Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi nhuận là một vấn đề vô cùng quan trọng mà bất
cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm. Lợi nhuận không chỉ phản ánh kết quả kinh
doanh của một doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng tồn tại, phát triển và uy tín của
doanh nghiệp đó trên thị trường.
Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam
(NHKTVN) nói riêng là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Tài Chính-Tiền
Tệ và dịch vụ ngân hàng, làm sao để đạt hiệu quả kinh doanh tạo ra lợi nhuận là một vấn
đề lớn được đặt ra hàng đầu. Ngay từ những ngày đầu thành lập, dưới sự lãnh đạo cuả
Đảng, Nhà nước và dưới sự chỉ đạo kịp thời của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
(NHNNVN), NHKTVN đã phát huy tốt vai trò của mình góp phần thúc đẩy luân chuyển
vốn trong nền kinh tế, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vốn cũng như cung cấp ngày
càng nhiều các dịch vụ tiện ích cho ngươì sử dụng và trở thành Ngân Hàng đô thị đa năng
hàng đầu Việt Nam
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, việc tạo ra một
đồng lợi nhuận là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy lầm sao để có thể tăng thu nhập, tiết
kiệm chi phí là vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) trong
đó không loại trừ NHKT.Tìm ra các giải pháp là quan trọng nhưng làm sao để các giải
pháp đó trở thành hiện thực lại càng quan trọng hơn. Điều này đòi hỏi phải có sự quan
tâm đúng mức của ngành Ngân Hàng cũng như của các nhà hoạch định chính sách Kinh
tế vĩ mô khác.
Với những lý do nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình học tập tai Học Viện Ngân
Hàng cùng hai tháng thực tập tại Hội Sở Chính NHKT em mạnh dạn lựa chọn đề tài:
"Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả kinh doanh tại
NHKTVN"
Chuyên đề của em được trình bày theo kết cấu sau:
Lời mở đầu
Chương 1:Các hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại trong nền Kinh tế thị
trường và cơ chế Tài Chính của NHTM
Chương 2: Thực trạng thu nhập-chi phí và kết quả kinh doanh của HSC NHKTVN
Chương 3: Một số biện pháp nhằm tăng thu nhập -tiết kiệm chi phí và nâng cao kết quả
tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước
cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng với các lĩnh
vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các Ngân Hàng ngày càng phải hoạt động trong sự
cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của Ngân Hàng cũng có sự
thay đổi, theo đó, sản phẩm của Ngân hàng còn bao gồm các dịch vụ khác như : dịch vụ
về tài chính, về thông tin, kế toán ….
Hoạt động kinh doanh Ngân Hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Thường thì
Ngân Hàng đi vay, huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay với thời hạn dài
hơn với lãi suất cao hơn. Từ đó Ngân Hàng sẽ thu được lợi nhuận. Tuy nhiên chỉ bằng
những kinh nghiệm giản đơn cũng có thể thấy được tính chất tập trung rủi ro của lĩnh
vực Ngân hàng. Nếu đến hạn vì một nguyên nhân nào đó người vay tiền không trả được
nợ hoặc trả không dủ sẽ làm cho Ngân Hàng lâm vào tình trạng rủi ro. Trường hợp khác
nữa là Ngân hàng sẽ có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng đến rút tiền trước hạn,
ngân hàng phải trả tiền cho khách hàng khi đáo hạn nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền
để thanh toán do các khoản cho vay hoặc đầu tư chưa thu hồi được và ngân hàng cũng
không thể vay tiền ở các thị trường tài chính khác…
Chính vì đặc điểm này mà Ngân Hàng phải tạo ra những biện pháp, kỹ thuật để phòng
ngừa rủi ro cho người gửi tiền, người vay tiền và cho chính bản thân mình.
Ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lí nghiêm
ngặt của Nhà nước. Có thể nói, tình hình lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu
rộng đến toàn bộ nền kinh tế; hơn nữa, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng luôn mang tính
lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Do đó đòi hỏi các
cơ quan quản lý Nhà nước phải có các biện pháp quản lý nghiêm ngặt sao cho Chính sách
tiền tệ quốc gia được đảm bảo thực hiện,hệ thống tài chính ngân hàng được đảm bảo an
toàn, quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ. Hơn nữa, để tạo ra các
dịch vụ toàn diện cho khách hàng, đồng thời các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau khi đứng
trước nguy cơ rủi ro, các ngân hàng luôn phải duy trì ràng buộc theo hệ thống trong quá
trình hoạt động của mình cả về mặt tổ chức và về mặt kỹ thuật.
2.Chức năng và vai trò của NHTM
thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội. Tuy nhiên chỉ có một hệ thống ngân
hàng mới thương mại mới có thể mở rộng tiền gửi lên nhiều lần, còn nếu chỉ có một ngân
hàng thì không thể có chức năng tạo tiền .Khoản tiền gửi ban đầu có khả năng tăng lên
bao nhiêu lần là do hệ số mở rộng tiền gửi quyết định.Hệ số mở rộng tiền gửi của một
ngân hàng thương mại chịu sự tác động của các yếu tố:tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,tỷ lệ rút tiền
mặt của khách hàng, tỷ lệ dự trữ dư thừa .
Giả sử trong điều kiện không xuất hiện khoản thanh toán nào bằng tiền mặt và các ngân
hàng đều cho vay hết quỹ cho vay thì hệ số mở rộng tiền gửi được tính theo công thức:
H = (H: Hệ số mở rộng tiền gửi)
Khi đó nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì hệ số mở rộng tiền gửi là 10.Nghĩa là hệ
thống ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi gấp 10 lần số tiền gửi ban đầu.
Trên thực tế nếu một khách hàng nào đó rút một phần tiền mặt để thanh toán hoặc ngân
hàng không cho vay hết quỹ cho vay thì khả năng mở rộng tiền gửi cũng gỉam đi. Vì thế
hệ số mở rộng tiền gửi trong thực tế được tính theo công thức:
Như vậy ngân hàng cần phải đẩy mạnh nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt và
nghiệp vụ cho vay sao cho các khoản thanh toán bằng tiền mặt của khách hàng và dự trữ
dư thừa là thấp nhất.
Tuy nhiên, khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại có thể mang lại ruỉ ro khi khách
hàng có nhu cầu rút tiên mặt một cách ồ ạt mà ngân hàng lại đang thiếu phương tiện
thanh toán bằng tiền mặt .Để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng thương mại phải gửi tiền
vào tài khoản tại ngân hàng nhà nước và tham gia thang toán ra ngoài hệ thống ngân hàng
mình.
Chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại có ý nghĩa to lớn trong việc quyết định quy
mô nguồn vốn của ngân hàng ,đồng thời tạo điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt .
Với chức năng tạo tiền, ngân hàng trung ương coi ngân hàng thương mại như một kênh
quan trọn ,qua đó ngân hàng trung ương có thể cung ứng tiền vào lưu thông hay thu hẹp
khối lượng tiền tệ ngoài lưu thông nhằm đảm bảo sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ ,
thực hiện chính sách giá cả, tăng trưởng kinh tế lành mạnh và tạo công ăn việc làm cho
người lao động.
3. Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Vốn tự có bao gồm:
-Vốn pháp dịnh và vốn điều lệ:trong đó ,vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà ngân hàng
phải có khi thành lập do pháp luật quy định . Vốn điều lệ là vốn do các cổ đông đóng
góp và ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng.Vốn điều lệ mức tối thiểu phải bằng vốn
pháp định.
-Vốn tự có bổ sung:bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bì
dắp rủi ro. Việc hình thành các quỹ này phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của
ngân hàng
Ngoài ra , vốn tự có của ngân hàng thương mại còn bao gồm lợi nhuận chưa chia và các
quỹ như: quỹ khen thưởng phúc lợi , quỹ trợ cấp mất việc làm…
3.1.2 Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế
và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thuực hiện nghiệp vụ tín dụng, thanh toán,
các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn kinh doanh.Đây là nguồn vốn
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn hoạt dộng và không thuộc sở hữu của ngân
hàng.Vốn huy động không mang tính ổn định ,luôn biến động.
Nguồn vốn huy động bao gồm :
-Tiền gửi không kỳ hạn , tiền gửi thanh toán.
-Tiền gửi có kỳ hạn.
-Tiền gửi tiết kiệm.
* Tiền gửi không kỳ hạn là những khoản tiền được khách hàng gửi vào ngân hàng với
mục đích thanh toán hay phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh một cách thường
xuyên, an toàn , thuận lợi chứ không phải vì mục đích hưởng lãi suất .Chính vì vậy só dư
của tài khoản này luôn biến động và ngân hàng sẽ trả lãi rất ít cho các khách hàng. Khách
hàng thường quan tâm đến việc chi trả dễ dàng từ việc trích tài khoản chứ ít khi quan tâm
đến các khoản lãi ít ỏi nhận được từ phía ngân hàng.Mặt khác khách hàng có thể đựoc
hưởng các dịch vụ tiện ích như:các dịch vụ thanh toấn , chuyển tiền ,rút tiền khi cần
thiết.Về phía ngân hàng ,đây là nguồn vốn rẻ nhất trong số các loại hình huy động
khác,ngân hàng chỉ phải chi ra một chi phí nhỏ trong việc trả lãi,đồng thời ngân hàng có
điều kiện mở rộng thêm các dịch vụ thanh toán mới nhằm xây dựng hình ảnh của ngân
này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí cuả ngân hàng.
3.1.3 Vốn đi vay
Khi nguồn vốn huy động từ dân cư , từ tổ chức kinh tế không đủ yêu cầu cho sử dụng
vốn thì NHTM phải đi vay từ Ngân Hàng Trung Ương hoặc vay từ TCTD khác .
-NHTM vay của NHTU thông qua các hình thức vay ngắn hạn để bổ sung hoặc vay tái
cấp vốn. Vay ngắn hạn để bổ sung là hình thức các NHTM xin vay vốn để bổ sung vốn
ngắn hạn của mình trong hạn mức tín dụng cho phép.NHTM xin vay tái cấp vốn của
NHTU dưới các hình thức tái chiết khấu giấy tờ có giá hay vay đảm bảo bằng các giấy tờ
có giá như thương phiếu và các phiếu nợ khác.
-NHTM có thể vay của các NHTM hoặc TCTD khác dưới hình thức vay ngắn hạn trên
thị trường tiền tệ liên ngân hàng, chịu lãi suất biên độ trần và sàn để tránh những biến
động đột ngột của cung cầu trên thị trường.
Thêm vào đó , ngân hàng còn có các vốn khác bao gồm các loại vốn được tạo lập trong
quá trình làm trung gian thanh toán hoặc làm đại lí thu hộ ,chi hộ cho khách hàng, cho
các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Nói tóm lại , các nghiệp vụ tài sản nợ tạo nên chi phí chủ yếu và thường xuyên của ngân
hàng đó là chi trả lãi . Do vậy , để nâng cao hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng thì
việc quản lý Tài sản nợ , kiểm soát các khoản chi trả lãi chính xác là vô cùng cần thiết.Từ
đó đảm bảo được an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ,đồng thời đạt được
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng.
3.2 Nghiệp vụ tài sản có
Việc tạo được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh là điều quan trọng ,nhưng làm sao
tìm ra cách thức sử dụng vốn một cách hiệu quả với mức sinh lợi cao nhất còn là điều
quan trọng hơn .
` Đối ứng với nghiệp vụ Tài sản nợ là nghiệp vụ tài sản có hay nghiệp vụ sử dụng
vốn của ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ này được phân chia thành tiền mặt và các tài
sản có sinh lời như cho vay, đầu tư và các Tài sản có khác. Tỷ lệ hợp lý giữa tiền mặt và
các Tài sản có sinh lời khác như cho vay, đầu tư sẽ quyết định đến lợi nhuận và sự an
toàn của hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tài sản có của ngân hàng được phân chia
thành các khoản mục sau:
trên tài khoản vãng lai .
-Ngoài ra, nghiệp vụ tín dụng còn có các loại hình khác như tín dụng ngân quỹ ,tín dụng
bằng chữ ký …rất phong phú và đa dạng. Qua đó ngân hàng có thể đáp ứng được đầy đủ
nhu cầu vốn của các đối tượng khách hàng .
*Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, bao gồm có:
- Cho vay theo dự án: là một trong những phương pháp tài trợ cho dự án đã được xây
dựng trước. Trong đó, việc cho vay được tiến hành trên một văn bản hoàn chỉnh về việc
vay và trả nợ đã được nghiên cứu, soạn thảo, được ký kết giữa các chủ dự án và ngân
hàng, đồng thời cũng dựa trên các căn cứ khoa học kỹ thuật phù hợp với đường lối phát
triển kinh tế của nhà nuớc .
-Cho vay thuê mua (leasing):là hình thức tín dụng trung-dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho
thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê,
khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê các tài sản đó theo các điều kiện đã
thỏa thuận trong hợp đồng thuê . Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương từ
bỏ hợp đồng .
-Cho vay hợp vốn : là nghiệp vụ mà một nhóm ngân hàng sẽ cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn, trong đó sẽ có một tổ chức đứng ra làm đầu mối để dàn xếp theo quy định.
Việc phân bổ nguồn vốn huy động vào nghiệp vụ cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài
hạn sao cho có hiệu quả nhất luôn chiếm được sự quan tâm lớn của ngân hàng. Nói như
vậy bởi tín dụng là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài sản có sinh lời của
NHTM nên nó mang vai trò quyết định đến một bộ phận thu nhập của ngân hàng.
3.2.3 Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Bên cạnh nghiệp vụ Tín dụng – công cụ sinh lời chủ yếu của NHTM thì nghiệp vụ đầu tư
Tài chính cũng là nghiệp vụ sinh lời và phân tán rủi ro cho NHTM.
Đầu tư Tài chính là nghiệp vụ sử dụng vốn của Ngân hàng, đầu tư vào các Tài sản Tài
chính như: giấy tờ có giá của Nhà nước, chứng khoán của công ty, các công cụ phái sinh.
Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM chủ yếu nhằm mục đích sinh lời, kế đến là để đa
dạng hoá các khoản mục bên Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng thanh
khoản và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Tuy nhiên, khi tham gia vào lĩnh vực này, các NHTM phải tuân theo các quy định rất
nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trẩ
nợ thay. Qua dịch vụ này Ngân hàng có thể khẳng định uy tín của mình với các khách
hàng và đồng thời ngân hàng cũng thu được phí bảo lãnh, góp một phần vào thu nhập cho
Ngân hàng
*. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng trên thị trường trong nước
và thị trường Quốc tế khi NHNN cho phép.
NHTM có thể kinh doanh giao ngay (spots), giao dịch ngoại hối kỳ hạn
(forwards), hoặc giao dịch hoán đổi ( swaps), giao dịch quyền chọn (options).
Trong xu thế mở cửa giao lưu với quốc tế, để trở thành các NHTM phát triển đa năng thì
nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng đối với các NHTM. Bởi nó
không chỉ đem lại lợi nhuận trực tiếp do tỷ giá thay đổi theo chiều hướng có lợi cho
NHTM mà còn hỗ trợ để mở rộng các nghiệp vụ khác
*Dịch vụ uỷ thác
Nghiệp vụ này đã được các NHTM trên thế giới quan tâm từ rất sớm, bao gồm: uỷ thác
cho cá nhân và uỷ thác cho doanh nghiệp.
Uỷ thác cho cá nhân gồm : quản lý thanh lý tài sản theo di chúc, giám hộ và bảo quản tài
sản, quản lý điều hành tài sản theo hợp đồng với nội dung là chuyển nhượng tài sản từ
người uỷ thác sang cho người chịu thác để ngưòi này nắm giữ và điều hành tài sản vì lợi
ích của người uỷ thác.
Uỷ thác cho doanh nghiệp gồm: quản lý quỹ hưu trí, uỷ thác làm đại lý cho các tổ chức…
Nhìn chung nghiệp vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập đáng kể và
quan hệ tốt đẹp với những khách hàng có doanh số hoat động lớn.
*Dịch vụ tư vấn:
Là loại dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết và cung cấp cho bên được tư
vấn những trợ giúp của những nhân viên được đào tạo về chuyên môn một cách khách
quan độc lập.
Hơn bất cứ một doanh nghiệp nào, NHTM là một doanh nghiệp mà hoạt động kinh doanh
luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn cao bởi đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ và
nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là do đi vay dưới nhiều hình thức. Chính vì vậy trong
haot động của mình Ngân hàng là một doanh nghiệp có quan hệ với rất nhiều khách hàng,
sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại được trích lập các quỹ theo quy định;
ngược lại bị lỗ thì NHTM chịu trách nhiệm về khoản lỗ trên cơ sở điều hoà kết quả kinh
doanh của toàn hệ thống .
Doanh thu của NHTM được hình thành từ thu lãi cho vay, đầu tư, từ kinh doanh ngoại tệ,
vàng bạc và từ các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, trong đó chủ yếu là thu laxi từ hoạt
động cho vay, đầu tư. Để tăng doanh thu cho ngân hàng , một mặt phải nâng cao chất
lượng cho vay, đầu tư; mặt khác phải mở rộng hoạt động dịch vụ cho ngân hàng theo xu
hướng chung của các ngân hàng hiện đại trên thế giới.
Chi phí của NHTM bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi cảu khách hàng; hci trả lãi tièn
vay; chi kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý, chi quản lý. Trong đó chi trả lãi tiền gửi
của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Để hạ thấp chi phí nhằm đảm boả kinh doanh có
lãi phải có biện pháp sát hợp với từng loại chi phí.
NHTM áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi. Thực hiện phương
pháp dồn tích để đảm bảo các báo cáo tài chính sẽ phản ánh các khoản thu nhập đúng đắn
của NHTM trong một thời kỳ kế toán xác định ằng việc thích ứng các chi phí với thu
nhập được tạo ra.
Niên độ tài chính của NHTM được bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12. Mọi khoản
doanh thu, chi phí phải được hạch toán trong hết năm tài chính. Cuối năm (31/12),
NHTM xác định kết quả kinh doanh một lần. Tuy nhiên để có căn cứ tạm trích và trả
lương cho cán bộ, công nhân viên, tạm trích các quỹ thì hàng tháng NHTM tạm tính kết
quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi nhuận quý. Cuối năm sau khi xác định kết
quả kinh doanh chính thức sẽ thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ.
NHTM phải thưc hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật, ghi chép đầy đủ
chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản náh đầy đủ kịp thời, trung thực chính
xác cá hoạt động kinh tế, tài chính. Thực hiện chế độ quản lý tài chính của nhà nước và
của ngân hàng. Xây dựng kế hoạch tài chính, lập dự toán và quyết toán các khoản chi phí
theo quy định.
Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc
lập. Báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán độc lập NHTM phải công khai cho ba đối
tượng: Nhà nước (gồm các cơ quan quản lý tài chính, thống kê, thuế và NHNN), trong
nghiệp vụ thanh toán quốc tế… Về nguyên tắc các khoản thu về kinh doanh ngoại tệ thu
bằng ngoại tệ. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này là hết sức cần thiết do không
những tăng thu nhập mà còn tạo điều kiện cho nghệp vụ thanh toán quốc tế được thuận
lợi nhanh chóng, góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
Thu từ các hoạt động dịch vụ ( thanh toán, chuyển tiền, tư vấn, chứng khoán,…) hiện nay
ở nước ta còn rất nhỏ song với ngân hàng hiện đai trên thế giới thì khoản thu này tương
đối lớn, chiếm 40 - 45 %. Vì vậy, các ngân hàng Việt Nam cần ra sức phấn đấu tăng
nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
*Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM :
Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM được phản ánh và bố trí ở loại 7 trong hệ
thống tài khoản của TCTD
- Thu về hoạt động tín dụng : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 70
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ : phản ánh ở TK cấp 1 số 71
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
- Các khoản thu nhập bất thường: phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 79
Kết cấu của tài khoản thu nhập :
Bên có ghi:-Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên nợ ghi:-Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm.
- chuyển số dư có cuối năm vào tài khoản lợi nhuận trong năm nay khi quyết toán
Số dư có: - Phản ánh số thực thu trong năm
2.2 Các khoản chi phí của NHTM
Đối ứng với các khoản thu nhập, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác cần phải bỏ ra
các chi phí để duy trì các hoạt động của mình. Các khoản chi phí của NHTM gồm có :
Chi phí về huy động vốn như : chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay, chi trả lãi việc phát
hành giấy tờ có giá và các chi phí khác liên quan đến huy động vốn.
Trong đó việc trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của ngân hàng
thương mại, nhưng đây là khoản chi không thể hạn chế hay tiết kiệm vì đây là chi cho
nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM. Mức chi phụ thuộc vào số dư tiền gửi của
khách hàng và lãi suất phải trả theo quy định của nhà nước. Chi trả lãi tiền vay phụ thuộc
vào số dư tài khoản tiền vay của ngân hàng, thời hạn vay và lãi suất vay được thoả htuận
tổn thất về vốn. Đây là cơ sở đẻ giúp các nhà quản lý ngân hàng dưa ra các quyết định
đúng đắn trong kinh doanh và có biện pháp tiết kiệm chi phái có hiệu quả.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mai.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mại được bố trí ở loại 8 trong hệ thống
tài khoản của các TCTD.
- Chi về hoạt động huy động vốn : Tài khoản cấp I số 80
- Chi về dịch vụ ngân quỹ : Tài khoản cấp I số 81
- Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí : Tài khoản cấp I số 83
- Chi cho nhân viên : Tài khoản cấp I số 84
- Chi cho hoạt động quản lý và công vụ : Tài khoản cấp I số 85
Kết cấu của tài khoản chi phí
Bên nợ ghi : - Các khoản chi về hoạt động trong năm
Bên có ghi : - Số tiền thu được để giảm chi trong năm.
- Chuyển số dư nợ cuối năm vào tài khoản lợi nhuận năm nay khi quyết toán
Số dư nợ : Phản ánh số thực chi trong năm.
2.3. Kết quả kinh doanh của NHTM
Kết quả kinh doanh của NHTM hay lợi nhuận là khoản chênh lệch được xác định giữa
tổng doanh thu phải trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ, bao gồm lợi
nhuận trong hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận trong hoạt động khác. Việc xác định kết
quả kinh doanh được thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán niên độ.
Tài khoản phản ánh kết quả kinh doanh được bố trí ở loại 6 của hêj thống tài khoản các
TCTD, cụ thể la tài khoản cấp I số 69 “ Lợi nhuận chưa phân phối”. Tài khoản 69 có 2 tài
khoản cầp II.