A- MỞ BÀI :
Chúng ta đang sống trong một thời đại cách mạng công nghiệp. Quanh
ta khắp nơi trên thế giới đã và đang diễn ra quá trình chuyển đổi trong đời
sống kinh tế. Quá trình cải cách kinh tế là thử thách lớn nhất đối với tất cả
các dân tộc và các chế độ muốn thay đổi mô hình hoạt động kinh tế của
mình. Có nhiều xu hướng khác nhau, song có một chủ đề chung là chuyển
nền kinh tế sang định hướng thị trường. Các nhà lãnh đạo chính trị ở nhiều
nơi trên thế giới đã đi đến kết luận rằng : nhìn chung, thị trường đảm bảo
cho nền kinh tế tăng trưởng một cách vững chắc. Tuy nhiên, cách thức để
đạt được mục tiêu đó cũng rất khác nhau. Và cũng ở đây, mỗi nước xẽ tìm
cho mình một con đường đi lên, dựa trên nền tảng lịch sử, văn hoá dân tộc.
Với xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Việt Nam cũng chọn cho
mình một con đường phát triển kinh tế. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt
Nam đã chọn cho đất nước của mình con đường phát triển nền kinh tế thị
trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là
con đường phát triển tất yếu phù hợp với những điều kiện khách quan vốn
có. Cũng xác định,việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa sẽ đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, vươn lên một nền kinh tế
hiện đại, ngang tầm với các nước trên thế giới, phấn đấu vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
B NỘI DUNG:
I- SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
1. quan niêm về kinh tế thị trường:
1.1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí
của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường là trình
độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Hay còn nói, kinh tế thị trường là
kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, trong đó toàn bộ các yếu
hai kiểu kinh tế thị trường này đều chịu sự tác động của cơ chế thị trường
với hệ thống các qui luật : qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh
tranh, qui luật lưu thông tiền tệ … Đồng thời, cả nền kinh tế thi trường ở các
nước TBCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đều là các nền
kinh tế hỗn hợp, tức là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết ( quản lí ) của
nhà nước. Tuy nhiên, sự can thiệp của nhà nước ở các nền kinh tế là khác
nhau. Không có nền kinh tế thị trường thuần tuý (hoàn hảo) chỉ vận hành
theo cơ chế thị trường.
Sự khác nhau giữa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền
kinh tế thị trường TBCN là ở mục tiêu, phương thức, mức độ can thiệp của
nhà nước và sự can thiệp này là do bản chất của nhà nước quyết định. Được
thể hiện qua những điểm sau:
Về chế độ sở hữu, cơ chế thị trường trong nền kinh tế TBCN luôn
hoạt động trên nền tảng của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, trong
đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế. Còn cơ chế thị trường trong nền kinh tế định
hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường của sự đa dạng các quan
hệ sở hữu. Trong đó chế độ công hữu giữ vai trò nền tảng của nền
kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong khi phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết. Kinh tế nhà
nước phải được củng cố và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở
lĩnh vực an ninh quốc phòng … mà các thành phần kinh tế khác không có
điều kiện thực hiện.
Về tính chất giai cấp của nhà nước và mục đích quản lí, trong nền
kinh tế thị truờng TBCN, sự quản lí của nhà nước luôn mang tính chất
tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhẳm bảo
đảm môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp
tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN. Còn trong nền kinh
chênh lệch giữa lớp giàu và lớp nghèo. Mặt khác, có biện pháp bảo vệ
thu nhập chính đáng của toàn xã hội.
Một xu hướng đáng lưu ý là tuy nhà nước TBCN đã có ý thức tự điều
chỉnh, dung hoà lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau để
giảm bớt mâu thuẫn, ổn định chính trị, ổn định xã hội, vì mục tiêu
phát triển kinh tế. Song, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là do
sự chi phối điểu tiết của các qui luật kinh tế của CNTB, của lợi ích
giai cấp nên sự điều tiết của vẫn còn nhiều bất cập. Sự can thiệp của
nhà nước nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển và công bằng chỉ có thể
thực hiện được với một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đó là nhà
nuớc XHCN.
2. Cơ sở khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam.
2.1. Cơ sở :
Các Mác đã nêu ra hai điều kiện để hình thành sản xuất hàng hoá – giai
đoạn sơ khai của kinh tế thị trường là có sự sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất và sự phân công lao động xã hội. Sau này, cụ thể hoá hơn và thích nghi
trong điều kiện thị trường cạnh tranh quyết liệt, chúng ta đê cập rõ hơn các
điều kiện hoạt động của thị trường là quyền chiếm hữu tài sản khác nhau và
lợi ích của người sản xuất kinh doanh khác nhau, tạo động lực cạnh tranh
trên thị trường. Cơ sở khách quan được thể hiên ở nhũng điểm sau :
Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất
hành hoá được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phát triển
trong từng khu vực, từng địa phương. Sự phát triển của phân công lao
động được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng về chất lượng ngày
càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường.
Trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu : sỏ hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó, tồn tại
khối lượng hàng hoá và dịch vụ.
Phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất
hàng hoá. Đến lượt nó, sự phát triển kinh tế hàng hóa sẽ thúc đẩy sự
phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Vì thế, phát
huy được tiềm năng, lơi thế của từng vùng cũng như lợi thế của đất
nước có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Sự phát triển kinh tế hàng hoá sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung
sản xuất. Do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có tính xã hội
hoá cao, đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh
giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lí có trình độ, lao động lành
nghề, đáp ứng yêu cầu của đất nước.
Ngày nay, không ai phủ nhận vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của kinh
tế thị trường trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội, phát triển lực
lượng sản xuất xã hội. Không ai phủ nhận sự khách quan của chúng trong
nhiều chế độ khác nhau. Không còn ai cho rằng kinh tế thị trường là sản
phẩm riêng của CNTB.
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, Đảng ta đã khẳng
định: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát
triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công
cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là tất yếu kinh tế đối với nước ta.
Một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta
thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó
là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu
quả tiềm năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Mô hình kinh tế của Việt
Nam được xác định là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng XHCN. Thực
tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc chuyển sang nền kinh tế
hoàn chỉnh – thị trường xã hội thống nhất, là một thị trường đồng bộ giữa
các loại thị trường ( thị trường lực lượng sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vốn, kĩ
thuật, sức lao động… ) và có luật pháp thương mại chi phối.
Có ba hình thái thị trường : Một là, thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị
trường có nhiều người bán và nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, gia
nhập hoặc rời bỏ thị trường rất dễ dàng và doanh nghiệp là người chấp nhận
giá; Hai là, thị trường độc quyền là thị trường chỉ có một người bán, sản
phẩm là độc nhất, gia nhập hay rời bỏ thị trường là khó khăn; Ba là, thị
trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường độc quyền hai người hay độc
quyền nhóm, cạnh tranh có tính độc quyền.
Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lí của nhà nước, căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp
sẽ quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số
lượng là bao nhiêu.
2. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế thị
trường XHCN nhưng chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường XHCN. Bởi
vì, chúng ta còn đang trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự
đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa đầy đủ yếu tố
XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
một mặt vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trường. Mặt khác,
do dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của
CNXH, cho nên, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có những đăc trưng bản chất dưới đây :
2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường:
Trong nhiều đặc tính có thể làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị
dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên chúng không tránh khỏi tính
tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy sinh những hiện tượng tiêu cực
làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, kinh tế nhà nước phải được
xây dựng và phát triển có hiệu quả để thực hiện tốt vai trò của mình.
2.3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực
hiện nhiều hình thúc phân phối theo thu nhập, trông đó lấy phân phối
theo lao động là chủ yếu.
Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tương ứng với nó. Chế độ phân
phối do quan hệ sản suất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất. Phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kì quá
độ lên CNXH, có nhiều cế độ sở hữu cùng tồn tại. Mỗi chế độ sở hữu có
nguyên tắc phân phối tương ứngvới nó, vì thế trong thời kì quá độ tồn tại cơ
cấu đa dạng về hình thức phân phối theo thu nhập
Trong cơ chế thị trường ở nước ta, tồn tại các hình thức phân phối theo
thu nhập sau : phân phối theo lao động, theo nguồn vốn, theo giá trị sức lao
động, phân phối thông qua các quĩ phúc lợi xã hội. Sự khác biệt cơ bản giữa
kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN là ở chỗ
xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động. Đây là đặc
trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, nó là hình thức
thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao
động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên
CNXH.
Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây
dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở nước ta phải gắn liền với
cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.
2.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở,
hội nhập.
Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng khép kín
trước đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước
ta trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế.
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, Vì vậy, mở
cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếu đối với nước
ta nhằm thu hút vốn, khoa học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm tiên tiến của
các nước để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta, thực hiện phát
huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường
hiện đại theo kiểu rút ngắn. Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
theo hướng đa phương hoá các hình thúc đối ngoại, gắn thị trường trong
nước với thị trường trong nước và thế giới, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ
quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối
ngoại.
Trong thời gian tới, vẫn tiếp tục mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại. Phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng
ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực thâm
nhập thị trường thế giới, mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc,
tranh thủ cơ hội để mở ra thị trường mới, cải thiện môi trường đầu tư và
bằng nhiều hình thức thu hút vồn đầu tư của nước ngoài. II - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.
1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam.
Giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các
vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông thống nhất.
Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn
nhiều hiện tượng tiêu cực : hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu…
Thị trường hàng hoá sức lao động mới hình thành. Nét nổi bật của thị
trường này là sức cung về lao động có tay nghề nhỏ hơn sức cầu, trong khi
đó cung về lao động giản đơn lại vượt quá cầu, nhiều người có sức lao động
không tìm được việc làm.
Thị trường tiền tệ, thị trường vốn có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều
trắc trở, thủ tục rườm rà, nhiều vướng mắc. Thị trường chứng khoán ra đời
nhưng có ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia.
1.3. Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường.
Do vậy, chính vì điều đó, nền kinh tế nước ta có nhiều loại hình sản
xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàn hoá nhỏ
phân tán còn phổ biến.
1.4. Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối
ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh
trình độ phát triển khoa học kĩ thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết
các nước khác.
Toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế đang đặt ra cho các nước nói
chung cũng như nước ta nói riêng những thách thức hết sức gay gắt. Nhưng
đó là xu thế tất yếu khách quan. Vì vậy, chúng ta cần chủ động hội nhập,
chuẩn bị tốt để tham gia vào khu vực hoá, toàn cầu hoá, thực hiện đa phương
hoá, đa dạng hoá kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực,
nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân định
2.2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đai hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ
khoa học kĩ thuật, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.
Sự phát triển của phân công lao động xã hội do sự phát triển của lực
lượng sản xuất quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã
hội cần đẩy mạnh cônh nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ
sở vật chất kĩ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại. Cùng với việc trang bị kĩ
thuật và công nghệ hiện đại cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tiến hành phân công lao động
và phân bổ dân cư trong cả nước, hình thành cơ cấu hợp lí cho phép khai
thác tốt nhất các nguồn lực đất nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững của toàn bộ nền kinh tế.
2.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường.
Hình thành đồng bộ các loại thị trường là một yêu cầu khách quan của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tư duy và chính sách về hình
thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường được khởi nguồn từ Đại hội
lần thứ VI của Đảng với tư tưởng giải phóng sức sản xuất hàng hoá và lưu
thông hàng hoá bằng việc thực hiện ba chương trình mục tiêu về lương thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Tư duy này tiếp tục được làm
rõ ở Đại hội Đảng lần VII, VIII. Đến đại hội lần IX của Đảng vạch rõ ràng
và dứt khoát hơn chủ trương xây dựng đồng bộ các loại thị trường theo định
hướng XHCN.
Sự cần thiết phải hình thành đồng bộ các loại thị trường được biểu hiện:
Thực tiễn ở các nước chuyển đổi và ở nước ta thời gian qua cho thấy dù
muốn hay không, một khi đã lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN, có nghĩa là đã chấp nhận sự hiện hữu của thị
trường với đầy đủ các loại thị trường. Chúng ta cần xây dựng đầy đủ các loại
thị trường để nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam vận
hành có hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh
tế đều thông qua thị trường mà được phân bổ vào các ngành, các lĩnh vực
Sự ổn định về chính trị là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh
trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Muốn giữ vững sự ổn định chính
trị ở nước ta hiện nay cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân. Đồng thời, sự đồng bộ về hệ thông pháp luật là công cụ để
nhà nước quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo hành lang pháp
lý cho hoạt động kinh tế, buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của
nhà nước.
2.6. Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế
quản lý kinh tế của nhà nước.
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
hàng hoá ở nước ta. Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của nhà nước,
cần nâng cao năng lực của các cơ quan luật pháp, hành pháp và tư pháp, có
hệ thông chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thận lợi cho
hoạt động kinh tế, hạn chế khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường. Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền
kinh tế, chứ không phải là mệnh lệnh. Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới và hoàn
thiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tiền lương và giá cả.
Hiện nay, mặc dù nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta còn ở
trình độ kém phát triển, bởi lẽ cơ sở vật chất, kĩ thuật còn lạc hậu, thấp kém,
nền kinh tế ít nhiều còn mang tính tự cấp tự túc. Tuy nhiên, nước ta không
lặp lại nguyên vẹn tiến trình phát triển của các nước đi trước : Kinh tế hàng
hoá giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự do, rồi từ kinh tế thị trường tự
do chuyển lên kinh tế thị trường hiện đại, mà cần phải và có thể xây dựng
nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩâ theo kiểu rút
ngắn. Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá để
phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, xây dựng tương đối được cơ sở
vật chất kĩ thuật, nắm bắt kịp thời với tốc độ phát triển chung của thế giới.
Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô và
thực hiện định hướng XHCN.
17 năm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội vừa qua không phải là một
tiến trình thẳng tắp luôn đi lên về mọi mặt và trong mọi lúc. Trái lại, đó là
những chặng đường gian khó, có thăng trầm, có những bước tiến suôn sẻ
nhẹ nhàng và cũng có những bước tiến trầy trật, vất vả, thậm chí có cả sự do
dự, ngập ngừng. Nhìn lại 17 năm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội,
thành tựu là to lớn, như một cuộc đổi đời so với 20 năm trước đây. Đại hội
Đảng lần IX đã đánh giá rất thích đáng công cuộc đổi mới là một trong ba
thắng lợi lớn của Cách mạng Việt Nam. Nhưng thành tựu ấy chưa phát huy
được hết khả năng và tiềm năng, cũng chưa đáp ứng được nguyện vọng và
đòi hỏi của dân tộc ta. Nguyên nhân đó đã được vạch ra trong nhiều nghị
quyết của Đảng và đã thể hiện rõ trong thực tế cuộc sống mà nguyên nhân
mấu chốt nhất hiện nay là tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên.
Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều
tổ chức kinh tế là nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế dộ ta. Tình trạng
lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến.
Chặng đường sắp tới của đổi mới và phát triển kinh tế xã hội là chặng
đường tiếp tục đấu tranh mậnh mẽ hơn, dứt khoát hơn, kiên quyết hơn để
khắc phục những yếu kém trên đây, phát huy những thế mạnh của đất nước.
Các thành quả đổi mới đã đạt được, chiếm lĩnh những kiến thức tiên tiến của
thời đại, tạo ra những bước bứt phá mới. Chặng đường sắp tới là chặng
đường vươn lên chất lượng cao để đạt tốc độ nhanh của sự phát triển.