được dịch thông qua tiếng Hán. Du
nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải.
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt nó mang ý
nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi,
giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt
động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra.
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên
quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình
độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự
nhiên, kinh tế và văn hoá (I.I Pirogionic - 1985).
2. Vai trò của du lịch
- Giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho du khách
Du lịch còn đáp ứng được nhu cầu về vui chơi, giải trí, tìm hiểu thiên
nhiên, xã hội, nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của con người.
Nhiều công trình nghiên cứu Y – Sinh học cho thấy: nhờ chế độ nghỉ ngơi và du
lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh hô hấp giảm 40%,
bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh về đường tiêu hoá
1
giảm 20% … Đồng thời, du lịch là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hoá,
tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, phục hồi các khu phố cổ,
văn hoá, du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao…
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch trong nước, du lịch quốc tế…
- Theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi.
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân.
- Theo phương tiện sử dụng: du lịch ô tô, du lịch xe đạp, du lịch máy bay,
du lịch tàu thuỷ…
II. TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế
Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ là sự sắp
xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ
qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các
nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo quan điểm của các trường phái địa lý Phương Tây, tổ chức lãnh thổ
(còn gọi là tổ chức không gian kinh tế xã hội) được coi là sự lựa chọn về nghệ
thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp
lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành hoặc giữa các vùng trong cùng
một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra các giá trị mới.
Theo quan điểm này, về mặt địa lý, tổ chức không gian kinh tế xã hội được xem
như là một hoạt động có tính chất định hướng tới sự công bằng về không gian
giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải
quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của
con người.
Như vậy tổ chức lãnh thổ là sự sắp xếp các đối tượng địa lý trên một lãnh
thổ nhất định theo yêu cẩu phát triển kinh tế xã hội do chủ thể quản lý phát triển
vùng tổ chức (đó chính là cơ quan quản lý nhà nước được quy định trong hiến
phát hiện hành). Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội có thể theo các
vùng lớn hoặc theo các khu vực đặc biệt mà các lãnh thổ đó là đối tượng trọng
điểm đầu tư. Tổ chức lãnh thổ theo các khu vực đặc biệt có các hình thức chủ
3
thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên
quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn
nhân), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội,
môi trường) cao nhất
3. Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch
Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch và xây dựng các hình thức tổ
chức theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có điệu kiện để sử dụng
hợp lí và khai thác có hiệu quả các nguồn lực vốn có của cả nước nói chung và
từng địa phương nói riêng. Sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
phù hợp chính là chìa khoá để sử dụng hợp lí và hiệu quả hơn các nguồn du lịch,
đặc biệt là tài nguyên du lịch - điều kiện cần thiết để phát triển du lịch.
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tạo điều kịên đẩy mạnh chuyên môn
hoá du lịch. Khi nền sản xuất đã phát triển, nhu cầu du lịch càng cao thì sự
chuyên môn hoá du lịch càng sâu sắc, thông thường ngành du lịch có 4 hướng
chuyên môn hoá sau:
Chuyên môn hoá theo loại hình dịch vụ.
Chuyên môn hoá theo du lịch.
5
Công
nghiệp
Tổ chức lãnh thổ xã hội
Tổ chức lãnh thổ
nền sản xuất xã hội
Tổ chức lãnh thổ
địa bàn cư trú
Nông
nghiệp
…
Du
lịch
cung cấp một nền tảng thống nhất cho sự xác nhận của các chính sách du lịch.
Theo Clare A.Gunn (1993) có 4 mục tiêu cơ bản khi tiến hành công tác tổ chức
lãnh thổ du lịch:
+ Đáp ứng sự hài lòng và thoả mãn của khách du lịch.
+ Đạt được những thành quả về kinh doanh và kinh tế.
6
+ Bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch.
+ Sự thống nhất ở vùng du lịch và cộng đồng.
Các mục tiêu trên phải được xem như là những động cơ thúc đẩy đối với
tất cả những nhà nghiên cứu, các cơ quan hữu quan tham gia vào dự án phát
triển du lịch có tính chiến lược và đối sách cần thiết nhằm thực hiện được chúng,
đối với cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
1. Tài nguyên du lịch
1.1. Quan niệm về tài nguyên du lịch
Về thực chất tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử
cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp
hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển thể
lực, trí lực cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người.
Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử bởi vì lượng thay đổi cơ cấu và
nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lich những thành phần mới mang tính chất
tự nhiên cũng như mang tính chất văn hóa – xã hội. Nó cũng là một phậm trù
động vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tùy thuộc vào sự tiến bộ kĩ thuật,
sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý về mức độ nghiên cứu. Do vậy khi đánh giá
tài nguyên du lịch và xác định hướng khai thác, cần phải tính đến những thay
đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế, kỹ thuật để khai thác
các loại tài nguyên du lịch mới.
Từ những điều trình bầy trên đây, có thể xác định khái niệm tài nguyên du
lịch như sau:
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành
hình ven biển.
+ Địa hình karstơ là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của
nước trong các đá dễ hoà tan (đá vôi, đôlômit, thạch cao…). ở nước ta chủ yếu
là đá vôi. Một trong những dạng địa hình karstơ được quan tâm nhất đối với du
lịch là các hang động karstơ. Trên thế giới có khoảng 650 hang động với 25
8
hang dài nhất, 25 hang sâu nhất. Điển hình có: Hang Sistema de Trave (Tây Ban
Nha) sâu 1380 m, hang Flint Mammauth Cave System (Hoa Kì) dài 530 km,
hang Optimistices Kaya (Ucraina)…
Ở nước ta, hang động karstơ tuy không sâu, không dài, nhưng phong cảnh
rất đẹp. Động Phong Nha (Bố Trạch - Quảng Bình) dài gần 8 km, cao 10 m là
hang nước đẹp vào loại bậc nhất thế giới. Ngoài ra phải kể đến Bích động (Ninh
Bình), Hương Tích (Hà Tây), hang Bồ Nâu, hang Luồn (Quảng Ninh), vịnh Hạ
Long…
+ Địa hình ven biển có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch, có thể khai thác
để phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ mát, tắm biển, thể thao
dưới nước, tham quan hệ sinh thái đảo ven bờ… Để đánh giá mức độ thuận lợi
cho du lịch của các bãi biển, có nhiều tiêu chí như: dài, rộng, độ mịn của cát, độ
dốc, độ mặn, độ trong của nước… Du lịch biển là loại hình thu hút du khách
đông nhất. ë Việt Nam những bãi tắp đẹp nhất kéo dài liên lục từ Đại Lãnh đến
Nha Trang. Đây là tiềm năng to lớn để phát triển du lịch biển có khả năng cạnh
tranh với các nước trong du lịch.
b. Khí hậu
Khí hậu cũng là một tài nguyên du lịch khá quan trọng. Trong đó hai yếu
tố của khí hậu: nhiệt độ và độ ẩm không khí là quan trọng nhất. Ngoài ra gió, áp
suất khí quyển, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt có
tác động đến tổ chức du lịch.
Đặc biệt là sự phân mùa của khí hậu làm cho du lịch có tính mùa rõ rệt.
Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của
các yếu tố khí hậu. Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu hoạt động du lịch có thể
- Nhóm nước khoáng silic: có tác dụng chữa một số bệnh về đường tiêu
hóa, thần kinh, thấp khớp, phụ khoa. Ở nước ta có nước khoáng Kim Bôi (Hòa
Bình), Hội Vân (Bình Định)
- Nhóm nước khoáng Brom - iot - bo: Có tác dụng chữa bệnh ngoài da,
thần kinh, phụ khoa…Việt Nam có nước khoáng Quang Hanh (Cẩm Phả -
Quảng Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng).
- Ngoài ra còn một số nhóm khác: sunfuahydro, asen - fluo, liti…cũng có
giá trị với du lịch - nghỉ ngơi, chữa bệnh.
10
d. Sinh vật
Tài nguyên sinh vật là loại hình du lịch sinh thái, trong đó các khu bảo tồn
thiên nhiên có vai trò quan trọng. Có những hệ sinh thái, sinh vật phục vụ cho
tham quan du lịch như: các thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình (rừng
nhiệt đới ẩm thường xanh, rừng ngập mặn…) có các loài động vật quý hiếm
(chim, thú…), các loài đặc sản phục vụ cho ẩm thực hoặc các loài phổ biến có
thể săn bắn… Ngoài ra, sinh vật còn phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học
như ở những khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia. ở nước ta, điển hình có
rừng Cúc Phương, Cát Bà, Cát Tiên, Kẻ Bàng, Bà Nà…
Tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất tổng hợp và giá trị cao trong du
lịch là các Di sản thiên nhiên thế giới. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới
là Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình).
Ngày nay thị hiếu về du lịch ngày càng đa dạng, con người hướng về
thiên nhiên nhiều hơn, thích du lịch sinh thái hơn. Do vậy tài nguyên du lịch
sinh vật có ý nghĩa rất quan trọng.
1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.2.1. Khái niệm
Tài nguyên du lịch nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con
người tạo ra trong quá trình phát triển. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm
truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch
sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo
xã hội”.
“ Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên hoặc có những
công trình cổ nổi tiếng”.
Do đó:
Chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật mới
được coi là những di tích lịch sử văn hoá.
Cần đánh giá đúng giá trị của các di tích theo các thang giá trị khác
nhau, những di tích cũng được phân thành những cấp khác nhau: các di tích cấp
12
quốc gia và cấp địa phương, những di tích có giá trị đặc biệt được coi là di sản
thế giới.
- Các di tích lịch sử - văn hoá nói chung được phân chia thành:
+ Di tích khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa,
thuộc về thời kì lịch sử xa xưa.
+ Di tích lịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá trình phát triển
của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc
học, di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công
chống xâm lược, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội
ác của các thế lực phản động.
+ Di tích văn hoá nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến
trúc, có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Nó chứa đựng giá trị
kiến trúc và giá trị văn hoá tinh thần.
Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh
Bình), toà thánh Tây Ninh.
+ Các loại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công
trình mang tính chất văn hóa - lịch sử. Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên
mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc.
+ Các bảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hoá dân tộc,
truyền thụ tri thức chấn hưng tinh hoa truyền thống.
- Các di tích nhân văn có giá trị đặc biệt được xếp vào di sản của thế giới:
nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề
dệt… mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo.
(1). Nghề chạm khắc đá
+ Là một trong những nghề có lịch sử lâu đời nhất thế giới
+ Thời kỳ đồ đá, con người đã chế tác ra những vòng đeo tay, hạt chuỗi,
khuyên tai, tượng bằng đá.
+ Tại Việt Nam đã tìm thấy di chỉ xưởng chế tác đá Bái Tự (Bắc Ninh),
Tràng Kênh (Hải Phòng), Bái Tê (Thanh Hoá), Kinh Chủ (Hải Dương), Ngũ
Hành Sơn (Đà Nẵng).
14
Ngoài ra còn rải rác ở nhiều nơi khác như Ninh Bình, Thừa Thiên Huế,
Biên Hoà.
(2). Nghề đúc đồng
Nghề đúc đồng của nước ta xuất hiện rất sớm - từ thời kỳ dựng nước. Những
sản phẩm được đúc từ đồng thau của nền văn hoá Đông Sơn như trống đồng đã
chứng tỏ một trình độ kỹ thuật điêu luyện, một tư duy nghệ thuật phong phú.
Nghề đúc đồng phát triển nôit tiếng nhất là ở làng Ngũ Xá (Hà Nội ), làng
Trà Đúc (Thanh Hoá) và làng Điện Phương (Quảng Nam).
(3) Nghề kim hoàn (còn gọi là nghề mỹ nghệ vàng bạc)
Nước ta có nhiều làng làm nghề kim hoàn, như làng Đình Công (Thanh
Trì – Hà Nội) và được coi là cái nôi của nghề kim hoàn ở nước ta.
(4) Nghề gốm
Nước ta là một trong những nơi có kỹ nghệ gồm phát triển sớm nhất ở
châu Á. Nhiều địa phương đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước về kỹ thuật làm
gốm thủ công thô sơ rất độc đáo có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách như:
Hương Canh (Vĩnh Phúc), Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Ninh), Lò Chum
(Thanh Hoá), Phương Tích (Huế), Biên Hoà (Đồng Nai).
(5) Nghề mộc
Nghề mộc dựng đình chùa, đền miếu, nổi tiếng có thôn Cúc Bồ, xã Kiến
Quốc tỉnh Hải Dương.
nơi bí ẩn, những nơi chưa được khám phá. Nhưng về nhiều mặt, các dân tộc vẫn
còn xa lạ với nhau. Đó chính là sức hút trong du lịch dân tộc học.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục
lạ về cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét
truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…
Trên thế giới, mỗi dân tộc đều thể hiện những sắc thái riêng của mình để
thu hút khách du lịch. Người Tây Ban Nha ở vùng biển Địa Trung Hải với nền
văn hóa Phlamango và truyền thống đấu bò là đối tượng hấp dẫn khách du lchj ở
Châu Âu. Các đất nước Italya, Hy lạp là những cái nôi của nền văn minh Châu
16
Âu. Kho tàng văn hóa phong phú, độc đáo là điều kiện thuận lợi cho ngành du
lịch phát triển.
Việt Nam với 54 dân tộc vẫn giữ được những phong tục tập quán, hoạt
động văn hoá văn nghệ đặc sắc, những làng nghề truyền thống với những sản
phẩm nổi tiếng mang tính chất nghệ thuật cao, đặc biệt là các nghề trạm khắc,
đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm sứ Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ
thuật cao về chế biến và nấu nướng.
d. Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng du lịch văn hoá - thể thao thường tập trung ở các thủ đô và
các thành phố lớn, đó là trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học,
các thư viện lớn và nổi tiếng, các trung tâm thường xuyên diễn ra liên hoan âm
nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao…
Đối tượng văn hoá - thể thao thu hút không chỉ khách tham quan nghiên
cứu mà còn lôi cuốn nhiều khách du lịch với mục đích khác. Khách du lịch có
trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hoá
của đất nước mà họ đến tham quan. Do vậy, tất cả các thành phố có các đối
tượng văn hoá, hoặc tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao đều trở thành
những trung tâm du lịch văn hoá.
2.6. Nhân tố chính trị
Bất cứ một sự xáo động chính trị, xã hội nào dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh
cho lượng khách du lịch giảm một cách đáng kể. Ngành du lịch của Thái Lan
chiếm 5% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra 2 triệu việc làm, chiếm tới 7% trong
tổng số lực lượng lao động của cả nước. Theo chủ tịch Hiệp hội các công ty du
lịch Thái Lan Apichart Sankary, nhiều đoàn khách đã hủy chuyến đến Thái
trong khi những du khách đang ở Bangkok hối hả rời khỏi nơi này. Ông
Kongkrit Hiranyakit, chủ tịch Hội đồng du lịch Thái Lan, khẳng định tình hình
căng thẳng trong những ngày qua cùng với việc hai sân bay đóng cửa trước đây
đã khiến doanh thu từ du lịch sụt giảm 1/3, tương đương 4,2 tỉ USD. Tình trạng
này có thể kéo theo 200.000 người trong lĩnh vực khách sạn bị mất việc và các
công ty kinh doanh liên quan đến ngành du lịch - lĩnh vực tạo công ăn việc làm
cho khoảng 2 triệu người Thái - bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
18
Như vậy, rõ ràng nhân tố chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác
dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch và đến lượt mình du lịch
thực sự là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, hiểu hơn về giá
trị văn hóa, giúp các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Và hơn hết, thông qua hoạt
động du lịch quốc tế con người thể hiện khát vọng tạo lập và chung sống trong
hòa bình.
2.7. Đường lối, chính sách
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn
chiếm vị trí quan trọng trên quy mô toàn cầu và ở nhiều quốc gia. Thực tế cho
thấy, ở mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du
lịch sẵn có, nhân tố quyết định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng
đắn, phù hợp cho sự phát triển du lịch. Đường lối chính sách ảnh hưởng mang
tính quyết định đến sự phát triển du lịch một quốc gia hoặc một đơn vị hành
chính cụ thể. Ở các nước có ngành du lịch phát triển đứng hàng đầu thế giới là
những nước có nhiều chính sách quan tâm đầu tư phát triển du lịch, có hệ thống
văn bản pháp luật, quy phạm hoàn thiện làm hành lang pháp lý cũng như sự điều
chỉnh linh hoạt để thích ứng trong những điều kiện, hoàn cảnh mới là nhân tố
*Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển và phân vùng du lịch
trên cả hai phương diện: số lượng, chất lượng của các loại hình và phương tiện
giao thông vận tải. Do đặc thù của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con
người trên một khoảng cách nhất định vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào giao thông.
Chiều dài của mạng lưới giao thông vận tải chứng tỏ mức độ dễ hay khó trong
việc tiếp cận điểm du lịch, số lượng phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả
năng vận chuyển hành khách. Số lượng loại hình vận chuyển gia tăng sẽ làm cho
hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và linh hoạt, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu
cầu của du khách. Về mặt chất lượng vận chuyển cần xét đến 4 khía cạnh là tốc
độ, an toàn, tiện nghi và giá cả.
- Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời
gian đi lại và kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch.
20
- Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng
tính an toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều
người tham gia vào hoạt động du lịch.
- Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng
hành khách.
- Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lý thì
nhiều tầng lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch.
Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có
những ảnh hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du
khách. Đặc biệt sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn
trong sự phát triển du lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế.
* Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt
động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong
nước và quốc tế. Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm
nhận việc chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện
các mối giao lưu giữa các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trong
việc quảng bá du lịch. Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá
ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện
cho du khách.
* Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn
bộ hệ thống CSVCKTDL gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn
nghỉ và giải trí cho khách du lịch. Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà
hàng, khách sạn…
* Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của
khách du lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng
thực phẩm và các hàng hóa khác.
* Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm
tăng hiệu quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú
thêm các loại hình hoạt động du lịch.
* Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp
dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch.
22
* Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch
nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng
như giúp họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình. Đó là các trung tâm văn
hóa- thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát…
* Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp
cứu, hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt
để hơn tài nguyên du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại
điểm du lịch.
Như vậy, quá trình phát triển của ngành du lịch nói chung và tổ chức lãnh
thổ du lịch nói riêng chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố khác nhau. Du
lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi
nhất định. Trong số các nhân tố trên có những nhân tố tác động trực tiếp đến
việc hình thành nhu cầu du lịch và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch,
bên cạnh đó có những nhân tố mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời
sống xã hội và cũng có những điều kiện gắn liền với đặc điểm của từng khu vực
nhân lực hợp thành một hệ thống bổ trợ. Trong hệ thống bổ trợ này, Chính phủ
là một đơn vị đặc biệt quan trọng. Ngoài ra cơ cấu giáo dục cũng là một bộ phận
quan trọng. Hệ thống bổ trợ không tồn tại độc lập mà phải dựa vào ba hệ thống
kia, cùng ba hệ thống kia đồng thời phát huy tác dụng”.
24
Như vậy, hai quan niệm trên có sự tương đồng về nội hàm, phản ánh đầy
đủ đặc điểm và các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của hệ thống lãnh thổ du
lịch, đồng thời cũng gần gũi với định nghĩa được đưa ra trong Từ điển Bách
khoa Địa lý- các khái niệm và thuật ngữ. Theo đó: “Hệ thống lãnh thổ du lịch
thường được coi như là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan
hệ qua lại mật thiết với nhau, đó là: nhóm người đi du lịch, các tổng thể tự
nhiên, văn hóa DL, văn hóa lịch sử, các công trình kỹ thuật, đội ngũ cán bộ công
nhân viên và bộ phận tổ chức quản lí. Nét đặc trưng quan trọng của hệ thống
lãnh thổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ”.
b, Đặc điểm
- Đặc tính về chức năng và lãnh thổ: hệ thống lãnh thổ địa lý như một
thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ có sự lựa chọn các chắc năng nhất
định. Một trong những chức năng quan trọng được lựa chọn là phục hồi và tái
sản xuất sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người.
- Là hệ thống mở phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài.
- Là một dạng đặc biệt của địa hệ thống mang tính chất hỗn hợp, nghĩa là
có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều loại
quy luật cơ bản
2.1.2. Cấu trúc bên trong của hệ thống lãnh thổ du lịch
a, Cấu trúc
Xét trên quan điểm hệ thống, HTLTDL được cấu thành bởi nhiều
phân hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là
các phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hoá; công trình kỹ
thuật, cán bộ phục vụ và điều khiển.
+ Phân hệ khách du lịch: đóng vai trò trung tâm, quyết định những yêu