Bệnh liên cầu lợn và cách phòng, chống Bệnh cảnh viêm màng não ở liên cầu lợn:
Người bệnh sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, ù tai, điếc, cứng gáy, rối loạn tri
giác xuất huyết đa dạng ở một số nơi trên cơ thể. Một số trường hợp xuất hiện
các triệu chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc tiêu hóa: sốt, đi cầu nhiều lần, phân lỏng,
cơ thể lạnh, run trước khi có biểu hiện của viêm màng não.
Trường hợp nặng: Sốc nhiễm độc, trụy mạch, cơ thể lạnh, tụt huyết áp, nhiễm
khuẩn huyết cấp tính, rối loạn đông máu nặng, suy hô hấp, suy đa phủ tạng hôn
mê và tử vong.
Chẩn đoán xác định:
Tìm thấy S.suis gây bệnh (thường là S.suis týp II) khi nuôi cấy bệnh phẩm (máu
người bệnh hoặc các mô, tổ chức bị tổn thương) hoặc tiến hành làm xét nghiệm
huyết thanh học hoặc làm phương pháp sinh học phân tử (PCR). Cần chẩn đoán
phân biệt với một số bệnh tương tự viêm màng não do não mô cầu, viêm màng
não do Haemophilus Influenzae, sốt xuất huyết thể nặng.
Xét nghiệm cần làm:
- Loại mẫu bệnh phẩm: máu người bệnh, các mô, tổ chức bị tổn thương.
- Phương pháp xét nghiệm:
+ Phân lập liên cầu: Cấy máu, lấy khuẩn lạc nhuộm soi thấy hình ảnh liên cầu
gram (+), tiếp đó quan sát hiện tượng dung huyết alpha và beta trên môi trường
thạch máu cừu và ngựa.
+ Thực hiện phản ứng kháng thể huỳnh quang phát hiện vi khuẩn tại các mô bị
nhiễm.
+ Làm phản ứng PCR là phương pháp chính xác nhất.
Tác nhân gây bệnh
- Tác nhân gây bệnh liên cầu lợn là một loại liên cầu khuẩn có tên là Streptococcus
suis (S.suis). Vi khuẩn gram dương, hình cầu hay hình ô van, kỵ khí tùy tiện. Ở
- Phân, chất độn chuồng, các loại thức ăn và nước uống trong chuồng nuôi có thể
trở thành nguồn bệnh thứ cấp. Các động vật khác có khả năng truyền bệnh bao
gồm ruồi, gián, chuột.
Tính cảm nhiễm và miễn dịch
- Ở lợn: Có thể bị nhiễm vi khuẩn ở bất kỳ tuổi nào. Khả năng nhiễm và gây bệnh
của vi khuẩn ở lợn con cao hơn ở lợn trưởng thành.
- Ở người: Hiện nay chưa được biết đầy đủ.
- Những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao: người làm việc ở trại chăn nuôi lợn,
người giết mổ gia súc, cán bộ thú y, người ăn tiết canh lợn hoặc ăn thịt lợn ốm
chết.
*Người có nguy cơ lây nhiễm và phát bệnh khi tiếp xúc với lợn bệnh hoặc các
sản phẩm từ lợn bệnh. Biểu hiện lâm sàng chính là: viêm màng não, xuất
huyết, viêm phổi, viêm cơ tim và viêm khớp. Những người bị bệnh nặng có thể
tử vong do độc tố vi khuẩn gây sốc nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc, suy đa phủ
tạng, nhiễm khuẩn huyết Tỷ lệ chết có thể tới 7%.
Bệnh liên cầu lợn thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm,
ICD-10 B95: Streptococcus suis diseases.
* Theo một nghiên cứu gần đây của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí
Minh cho thấy bệnh này có khuynh hướng xảy ra vào mùa hè nắng nóng, 58
bệnh nhân (81%) là nam giới. Phần lớn bệnh nhân là nông dân, 38% bệnh
nhân có tiền sử tiếp xúc với lợn hay thịt lợn, tuy nhiên chỉ có 6 bệnh nhân (8%)
có tổn thương da nghi ngờ. 69 bệnh nhân (96%) biểu hiện bệnh cảnh viêm
màng não như: sốt, nhức đầu, ói, cổ cứng, rối loạn tri giác là những triệu
chứng thường gặp. 68% trường hợp viêm màng não mủ có triệu chứng ù tai,
điếc. Một bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bị sốc do nhiễm độc tố liên cầu. Sau 10
- 14 ngày dùng kháng sinh ceftriaxon, hầu hết bệnh nhân đều hồi phục. Tất cả
các chủng vi khuẩn phân lập được còn nhạy cảm với penicillin và ceftriaxon.
Các biện pháp phòng, chống dịch
trường chăn nuôi phải phun thuốc sát khuẩn, khử khuẩn. Để trống chuồng 2 tuần
mới nuôi lợn trở lại.
- Nguyên tắc điều trị: Lưu ý phát hiện sớm các trường hợp có biểu hiện viêm
màng não và có tiếp xúc với lợn bị bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nhằm giảm
tỷ lệ tử vong và biến chứng.
Điều trị kháng sinh đặc hiệu penicillin liều cao: uống, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh
mạch, thường phải điều trị trên 10 ngày. Có thể dùng các kháng sinh khác cũng
hiệu quả như: ampicillin, erythromycin hoặc nhóm cephalosporin.
Điều trị triệu chứng và áp dụng các biện pháp hồi sức tích cực nếu có biến chứng
nặng.
Lọc máu nếu có điều kiện.
- Kiểm dịch y tế biên giới: Thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm dịch quốc tế khi
xuất, nhập lợn qua biên giới để không đưa mầm bệnh từ nước ngoài xâm nhập vào
nước ta và ngược lại.
TS. Trần Thanh Dương