1
I. Lời mở đầu
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn là quá trình vô cùng quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, nhất là những nước đang phát triển như
nước ta hiện nay. Một đất nước bị chiến tranh tàn phá, có cơ sở vật chất nghèo nàn
lạc hậu vì vậy mục tiêu chính được Đảng và Nhà nước đề ra và thực hiện cho bằng
được đó là phải công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Muốn vậy trước hết phải
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn bởi 80% người dân Việt Nam
sống bằng nông nghiệp. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải ưu tiên phát triển
lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con người bởi nguồn lực con
người đóng vai trò quan trọng chủ chốt trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn. Con người sáng tạo ra máy móc quản lý và sử dụng
hợp lý máy móc hiện đại để phục vụ và làm cho cuộc sống con người thoải mái
hơn, thoả mãn các nhu cầu tự nhiên của con người. Ngoài ra phải thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để
sản xuất hàng hoá quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao. Dần dần xoá bỏ mô
hình sản xuất nhỏ lẻ vừa tốn kém vừa không hiệu quả thay thế vào đó là những mô
hình sản xuất phù hợp hơn mang lại năng suất cao hơn. Bên cạnh phát triển khoa
học cũng phải chú ý bảo vệ môi trường phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai
từ đó phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững, đưa nền kinh tế của đất nước phát
triển đi lên sánh vai cùng các nước trên thế giới. Từng bước đưa Việt Nam trở thành
nước công nghiệp phát triển trong khu vực trên thế giới.
II. Nội dung
2
A. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp, hoá hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn
1. Thế nào là công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
luôn mang nặng tính thủ công trong sản xuất nông nghiệp vì vậy để thay đổi tập
quán, cách làm của nông dân là bước đi vô cùng khó, phải thực hiện theo từng bước
đi từ từ chậm chạp. Đưa dần phương pháp sản xuất bằng máy móc để con người dần
tiếp nhận phương pháp sản xuất này.Không thể đột ngột thay thế phương pháp sản
xuất thủ công bằng phương pháp máy móc ngay được như thế sẽ gây ra sự lúng
túng của người sử dụng cũng như người hướng dẫn sử dụng. Người cần sử dụng
máy móc lại không biết cách sử dụng hoặc lúng túng trong cách sử dụng vì vậy gây
nên sự l•ng phí máy móc thiết bị. Sau khi đưa máy móc thiết bị vào sử dụng cũng
cần phải có phương pháp quản lý hiện đại tương ứng với các loại công nghệ và thiết
bị. Máy móc khoa học là những thành tựu sáng tạo của con người, chúng không tự
bảo quản, không chống lại sự hao mòn vì vậy phải có bàn tay con người bảo quản
cho nó. Ngoài ra quản lý, sử dụng máy móc sao cho hợp lý tiết kiệm tiền của, tránh
lãng phí cũng cần phải học, phải có phương pháp khoa học hiện đại. Đó là cả một
quá trình đào tạo chính quy và có quy mô. Nhưng khi có máy móc hiện đại, trang
thiết bị được quản lý tốt mà cơ sở vật chất nghèo không phù hợp thì cũng không có
4
hiệu quả. Vì vậy phải tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc
thiết bị mới vào nông thôn.
Như vậy, công nghiệp hoá nông thôn không có nghĩa là chỉ phát triển công nghiệp ở
nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lực lượng sản
xuất dịch vụ và đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn và cả nước nói chung.
Công nghiệp hoá nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp hoá nông thôn. Nội
dung chủ yếu là đưa máy móc thiết bị, ứng dụng các phương pháp sản xuất kiểu
công nghiệp, các phương pháp và hình thức tổ chức kiểu công nghiệp và các lĩnh
vực của sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp hoá nông thôn còn bao hàm cả việc tạo
ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm
khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến sản phẩm
của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trường cho chúng.
nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời gian quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Công nghiệp hoá ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn
với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ
hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Nước ta đi lên chủ
nghĩa xã hội với xuất phát điểm là nền nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất
6
thấp, 80% dân cư có mức thu nhập thấp, nghèo đói, sức mua hạn chế nếu không
muốn nói là không thể mua nối hàng hoá cho tiêu dùng.Một đất nước sống dựa chủ
yếu vào nông nghiệp lạchậu, canh tác trên ruộng đất nghèo nàn, cơ sở vật chất thô
sơ, tự chế tạo là chính. Đời sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, lại bị chiến tranh và
xã hội phong kiến tàn phá, Đảng và Nhà nước như bước lên từ con số không. Vì vậy
nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá để tạo ra những điều kiện vật chất kỹ
thuật cần thiết, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực.
Để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh,
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ
xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chính là người lao động. Con
người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá con người sáng tạo ra máy móc, bảo quản máy móc, con người luôn muốn nâng
cao trình độ của mình hay là nâng cao chất lượng của lực lượng sản xuất. Nhưng để
biến đổi về chất lực lượng sản xuất là một điều vô cùng khó khăn mà không dễ gì
thực hiẹn được, nhưng quá trình công nghiệp hoá lại tạo ra cơ sở vật chất để làm
biến đổi căn bản lực lượng sản xuất, nâng cao vai trò của lực lượng sản xuất nhờ đó
cũng làm nâng cao vai trò của người lao động.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công chính là khối liên minh vững chắc giữa giai
8
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp cũng chính là phát triển lực lượng sản xuất,
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.Trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản
xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình cải biến lao động thủ
công lạchậu thành lao động sử dụng máy móc tức là phải cơ khí hoá nền kinh tế
quốc dân. Nền nông nghiệp với kỹ thuật thủ công, lao động chân tay thì không thể
gọi là nền nông nghiệp phát triển được, nhất là nền nông nghiệp đó lại phải gánh
trên vai cả một nền kinh tế. Nông nghiệp lạc hậu làm cho đời sống của nhân dân
nghèo đói bởi kinh tế Việt Nam sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp, 80% dân cư
làm nông nghiệp đã khiến cho đất nước càng ngày càng thụt lùi không phát triển.
Bởi vậy Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu là phải chuyển đổi căn bản từ nền
kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đưa đất nước trở thành một nước
công nghiệp hoá. Nhưng cách mạng công nghiệp không chỉ là chuyển đổi cơ cấu
thủ công sang cơ khí mà phải gắn liền với điện khí hoá và tự động hoá sản xuất từng
nước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra thị trường cũng là một yếu tố
vô cùng quan trọng trong lĩnh vực tiêu thụ hàng hoá nông sản phẩm. Vì vậy phải
thúc đẩy hình thành và mở rộng các loại thị trường bao gồm thị trường sản phẩm,
ngoài ra còn phải có các loại thị trường như thị trường vốn, lao động, công nghệ.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành
công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động các ngành công
nghiệp. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn,
bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù
9
hợp, xây dựng nền dân chủ công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn. Đất nước ta phần lớn là lao động
B. Thực trạng và định hướng giải pháp
1. Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn nước ta hiện nay
Đối mặt với thực trạng nông nghiệp nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đ• nhận
ra một số mặt yếu kém, một số thực trạng vẫn tồn tại song hành cùng với sự phát
triển của nông thôn. Hiện nay sản xuất nông nghiệp ở nước ta phổ biến còn trong
tình trạng phân tán, đơn lẻ, thiếu sự phối hợp nên chất lượng sản phẩm không đồng
nhất, thu gom và vận chuyển khó khăn giá thành cao. Trong cùng một sản phẩm
luôn có sự cạnh tranh, sự tranh chấp về lợi ích giữa người sản xuất, thu gom với
người chế biến, tiêu thụ và người chịu thiệt cuối cùng lại chính là người nông dân.
Đó cũng chính là sự bất cập trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Cho đến nay trình độ công nghiệp nông thôn còn ở trạng thái manh nha, yếu ớt,
kinh tế nông thôn còn ở trạng thái manh nha, yếu ớt, kinh tế nông thôn còn nặng
tính thuần nông. Những khảo sát của những thập kỷ gần đây, ở nhiều vùng của đất
nước cho thấy cơ cấu lao động trong nông nghiệp hầu như không thay đổi. Ngoài ra
do cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp kéo dài làm cho không ít người lao
động đã quen với tâm lý ỷ lại, trông chờ thiếu nhạy bén khi phải đối mặt với việc
làm và thu nhập khi chuyển sang kinh tế thị trường.
11
Về phương diện quản lý tổng thể nền kinh tế, các chính sách công nghiệp hoá hầu
như chưa quan tâm xử lý tổng thể và hợp lý mối quan hệ giữa nông thôn và thành
thị. Trong nhiều thập kỷ, chiến lược ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên thực tế
chưa có tác động tích cực cho việc tăng cường mối liên kết giữa thành thị và nông
thôn. Trong những giải pháp tiến hành, chưa đặt đúng vai trò ngành nghề và công
nghiệp nông thôn như một khâu trung gian để qua đó thực hiện chuyển giao công
nghệ, một mặt công nghiệp tác động vào nông nghiệp, mặt khác các hoạt động nông
nghiệp hoặc mang tính nông nghiệp có thể chuyển dần sang công nghiệp. Có thể nói
đây chính là khuyết tật cơ cấu cả về phương diện ngành lẫn l•nh thổ, là khâu ách tắc
của quá trình công nghiệp hoá. Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân hạn chế khiến
nên thấp kém, không đủ tiêu chuẩn phân phối trong nước hoặc xuất khẩu ra nước
ngoài. Ngoài ra nếu sản phẩm được mang ra xuất khẩu cũng chỉ được bán với giá rẻ
mạt, chính vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam mới thường xuyên bị kiện bán phá
giá.
Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả chất lượng nhưng nó cũng chỉ là một trong
những yếu tố quyết định sự thành công của các doanh nghiệp, ngoài ra còn một yếu
tố vô cùng quan trọng nữa đó là giá thành sản phẩm. Giá thành của một sản phẩm
còn được coi là yếu tố cơ bản nhất trong cạnh tranh giữa các công ty với nhau. Các
doanh nghiệp khi muốn tăng lợi nhuận kinh doanh, tăng khối lượng sản phẩm bán
13
ra nhưng khách hàng lại cực kỳ khó tính. Họ luôn muốn mua được những hàng hoá
rẻ nhất, chất lượng thì tốt nhất, vì vậy phá giá thành là đánh đúng tâm lý của người
tiêu dùng. Nhưng không phải cứ giảm thật mạnh giá mà không quan tâm tới lợi
nhuận của doanh nghiệp. Giảm giá quá thấp thì chỉ bán được sản phẩm nhiều thì
doanh nghiệp cũng không thể có lãi. Đối với các doanh nghiệp ở nông tôn thì cách
giảm giá duy nhất chỉ có thể là cải tiến trong lĩnh vực sản xuất. Phân định rõ và kết
hợp hài hoà các tầng lớp công nghệ trong tổ chức sản xuất sẽ tạo thuận lợi để xác
định quy mô vùng nguyên liệu gắn liền với việc sơ chế và kinh tế tập trung. Như
vậy doanh nghiệp sẽ tiết kiệm một lượng chi phí dùng cho vận chuyển hao mòn
máy móc ngoài ra còn tạo được việc làm cho số lao động nông thôn, đồng thời với
nâng cao chất lượng và hạ giá thành nông sản.
Một trong những tình trạng chung của công nghiệp nước ta hay nói cách khác là
những nước đang phát triển đó là mới bước đầu đi vào quá trình phát triển đất nước
phát triển nền kinh tế nên quá trình phát triển đó còn mang nặng tính tự phát, phân
tán tuỳ tiện với quy mô thì nhỏ bé. Vì vậy càng làm cho quá trình công nghiệp hoá
nông thôn trở nên khó khăn hơn. Do dân trí của con người nông thôn thấp, không
được đào tạo cụ thể để có những hiểu biết nhất định nên hậu quả tất yếu là càng
phát triển mạnh công nghiệp nông thôn thì mức độ ô nhiễm môi trường càng trở nên
15
Một số thành tựu to lớn của các nước trong khu vực đã cho Việt Nam rất nhiều kinh
nghiệm quý báu phục vụ đắc lực cho nền kinh tế Việt Nam. Như Trung Quốc là một
ví dụ điển hình bởi Trung Quốc là quốc gia đất rộng, người đông nhưng họ lại có
những thành tựu to lớn về nông nghiệp trong thời kỳ cải cách. Đó là sự phát triển
của công nghiệp thành thị và công nghiệp nông thôn (còn gọi là các xí nghiệp
hương trốm). Trong thời kỳ cải cách, công nghiệp nông thôn mang đặc thù Trung
Quốc phát triển mạnh đã thu hút 100 triệu lao động nông thôn, tạo ra giá trị sản
phẩm công nghiệp nông thôn vượt giá trị sản lượng nông nghiệp, làm cho nhiều
làng quê trở nên giàu có trù phú nhờ các xí nghiệp hương trốm. Từ đó ta có thể thấy
rằng, trong điều kiện đặc thù của các nước châu á, nông nghiệp thực sự là điểm tựa
của công nghiệp hoá nông thôn. Để phát triển công nghiệp hoá nông thôn, các nước
như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc đã đẩy mạnh cơ giới
hoá hiện đại hoá nông nghiệp và đã thành công trong lĩnh vực này họ đã sáng tạo ra
thiết bị công nghệ thích hợp với phương thức sản xuất lúa Châu á và với quy mô
trang trại gia đình nhỏ bé. Các nước này đã đưa công nghiệp vào nông thôn, tăng
thu nhập cho nông dân tạo ra nguồn vốn đầu tư cho cơ giới hoá, các nước này còn
tìm cách tạo việc làm tại chỗ để thu hút lao động thừa, nhất là do cơ giới hoá tạo ra.
Các thành tựu mà các nước đi trước để lại là những kinh nghiệm quý báu cho một
nước nhỏ như Việt Nam học tập. Cố gắng ứng dụng vào đất nước để đạt được
những thành tựu như vậy là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước.
2. Định hướng và các giải pháp cơ bản để tiến hành công nghiệp hoá nông thôn
a. Định hướng tiến hành công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
16
Để phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra những định hướng cụ thể nhằm đưa đất nước đi đúng con đường
xã hội đất nước, là một trong những tiền đề có ý nghĩa quyết định đối với nước ta
khi tiến vào thế kỷ XXI.
b. Giải pháp cơ bản để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn nước ta hiện nay
Để hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, khắc
phục những khó khăn trước mắt, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những giải pháp cơ
bản để tiến hành công nghiệp hoá nông thôn.
Đầu tiên phải phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Đối với cây lương thực phải xây dựng các vùng sản xuất lúa tập trung ở các khu
vực đồng bằng rộng lớn, sử dụng các giống mới có năng suất chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu của thị trường, áp dụng các biện pháp đồng bộ để hạ giá thành và đảm
bảo chất lượng. Đối với cây công nghiệp, thực phẩm phải thường xuyên nghiên cứu
các loại công nghệ sinh học tiên tiến để lai tạo và nhân giống để sản xuất ra giống
cây trồng có năng suất chất lượng cao cung ứng đủ cho nhu cầu sản xuất, thực hiện
cơ giới hoá các khâu sản xuất trứơc hết là khâu nặng nhọc, độc hại, thời vụ khẩn
trương, cơ giới hoá các khâu sau thu hoạch để nâng cao năng suất lao động, phát
18
triển các cơ sở công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Hướng dẫn, khuyến
khích và hỗ trợ các cơ sở ngành nghề thôn thôn sử dụng máy móc, công cụ cải tiến,
thực hiện cơ khí hoá các khâu sản xuất nâng cao năng suất và chất lượng, hạ giá
thành để có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhà nước
cũng đóng một phần vô cùng quan trọng khi đưa ra những chính sách hỗ trợ,
khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp về nông thôn để thu hút và
thực hiện việc phân công lao động ngay trên địa bàn, trước hết là các ngành sử dụng
nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động như: chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất
vật liệu xây dựng…. Hình thành ngay từ đầu các khu công nghiệp ở nông thôn gắn
kết ngay từ đầu lợi ích kinh tế giữa người sản xuất nguyên liệu với các cơ sở thu
mua chế biến kinh doanh nông lâm thuỷ sản.
góp của dân phát triển nhanh hệ thống giao thông nông thôn đảm bảo hàng hoá và
đi lại cho dân. Nâng cấp tuyến đường đã có nơi giao thông là cầu nối thôn với
thành thị, phải có giao thông thuận lợi thì việc vận chuyển hàng hoá từ vùng này tới
vùng kia mới được cải thiện rõ rệt, từ đó hình thành nên các vùng công nghiệp lớn ở
nông thôn. Ngoài ra điện cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng để vận hành máy
móc, thiết bị vì vậy phải phát triển hệ thống điện nông thôn các dịch vụ bưu chính
viễn thông và các điểm văn hoá đến hầu hết các xã, cung cấp có hiệu quả chất
lượng cao cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn.
20
Công tác quy hoạch phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu bởi công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn phải được tiến hành theo từng vùng để phát triển
theo một hướng cụ thể; chứ không thể phát triển một cách nhỏ lẻ theo từng quy mô
gia đình nhỏ. Đặc biệt phải chú trọng làm tốt các quy hoạch vùng sản xuất hàng
hoá tập trung theo hướng sản xuất lớn. Ngoài ra phải có một chính sách thoả đáng
để quy hoạch cơ sở hạ tầng và đô thị, quy hoạch bố trí lại dân cư, xây dựng làng xã
nhưng phải gắn với bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Nhiệm
vụ của các cấp chính phủ được đặt ra hết sức nặng nề khi phải làm tốt quy hoạch,
định hướng phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển
các dịch vụ công cộng đảm bảo ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội, chỉ có như
thế mới thu hút được đầu tư vào các vùng ở nông thôn.
Nước ta là một nước có nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, kinh phí không đủ để theo
đuổi các dự án nghiên cứu khoa học vì vậy phải đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng
dụng và chuyển giao khoa học công nghệ và coi đây là khâu đột phá quan trọng
nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học,
nhất là cơ chế quản lý tài chính và nhân sự để nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhà nước
phải có chính sách đầu tư thoả đáng cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp để sớm
hiện đại hoá hệ thống sản xuất đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất hàng hoá lớn chất lượng
22
liền kinh tế các vùng với nhau. Trong nhiều năm nền kinh tế đã đạt được những
thành tựu vô cùng quan trọng đưa nền kinh tế đất nước tiến lên thoát khỏi đói nghèo
từng bước xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Nhưng bên cạnh đó cũng
xuất hiện những khó khăn vất vả, những vướng mắc yếu kém nhất định. Xác định
đúng những tồn tại để khắc phục tồn tại đó dần dần hoàn thiện quá trình công
nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Các chính sách được Chính phủ đưa ra càng
củng cố hơn quyết tâm xây dựng một nông thôn vững mạnh. Một nền nông nghiệp
cơ khí hoá, điện khí hoá, là điểm tựa vững chắc cho nền công nghiệp hoá toàn đất
nước phát triển đi lên. Dần dần đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển xứng
tầm với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Đó là mong muốn không chỉ
của Đảng, Nhà nước mà là của toàn dân tộc.