Một số vấn đề về phương hướng và nội dung cơ
bản của DỰ ÁN LUẬT PHÁ SẢN
NGÔ CƯỜNG
Phó Viện trưởng Viện khoa học xét xử - TANDTC
Luật phá sản doanh nghiệp (LPSDN) được Quốc hội
khóa IX kỳ họp thứ tư, thông qua ngày 30-12-1993,
có hiệu lực từ ngày 1-7-1994. Trong khoảng thời gian
hơn 7 năm qua, kể từ ngày LPSDN có hiệu lực, số
lượng các vụ phá sản được Tòa án các cấp giải quyết
chưa đầy 40 vụ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng có số lượng rất khiêm tốn các vụ phá sản được
Tòa án giải quyết, trong đó có nguyên nhân do các
quy định của LPSDN không phù hợp với thực tiễn.
Do đó, LPSDN cần phải được sửa đổi sao cho các
quy định của Luật này phù hợp với thực tiễn, góp
phần điều chỉnh việc cạnh tranh và khuyến khích các
hoạt động kinh tế, qua đó góp phần khuyến khích sự
phát triển của nền kinh tế.
I. Một số vấn đề có tính chất định hướng cho Dự án
Luật phá sản
1. Về mục tiêu của Luật phá sản:
Như chúng ta đều biết, trên thế giới, Luật phá sản
(LPS) có hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ nhất
có mục tiêu là “hướng vào con nợ” tập trung vào việc
cứu các công ty thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài
chính, bảo đảm việc làm cho người lao động, thông
qua việc tổ chức lại công ty. Xu hướng thứ hai có
mục tiêu “hướng vào chủ nợ” bằng cách tạo điều kiện
loại bỏ những doanh nghiệp quá yếu kém. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây dường như là đã có sự kết
hợp cả hai mục tiêu này theo hướng nghiêng về mục
Luật dường như chỉ tập trung vào khu vực doanh
nghiệp Nhà nước nhằm sắp xếp lại khu vực kinh tế
này. Do đó, có thể thấy, mặc dù Luật đã kết hợp cả
mục tiêu “hướng vào con nợ” và mục tiêu “hướng
vào chủ nợ”, nhưng đã có sự lẫn lộn giữa hai mục
tiêu này, dẫn đến Luật đã nghiêng về hướng nhằm
thanh toán con nợ (tạo điều kiện cho việc chấm dứt
hoạt động của một doanh nghiệp đang ở tình trạng đã
“chết” nhưng không được “chôn”).
Khắc phục tình trạng này, Dự án LPS nên xác định rõ
mục tiêu “hướng vào con nợ”, trong đó kết hợp hài
hòa giữa thủ tục thanh toán và thủ tục phục hồi, bảo
đảm đáp ứng được các yêu cầu đối với một LPS hiện
đại.
2. Về phạm vi điều chỉnh của Luật phá sản:
Ngày nay, LPS của các nước trên thế giới không
những chỉ áp dụng cho các thương nhân (bao gồm
các doanh nghiệp, các công ty và cá nhân kinh
doanh) mà còn được áp dụng cho cả những cá nhân
không kinh doanh (phá sản tiêu dùng) và những pháp
nhân hoạt động có tính công ích, như: trường học,
bệnh viện v.v…; và được áp dụng cho cả những tổ
chức lớn như: hội tôn giáo, hội nghề nghiệp.
Như đã nói ở trên, do bối cảnh ra đời mà LPSDN
Việt Nam năm 1993 chỉ được áp dụng “cho các
doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu”. Vấn đề
được đặt ra là LPS mới có nên được xây dựng theo
hướng áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội như
xu thế của các LPS trên thế giới hay không. Về vấn
đề này, ý kiến chung cho rằng trong tình hình kinh tế
LPS cần phải bảo đảm những yếu tố sau đây:
a- Quy định về bắt đầu thủ tục phá sản một cách đơn
giản, dễ tiếp cận;
b- Đình chỉ những vụ kiện cá nhân do các chủ nợ tiến
hành nhằm thỏa mãn những khiếu nại của mình
chống lại con nợ khi thủ tục phá sản được bắt đầu,
nhằm để bảo toàn tài sản của con nợ và để đem lại cơ
hội phục hồi hoặc thanh toán con nợ một cách có trật
tự nhằm tối đa hóa việc thu hồi tài sản;
c- Những quy định về quyền từ chối hay yêu cầu tiếp
tục thi hành những hợp đồng “đang có hiệu lực thi
hành”, nghĩa là những hợp đồng mà con nợ và chủ nợ
chưa thực hiện hoặc mới thực hiện chưa đáng kể,
nhằm giải phóng con nợ khỏi những hợp đồng bất
lợi;
d- Những quy định về quyền phủ nhận để chấm dứt
những chuyển nhượng không công bằng có hại cho
các chủ nợ và để khôi phục sự công bằng giữa các
chủ nợ trong tố tụng phá sản và qua đó khuyến khích
các hoạt động kinh doanh đúng trước khi rơi vào tình
trạng phá sản;
e- Giải phóng những nghĩa vụ có từ trước khi phá sản
cho những con nợ trung thực.
II. Một số nội dung cơ bản của Dự án Luật phá sản
1. Về tiêu chí xác định “vỡ nợ”:
Điều 2 LPSDN năm 1993 quy định: “Doanh nghiệp
đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp
khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh
sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết
mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”, và theo
Có thể thấy LPS của Pháp, Nhật, Mỹ, Đức đều xác
định tiêu chí “vỡ nợ” (lâm vào tình trạng phá sản) là
khi con nợ ngừng thanh toán. Dự án LPS Việt Nam
nên đi theo hướng này. Vấn đề là ở chỗ cần xác định
rõ bản chất của việc ngừng thanh toán những món nợ
đến hạn, bởi vì những thất bại chỉ một phần hoặc tạm
thời là chưa đủ để bắt đầu một vụ kiện.
Một vấn đề cần phải xem xét là tiêu chí “vỡ nợ” (tiêu
chí để khởi kiện) có là như nhau trong trường hợp
con nợ nộp đơn và chủ nợ nộp đơn hay không? Nếu
xem xét Điều 7 và Điều 9 LPSDN thì tiêu chí này là
như nhau. Tuy nhiên, kinh nghiệm ở một số nước
trên thế giới cho thấy trong trường hợp con nợ nộp
đơn, Tòa án thường yêu cầu ít chứng cứ hơn so với
trường hợp chủ nợ nộp đơn (thí dụ: Nhật, Đức, Mỹ,
Bungari). Đức, Nhật và Bungari còn cho phép con nợ
nộp đơn cả trong trường hợp dự tính rằng sẽ có khả
năng không thanh toán được những món nợ đến hạn
trong tương lai. Đây là một kinh nghiệm nên được
cân nhắc trong quá trình xây dựng Dự án LPS.
Một vấn đề nữa là tiêu chí “vỡ nợ” có cùng một tiêu
chuẩn cho cả thủ tục phục hồi và thủ tục thanh toán
hay không? Nhiều quốc gia sử dụng cùng một tiêu
chuẩn cho cả hai thủ tục này (Ví dụ: Mỹ, Pháp, Đức,
Bungari và Rumani).
2. Quyền và nghĩa vụ khởi kiện:
Vấn đề đặt ra là Dự án LPS cần quy định những ai có
quyền và ai có nghĩa vụ phải nộp đơn để mở thủ tục
phá sản?
LPS của nhiều quốc gia đều quy định việc khởi kiện
khoảng thời gian giữa ngày nộp đơn và ngày mở thủ
tục có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều 16 LPSDN
năm 1993 có quy định “áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong trường hợp cần thiết theo quy định của
pháp luật để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp mắc
nợ”. Tuy nhiên, quy định này lại chỉ được thực hiện
sau khi Tòa án đã mở thủ tục. Đây là điểm cần sửa
đổi theo hướng: áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
sớm ngay sau khi con nợ hoặc chủ nợ nộp đơn khởi
kiện; đồng thời cũng cần quy định rõ nội dung của
những biện pháp khẩn cấp tạm thời (như quy định
nhằm ngăn chặn con nợ định đoạt tài sản của mình,
đình chỉ việc thi hành một bản án đã có hiệu lực đối
với con nợ, không cho phép bất kỳ chủ nợ nào tiếp
tục những việc kiện riêng rẽ đối với con nợ).
4. Quyền phủ nhận:
Quyền phủ nhận là một chế định quan trọng của LPS
hiện đại ở các nước châu Âu, Nhật Bản và Mỹ. Nó
nhằm thực hiện mục đích bảo toàn một cách tối đa tài
sản của con nợ, bảo đảm sự công bằng giữa các chủ
nợ.
Điều 45 LPSDN năm 1993 quy định: “1. Chấp hành
viên đề nghị Tòa án ra quyết định thu hồi lại tài sản,
giá trị tài sản của doanh nghiệp hay phần chênh lệch
giá trị tài sản của doanh nghiệp nếu trong sáu tháng
trước ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp mà doanh nghiệp đã có những vi phạm
sau đây:
a. Tẩu tán tài sản của doanh nghiệp dưới mọi hình
thức;
- Một quy định tổng hợp về những hợp đồng có hiệu
lực thi hành (bất kể ngày kết thúc hợp đồng là ngày
nào) phải được xây dựng và áp dụng cả ở trong các
thủ tục tố tụng tại Tòa án và ngoài Tòa án, bao gồm
cả thủ tục tổ chức lại;
- Những hợp đồng dài hạn, đặc biệt là hợp đồng lao
động và hợp đồng thuê mướn, cần phải được xem xét
một cách đặc biệt trong bối cảnh các chính sách luật
pháp về vỡ nợ và tình hình xã hội;
- Những chuyển nhượng trên thị trường vốn và tài
chính nhất định (thỏa thuận cả gói, quyền mua bán cổ
phiếu ưu tiên và tương lai) cần phải được điều chỉnh
bởi những quy định đặc biệt ngay lập tức tạo nên tính
rõ ràng về luật pháp cho cả hai bên;
- Phải bảo đảm những dịch vụ tiêu dùng cho doanh
nghiệp con nợ thậm chí cả khi hợp đồng dịch vụ này
bị từ chối, hoặc các khoản nợ đến hạn vẫn chưa được
thanh toán;
- Nếu một hợp đồng có hiệu lực bị từ chối, hoãn hoặc
tự động chấm dứt, bên đối tác phải có quyền khiếu
nại về thiệt hại đối với khối tài sản phá sản như là
một chủ nợ.
6. Vấn đề vỡ nợ quốc tế:
Điều 51 LPSDN năm 1993 quy định: “Việc giải
quyết phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam có liên
quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài được thực hiện
theo Luật này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia có quy định khác”.
Có thể thấy trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế