TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--o0o--
Bộ môn:
KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài:
NHỮNG KIẾM KHUYẾT CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
VÀ GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên:
MSSV:
Lớp:
STT:
Năm học 2009 - 2010
LỜI MỞ ĐẦU
Trên con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã chọn cho
mình mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay,
kinh tế thị trường vẫn là mô hình kinh tế ưu việt nhất vơi các ưu điểm như
− Có sự phối hợp tự động, linh hoạt, mềm dẻo, nhanh nhạy…giữa các
khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình.
− Khuyến khích cải tiến, đổi mới và phát triển.
− Tự điều chỉnh những trạng thái mất cân bằng cung cầu và xác lập lại
những trạng thái cân bằng mới.
− Phân bổ các nguồn lực hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu diểm đó vẫn tồn tại những khuyết điểm
không nhỏ như
− Các tác động ngoại vi.
− Sự phân hóa giàu – nghèo.
− Thiếu hàng hóa công cộng.
− Sự gia tăng quyền lực độc quyền.
− Chu kì kinh doanh.
− Thông tin thị trường lệch lạc.
− Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhân, tối thiểu hóa chi
phí. Trong khi đó, để ngăn chặn hay giải quyết các tác động ngoại vi tiêu cực
đòi hỏi chi phí rất lớn
− Các doanh nghiệp thường không là người trực tiếp gánh chịu hậu
quả do các tác động ngoại vi tiêu cực của mình gây ra.
− Ý thức về tác hại của các tác động ngoại vi còn thấp.
3. Biểu hiện
Thực tế chứng minh, hầu hết các doanh nghiệp chưa có ý thức bảo vệ tài
nguyên môi trường, lợi ích xã hội. Ở nước ta hiện nay có tới hơn 80% các
3
doanh nghiệp chưa có trách nhiệm trong việc giải quyết các tác động tiêu cực do
mình gây ra.
Một trong những biểu hiện nổi bật nhất hiện nay của các tác động ngoại
vi tiêu cực ở nước ta là ô nhiễm môi trường. Đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước và
ô nhiễm do chất thải rắn.
Về ô nhiễm nguồn nước:
Theo ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường, Bộ Tài
nguyên và Môi trường, trong tổng số 183 Khu công nghiệp trong cả nước, có
trên 60% Khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tại các
khu công nghiệp đã có thì cơ sở hạ cũng hầu như chưa đạt tiêu chuẩn.
Ở Tp. Hồ Chí Minh, trong số 12 khu Công nghiệp chỉ có 2 khu là có hệ
thống xử lý nước thải. Chỉ tính riêng tại cụm công nghiệp Tham Lương, Tp.
HCM, mỗi ngày ước tính có khoảng 500.000 m
3
nước thải độc hại từ các nhà
máy xả vào môi trường.
Ở thành phố Thái Nguyên, về mùa cạn, tổng lượng nước thải công nghiệp
chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu. Nước thải từ sản xuất giấy có pH từ
8,4-9 và hàm lượng NH
4
khoảng 25.000 tấn/năm, chất thải rắn nguy hại công nghiệp vào khoảng 130.000
tấn/năm.
Bên cạnh hai vấn đề ô nhiễm nổi bật
trên còn tồn tại hàng loạt những vấn đề ô nhiêm môi trường khác. Nền kinh tế
thị trường, khoa học kỹ thuật càng phát triển thì không chỉ lượng chất thải ngày
càng tăng lên, mà còn xuất hiện thêm nhiều loại ô nhiễm môi trường mới như ô
nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm do các nhà máy nguyên tử, các lần
phóng vệ tinh nhân tạo…
4. Tác động
Nền kinh tế thị thường càng phát triển, ảnh hưởng do các tác động ngoại
vi của nó gây ra cho tự nhiên, môi trường và xã hội ngày nghiêm trọng và cái
giá mà chúng ta phải trả ngày càng lớn.
Đến sức khỏe con người:
Suy thoái của chất lượng nước, không khí và những nguy hiểm khác về
môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sức khỏe con người, dẫn
đến sự suy giảm sức khỏe và các bệnh tật liên quan, bao gồm cả các căn bệnh
gây ra bởi vi trùng và côn trùng do sự thay đổi của khí hậu như sốt rét, vàng
da…Theo tổ chức thế giới đã có khoảng 2 triệu người chết vì các bệnh liên quan
đến môi trường.
Không chỉ có tác động trực tiếp, ô nhiễm môi trường còn để lại những
hậu quả lâu dài có khi đến vài thế hệ. Điển hình là sự bùng nổ các làng ung thư
5
ở Việt Nam. Sau làng ung thư đầu tiên ở Thạch Sơn – Phú Thọ, liên tiếp một
loạt các làng ung thư khác được nhắc tới ở Hà Nam, Hà Tây, Nghệ An, Quảng
Nam và mới đây nhất là làng ung thư ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng. Có nơi số
người chết lên tới hơn 1/3 dân số của làng, bao gồm cà người già và trẻ em – tất
cả đểu liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Đến nền kinh tế:
Ô nhiễm môi trường làm suy yếu sức khoẻ con người, từ đó dẫn đến giảm
năng suất lao động, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, sự suy thoái của
nguồn gốc cơ bản nhất dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo.
Những người sở hữu nhiều tư liệu sản xuất trước hết có nhiều khả
năng tạo ra nhiều của cải vật chất hơn. Đồng thời họ có điều kiện tích tụ, tập
trung…mở rộng quy mô sản xuất, làm cho bản thân ngày càng giàu thêm.
Những người sở hữu ít hoặc không sở hữu tư liệu sản xuất, trước hết
thiếu hẳn “phương tiện” để làm ra cái ăn, nuôi sống bản thân, buộc phải bán sức
lao động cho các nhà tư bản, chịu sự bóc lột của giai cấp này, càng trở nên
nghèo khó.
− Khả năng sử dụng công nghệ: Mối cá nhân
trong xã hội có năng lực khác nhau, hưởng sự giáo dục khác nhau…nên khả
năng sử dụng công nghệ cũng khác nhau. Những người nắm được công nghệ
cao sẽ đạt được năng suất lao động cao hơn, thu nhập nhiều hơn.
8
H. Cá chết do
ô nhiễm môi
trường nước
− Sự chênh lệch điều kiện sống: Những người
sống và làm việc ở các vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội tốt hơn thường có thu
nhập cao hơn (đồng bằng – miền núi, nông thôn – thành thị…)
− Quyền lực và uy tín: Những người có quyền lực
và uy tín cao trong xã hội thường có thu nhập cao hơn.
2. Biểu hiện
Phân hóa giàu nghèo trước hết thể hiện ở mức chênh lệch thu nhập.
Chúng ta cùng xem xét bảng bảng so sánh nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất
ở nước ta giai đoạn 1994-1999 của Tổng cục thống kê (mối nhóm điều tra 20%,
đơn vị tính: lần)
Năm 1994 1995 1996 1999
Cả nước 6.5 7.0 7.3 8.9
Theo khu vực
Thành thị 7.0 7.7 8.0 9.8
− Góp phần khơi dậy tính năng động trong mỗi con người, mỗi
nhóm xã hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác các cơ may, vận hội để phát
triển vượt lên.
− Tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, qua đó
sàng lọc và tuyển chọn ra những người có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết
trở thành thành viên của nhóm vượt trội, động lực cho sự phát triển của một
ngành nghề, một lĩnh vực hay một địa phương.
Tiêu cực:
− Kinh tế: Sự phân hóa giàu – nghèo giữa các vùng gây khó khăn
cho nhà nước trong việc quy hoạch ổn định, cân đối các ngành tại các vùng
khác nhau. Không phát huy được toàn bộ nội lực của nền kinh tế và mọi khả
năng trong tầng lớp dân cư.
− Chính trị: Chênh lệch lợi ích tất yếu sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn
giữa các tầng lớp trong xã hội. Khi tới đỉnh điểm sẽ dẫn tới xung đột, gây bất ổn
về mặt chính trị. Một đất nước bất ổn chính trị sẽ khó có cơ hội để phát triển
kinh tế. Gây nên sự hoang mang, dao động tinh thần của đông đảo tầng lớp
người lao động đối với chính quyền sở tại.
10
− Văn hóa: Khi điều kiện sống khác nhau, sự tiếp thu, giữ gìn,
phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc trong các tầng lớp dân cư cũng khác nhau,
gây cản trở phát triển văn hóa.
− Xã hội: Chênh lệch giàu – nghèo càng lớn, sự bất bình đẳng
trong xã hội càng được tăng cường, cơ hội phát triển càng nghiêng về phía
người giàu. Những người nghèo thường được hưởng rất ít những dịch vụ xã hội
như y tế, giáo dục… Sự bất bình đẳng này làm xuất hiện sự chia rẽ trong nội bộ
các tầng lớp dân cư, dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết trong xã hội.
Đồng thời, sự bất bình đẳng này kiến nhiều cá nhân quyết tâm làm giàu
bằng mọi cách kể cả bằng con đường phi pháp. Theo thống kê, trong 20% số hộ
thu nhập cao nhất xuất hiện ngày càng nhiều những biểu hiện làm giàu bất chính
như tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp, gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng
Nền kinh tế thị trường luôn hướng các doanh nghiệp, cá nhân đến mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuân. Trong khi đó, với 2 tính chất của mình, hàng hóa công
cộng khiến cho cả các cá nhân lẫn các doanh nghiệp đều không có động lực để
chi trả cho việc sản xuất nó.
− Với các cá nhân: với hai tính chất của mình, hàng hóa công cộng
khiến cho mọi thành viên trong xã hội đều có khả năng sử dụng hàng hóa công
cộng như nhau dù có trả tiền hay không. Dẫn tới tình trạng mọi cá nhân trong xã
hội đều không có động lực để chi trả cho hang hóa công cộng.
− Với các doanh nghiệp: Hệ quả tất yếu của việc các cá nhân trong xã
hội đều không muốn chi trả cho hang hóa công cộng, là doanh nghiệp – những
người sản xuất ra nó sẽ phải chịu tổn thất. Điều này khiến các doanh nghiệp
không co động lực để sản xuất hàng hóa công cộng, tất yếu dẫn đến sự thiếu
hụt.
3. Biểu hiện
Ở nước ta, hệ thống các đô thị là một trong những nơi dễ nhân thấy nhất
hiện tượng thiếu hụt hàng hóa công cộng.
12
Dân số sống tại đô thị ngày càng tăng cao (dự kiến đến năm 2020 sẽ
chiếm 45% dân số cả nước) trong khi hạ tầng kỹ thuật của tất cả các thành phố
vẫn chưa đáp ứng được nhu câu đặt ra.
Hạ tầng kỹ thuật tại các đô thị Việt Nam rất yếu và thiếu, đặc biệt là hệ
thống giao thông. Mật độ mạng lưới đường thấp, ước tính tại các thành phố lớn
như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng chỉ đạt 4-5 km/km
2
. Tại các
đô thị loại 2, 3 con số này chỉ bằng một nửa. Bên cạnh đó, mạng lưới đường này
lại phân bố không đều, thiếu sự liên thông. Đường phố ngắn, lộ giới hẹp, chất
lượng xấu nhưng lại nhiều giao cắt. Các nút giao thông phần lớn là đồng mức,
nhỏ hẹp lại không hợp lý, diện tích đất dành cho giao thông tĩnh quá thấp. Ước
tính, tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 10% đất xây dựng đô thị trong khi
giao hàng không đúng hạn, lỡ các cuộc họp và các tác động khác còn chưa được
tính đến.
− Đối với xã hội, con người:
Sự thiếu hụt hàng hóa và các dịch vụ công cộng kiến chất lượng
cuộc sống con người bị giảm sút: Thiếu trường học, nhiều học sinh miền núi
không được đến trường, trình độ học vấn thấp. Thiếu cơ sở y tê, dẫn đến sức
14
khỏe người dân không được chăm sóc đầy đủ…kìm hãm sự phát triển của xã
hội.
Thiếu hàng hóa công cộng còn tác động trực tiếp đến sức khỏe
con người: Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Quốc gia về môi trường và sức
khỏe Neuherberg (Đức) khẳng định: những người thường xuyên bị kẹt xe có
nguy cơ mắc bệnh tim cao gấp 3 lần những người chưa hề chịu đựng cảnh này.
Cứ 12 người bị bệnh tim thì có 1 trường hợp liên quan đến giao thông! Ở các
vùng chưa có hệ thống cung cấp nước sạch, người dân sử dụng các nguồn nước
tự nhiên không rõ chất lương dễ phát sinh và lây lan dịch bệnh…
IV. Chu Kỳ Kinh Doanh (Business Cycles)
1. Khái niệm: Chu kỳ kinh doanh (hay chu kỳ kinh tế) là các biến động
tái diễn nhưng không phải định kỳ trong công việc kinh doanh chung và trong
các hoạt động kinh tế của 1 quốc gia trong những khoảng thời gian nhiều năm.
Hay nói cách khác Chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo
trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ).
Người ta thường biểu diễn các chu kỳ kinh doanh bằng sự giao động của
GDP thực tế xung quanh xu hướng tăng trưởng của nó.
15
Các pha của chu kỳ kinh doanh
16
− Suy thoái : là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản,
người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt