Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản thực trạng và giải pháp - Pdf 20

Lời mở đầu
Trước năm 1993 trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có một công ty
bảo hiểm duy nhất đó là Bảo Việt.Vì vậy mọi khách hàng tham gia bảo hiểm
đều phải qua Bảo Việt do đó Bảo Việt nắm rõ mọi thông tin về khách
hàng.Tuy nhiên sau khi có nghị định 100/CP (ngày 18/12/1993) nhiều doanh
nghiệp mới được thành lập thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động hơn chấm
dứt thời kì độc quyền của Bảo Việt.Với nhiều doanh nghiệp mới được thành
lập nên cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng quyết liệt, gay gắt
hơn.Khi thị trường bảo hiểm phát triển thì các hình thức gian lận, trục lợi
cũng ngày càng gia tăng- đây cũng là một tất yếu khách quan không chỉ ở thị
trường bảo hiểm Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều phải đối mặt
với thực trạng này.
Trục lợi bảo hiểm là một yếu tố làm tăng chi phí cho các DNBH, ảnh
hưởng không nhỏ đến lợi nhuận thu được của mỗi công ty.Hoạt đông này
ngày càng gia tăng về số lượng cũng như tính chất nghiêm trọng của vụ
việc.Vì vậy, công tác phòng chống TLBH trở nên cần thiết và quan trọng thực
hiện tốt công tác này sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận của công ty.
Trước sự cần thiết của công tác phòng chống TLBH vì vậy khi làm đề
án môn học em đã chọn đề tài: “Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản:
thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu.Do trình độ và kinh nghiệm thực tế
còn nhiều hạn chế nên bài viết của em không thể tránh khỏi những sai sót.Em
kính mong được sự góp ý của cô giáo TS.Phạm Thị Định để bài viết của em
được hoàn thiện.
1
I.Vấn đề trục lợi trong bảo hiểm tài sản
1.Trục lợi bảo hiểm là gì?
Khi thị trường bảo hiểm phát triển thì tất yếu gian lận và trục lợi bảo
hiểm sẽ có xu hướng gia tăng. Đây có thể coi là một rủi ro lớn đối với các
công ty BH trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Vậy trục lợi BH là gì?
TLBH là hành động của một người hoặc nhóm người nào đó(người
được BH,người thụ hưởng BH,cán bộ BH,cán bộ y tế,cán bộ công an,…)có

vô danh” thì ngay tại khoản 4 lại quy định” Đơn Bh phải có những nội dung
cơ bản sau đây: tên người được bảo hiểm hoặc có quyền lợi bảo hiểm…”.Tuy
nhiên tại điều13 luật kinh doanh bảo hiểm lại quy định hợp đòng bảo hiểm
phải có những nội dung cơ bản: “Tên, địa chỉ của DNBH, bên mua BH, người
thụ hưởng hoặc người được BH…”. Còn ở Điều 14 lại quy định : “Hợp đồng
bảo hiểm phỉa được lập thành văn bản….”.Từ những quy định trong các
nguồn luật nêu trên thì sẽ không có “Đơn bảo hiểm vô danh” như quy định
của luật hàng hải.
Tuy nhiên do quy tắc áp dụng luật là luật riêng được áp dụng trước luật
chung thì trong trường hợp này luật hàng hải lại được ưu tiên áp dụng trước
luật kinh doanh bảo hiểm.
-Các chế tài xử phạt về hành vi trục lợi còn quá nhẹ không đủ sức răn đe
những kẻ có hành vi trục lợi.
Hiện nay theo Nghị định số:118/2003/NĐ-CP ban hành ngày
13/10/2003;Thông tư 31/2004/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành thì cá nhân
tổ chức có hành vi trục lợi bảo hiểm có thể bị xử phạt từ 1.000.000 đến
5.000.000 đồng.Với mức xử phạt này nếu hành vi trục lợi bị phát hiện thì
cũng chỉ bị phạt tối đa là 5 triệu đồng trong khi đó nếu việc trục lợi thành
công thì số tiền trục lơi lớn hơn rất nhiều có thể lên đến hàng tỉ đồng.Sự
chênh lệch quá lớn này có thể tiếp tay cho những kẻ có tư tưởng “ Được ăn cả
ngã về không” thực hiện hành vi trục lợi.
3
-Nhận thức của người dân về pháp luật nói chung và pháp luật về bảo
hiểm còn nhiều yếu kém hạn chế.
Pháp luật của một quốc gia là quy tắc để mọi người xử sự điều chỉnh
hành vi của mình.Tuy nhiên hiện nay do trình độ dân trí của mọi người dân
còn thấp nên mọi người cũng hiểu một cách mơ hồ về các văn bản pháp luật
nói chung và các văn bản pháp luật về bảo hiểm nói riêng.
Một bộ phận không nhỏ người dân cho rằng quỹ BH là một quỹ phúc
lợi xã hội nhiều người còn đứng ra làm chứng giả cho các đối tượng trục lợi

hiểm với nhiều lợi ích hấp dẫn.Các doanh nghiệp không thể kiểm soát được
việc trao đổi gặp gỡ giữa nhân viên với khách hàng.Vì vậy rất khó cho doanh
nghiệp khi bị nhân viên của mình “phản bội”.
-Thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển nên cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt quyết liệt.Vì vậy việc trao đổi thông tin
giữa các doanh nghiệp với nhau còn rất hạn chế và hầu như không có.Mọi
doanh nghiệp luôn muốn giữ kín mọi thông tin liên quan đến khách hàng của
mình.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng TLBH diễn ra
thuận lợi , có khi cùng một mánh khóe thủ đoạn nhưng có thể thực hiện thành
công ở rất nhiều công ty BH khác nhau.Khi các vụ trục lợi bị phát hiện thì các
doanh nghiệp cũng không muốn làm to chuyện mà họ chỉ cần ngăn chặn được
tổn thất bởi vì:
+Khi làm to chuyện thì sẽ ảnh hưởng đến tâm lí của khách hàng còn lại
của công ty, từ đó tạo ra tâm lí không tin tưởng và hoang mang.vì vậy việc
giữ chân khách hàng cũng như thu hút thêm khách hàng mới là rất khó điều
này ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
+Các doanh nghiệp cũng chỉ cần đạt được mục đích ngăn chặn tổn thất
chứ không có ý định phạt hay đưa nhau ra tòa.Vì chí phí theo kiện cũng
không nhỏ, nếu kéo dài không những chi phí tốn kém mà còn làm ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của công ty.Như vậy không chỉ làm cho chi phí
5
tăng mà còn làm giảm doanh thu nên cách tốt nhất là các doanh nghiệp không
khiếu kiện khi phát hiện khách hàng có hành vi trục lợi.
+Trong KDBH nó còn liên quan đến các mối quan hệ, có thể đối tượng
trục lợi lại là người thân quen của một khách hàng lớn.Nếu làm to chuyện thì
không hay, có thể sẽ mất đi một khách hàng lớn tiềm năng và như vậy sẽ làm
ảnh hương đến kết quả của doanh nghiệp.
-Sự chủ quan của các doanh nghiệp trong quá trình giám định bồi thường
Hầu hết đối với các hồ sơ bồi thường có số tiền tổn thất nhỏ(<10 triệu

nhiệm dân sự. Đối với BHTS hiện tượng trục lợi thường diễn ra dưới các hình
thức phổ biến như:
-“Cháy hàng” rồi mới mua bảo hiểm
Có nghĩa là khi tổn thất thực tế đã xảy ra chủ sở hữu tài sản mới đi mua
BH. Đây là hình thức trục lợi rất phổ biến, kiểu trục lợi này thường nảy sinh
khi sự cố tai nạn đã xảy ra mà chủ tài sản chưa mua BH.Tuy nhiên kiểu trục
lợi này chỉ có thể thành công khi có sự tiếp tay của cán bộ nhân viên trong
công ty bảo hiểm.Bởi vì một trong những nguyên tắc của hoạt động KDBH là
“ rủi ro có thể bảo hiểm”.Theo nguyên tắc này các công ty BH chỉ có thể BH
cho những rủi ro bất ngờ, không lường trước được.Các công ty BH sẽ không
BH cho những rủi ro đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra.Trước khi bán dịch
vụ BH cho khách hàng các công ty bảo hiểm phải đánh giá rủi ro cho đối
tương BH nếu thấy rủi ro đó có thể BH được thì mới cấp đơn bảo hiểm cho
khách hàng và hợp đồng bảo hiểm mới bắt đầu có hiệu lực.Vì vậy hành vi
trục lợi này chỉ có thể thành công khi có sự tiếp tay giữa người tham gia bảo
hiểm với các cá nhân trong công ty bảo hiểm để thực hiện hành vi trục lợi,
cùng chia nhau số tiền trục lợi được từ công ty.
-Khai tăng số tiền tổn thất từ các vụ tai nạn
Một trong những nguyên tắc của BHTS là nguyên tắc bồi thường:
STBT=Giá trị thiệt hại thực tế*(STBH/GTBH)
7
Vì vậy trong mọi trường hợp số tiền bồi thường mà người tham gia bảo
hiểm nhận được không thể vượt quá giá trị thiệt hại thực tế.Vì nguyên tắc này
mà một số kẻ đã trục lợi bằng cách khai tăng số tiền tổn thất trong các vụ tai
nạn dưới nhiều hình thức như thực tế tài sản không bị hư hỏng, không bị sửa
chữa nhưng ngươi tham gia BH vẫn kê khai vào hồ sơ khiếu nại đòi bồi
thường, sửa chữa.
Hoặc người được BH “mượn gió bẻ măng” lợi dụng tổn thất đã xảy ra
để làm hư hỏng thêm hoặc phá hủy tài sản đã tham gia BH nhằm được bồi
thương cao hơn hoặc thay thế tài sản đã bị hư hỏng đã cũ bằng một tài sản

không tham gia bảo hiểm.Lúc đó những kẻ trục lợi sẽ tháo biển số xe của
một chiếc xe khác đã mua bảo hiểm đến nơi xảy ra tai nạn.Sau đó sẽ báo cho
công ty bảo hiểm đến giám định và yêu cầu bồi thường.tuy nhiên để thực hiện
được hành vi này thì phải có sự chuẩn bị từ trước.Bởi vì khi khách hàng yêu
cầu bồi thường thì các công ty bảo hiểm thường yêu cầu khách hàng phải có
giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực.
-Trục lợi bảo hiểm thông qua bảo hiểm trùng
Trong BHTS áp dụng nguyên tắc đóng góp khi có bảo hiểm trùng.Bảo
hiểm trùng là trường hợp cùng một đối tượng BH được bảo hiểm bởi nhiều
đơn khác nhau( hai đơn trở lên) cho cùng một thời hạn bảo hiểm cùng một
phạm vi bảo hiểm và có tổng số tiền bảo hiểm từ tất cả các hợp đồng bảo
hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm.Và khi có tổn thất xảy ra thì tổng số tiền bồi
thường từ tất cả các đơn không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.Số
tiền bồi thương của mỗi công ty được phân bổ theo nguyên tắc đóng góp dựa
trên số tiền bảo hiểm hoặc phí bảo hiểm của từng đơn.
Dựa vào nguyên tắc này một số kẻ đã trục lợi bằng cách dùng tài sản để
tham gia bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau.Và khi có rủi ro xảy
ra thì đòi tất cả các công ty bảo hiểm bồi thường.Do cạnh tranh giữa các công
9
ty bảo hiểm với nhau rất gay gắt nên việc trao đổi thông tin giữa các doanh
nghiệp với nhau hầu như không có.Chính vì vậy cùng một đối tượng bảo
hiểm có thể tham gia bảo hiểm tại rất nhiều công ty bảo hiểm khác nhau mà
các công ty bảo hiểm không hề biết.Và khi tổn thất xảy ra thì tất cả các công
ty bảo hiểm đều bồi thường cho tổn thất đó dựa vào tổn thất thực tế mà không
hề dựa vào nguyên tắc đóng góp.
Đại lí bán bảo hiểm nhưng không nộp phí về cho công ty bảo hiểm
Thông thường các hợp đồng bảo hiểm thường có thời hạn bảo hiểm dưới
một năm, có những nghiệp vụ chỉ có thời gian bảo hiểm trong mấy
ngày.Chính vì có thời hạn ngắn, trách nhiệm phát sinh trong thời hạn ngắn
nên một số đại lí bảo hiểm khi bán bảo hiểm đã không nộp phí về cho công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status