Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Muốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu phải dựa vào nâng
cao năng suất lao động. Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để nâng cao
năng suất lao động là vấn đề luôn được quan tâm từ trước tới nay.
Trước đây, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sử dụng chỉ tiêu năng suất
lao động để đánh giá chất lượng của các cơ sở kinh tế quốc dân. Nhưng, từ khi
đổỉ mới cơ chế kế hoạch hoá, chỉ tiêu năng suất lao động ít được chú ý đến, tình
hình này làm cho những nghiên cứu tính toán của các chỉ tiêu năng suất lao
động trong ngành cơ khí nói riêng cũng như toàn nền kinh tế nói chung có phần
bị sao nhãng. Vài năm gần đây nhu cầu đánh giá, xác định hiện trạng của sự
phát triển chung nền kinh tế cũng như trong ngành cơ khí nước ta trong quan hệ
giao lưu hợp tác quốc tế mở rộng, thì các chỉ tiêu năng suất lao động trong
ngành cơ khí đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện hơn.
Với tinh thần đó sau quá trình thực tập tại công ty cơ khí chính xác số I,
em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động
tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội’’.
Do quá trình thực tập có hạn, bản chuyên đề của em không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế mong thầy cô giáo, ban lãnh đạo công ty thông cảm và
đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn.
Nội dung của chuyên đề gồm những phần sau:
Phần I: Những lý luận cơ bản về năng suất lao động.
Phần II: Phân tích năng suất lao động tại công ty CKCXI.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty.
PHẦN I
Những lý luận cơ bản về năng suất lao động
I. KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG.
1. Khái niệm năng suất lao động.
Theo Các Mác thì năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thể có
ích’’
(1)

Lợi ích từ năng suất được phân chia tốt hơn cho chủ sở hữu, người lao động và
khách hàng.
2. Tăng năng suất lao động.
Tăng năng suất lao động “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao
động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự
thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng
hoá, sao cho số lượng lao động
h
ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá
trị sử dụng hơn’’
(3)
.
II. PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT
Việc phân loại năng suất phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có
hai cách phân loại chủ yếu sau:
1. Căn cứ vào tính chất, năng suất chia thành ba loại: tổng năng suất, năng
suất nhân tố tổng hợp và năng suất bộ phận.
a. Tổng năng suất.
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả các
yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà
không đi sâu phân tích đóng góp của từng yếu tố riêng và được tính theo công
thức sau:
Pt =Qt/ (L+C+R+Q)
h
(2). Tạp chí Năng suất lao động
Trong đó:
Pt là tổng năng suất.
Qt là tổng đầu ra.
L là nhân tố lao động.
C là nhân tố đầu vào.

với tổng đầu vào có điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian nhất
định. Vì thế, cạnh tranh scủa doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí và chất lượng
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp với chất lượng cao của sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tạo ra sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
c. Năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở một
nước cụ thể. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và là
tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là chỉ số
của nền kinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước.
III. NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.
1. Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kính tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Hiệu quả
là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt động kinh tế cuả
doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà bao gồm
cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của các nước,
khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng suất được hiểu
hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức độ sử dụng các
nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc khai thác, huy động
sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn. Tính hiệu qủa chủ
yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức độ thoả mãn người
tiêu dùng, mức độ bảo đảm các yêu cầu về xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá
thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và nguồn lực để tăng lợi nhuận lẫn việc mở rộng số lượng và chủng loại
hàng hoá, nâng cao không ngừng chất lượng và dịch vụ của hàng hoá nhằm tăng thoả mãn của hàng hoá đối với
người tiêu dùng và cả xã hội. Nâng cao năng suất cần thiết phải bảo đảm sử dụng nhiều lao động hơn với chất
lượng lao động cao hơn.
2. Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh.
Quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh là mối quan hệ nhân quả,
tác động qua lại lẫn nhau.
Trong mối quan hệ năng suất và cạnh tranh thì năng suất là cơ sở cho

Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự thay
đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện sự
chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những khu
vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm, lao
động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
bản và là thước đo hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. Về nguyên tắc,
tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân. Bởi vì:
a. Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức chi
phí lao động bình quân cho một đơn vị sản phẩm (ULC). Nâng cao năng suất lao
động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm.
ULC = tổng chi phí lao động/tổng sản phẩm
Chia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC = (tổng chi phí lao động/lao động)/ (tổng sản phẩm/lao động)
= Mức tiền lương bình quân/năng suất lao động
Từ đó ta có:
Tốc độ tăng mức chi phí lao động/sản phẩm = (tốc độ tăng tiền lương)
– (tốc độ tăng năng suất lao động)
Để tăng tính cạnh tranh, thì (tốc độ tăng chi phí lao động/sản phẩm) < 0 hay
ta có:
Tốc độ tăng năng suất lao động > tốc độ tăng tiền lương
b. Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của tổng năng suất chung.

: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào phụ
thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu sau:
năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá trị; năng
suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện mức
năng suất lao động cuả một công nhân hoặc một công nhân viên.
Công thức tính: W = Q/ T
Trong đó:
W là mức năng suất lao động một công nhân hay một công nhân viên.
Q là tổng sản lượng tính bằng hiện vật.
T là tổng số công nhân hoặc công nhân viên.
Ưu điểm cuả chỉ tiêu này là biểu hiện mức năng suất lao động một cách
cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của sự biến động về giá cả, có thể so
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau
theo một loại sản phẩm được sản xuất ra.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như: chỉ có thể sử
dụng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể làm chỉ tiêu
tổng hợp cho nhiều loại sản phẩm khác nhau. Chỉ tiêu này không dùng để tính
cho sản phẩm dở dang được.
2. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng giá trị.
Chỉ tiêu này dùng sản lượng tính bằng tiền (theo giá trị cố định)của tất cả
các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp (hoặc ngành) sản xuất ra để biểu hiện
mức năng suất lao động của một công nhân (hoặc một công nhân viên).
Công thức tính:

), lượng lao động chung(L
ch
), lượng lao động sản
xuất (L
sx
),lượng lao động đầy đủ (L
đđ
)và được biểu hiện theo công thức sau:
L
ch
= L
cn
+ L
pv
L
sx
= L
ch
+ L
qvs
L
đđ
= L
sx
+ L
ql
L
đđ
= L
cn

gắn liền với phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất; các yếu tố gắn liền với
điều kiện thiên nhiên.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ nhất
làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thường
bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế
cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho các náy móc cũ.
Cùng với quá trình phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất, trình độ
sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động ngày một được nâng cao, các
nguyên vật liệu mới với các tính năng đa dạng, tiện lợi và hữu ích hơn ngày một
xuất hiện nhiều thay thế cho các nguyên vật liệu cũ đã kéo theo sự gia tăng năng
suất lao động xã hội ngày một cao, khoảng cách giữa năng suất lao động trước
kia và ngày nay càng một xa hơn.
Con người và quản lý con người tác động rất lớn đến năng suất lao
động. Để đạt năng suất tối đa cần tạo ra môi trường tốt nhất cho phối hợp giữa
quản lý, lao động và yếu tố công nghệ. Mối quan hệ đó bản thân nó là kết quả
của năng suất. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động,
hình thành tinh thần quản lý mới trong đó luôn tôn trọng và khuyến khích tính tự
chủ, sáng tạo của lực lượng lao động tao ra sức mạnh tổng hợp phát huy hiệu
quả của các yếu tố sản suất, đặc biệt là con người.
Cũng như quản lý, lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác
động tới năng suất lao động. Năng suất của mỗi quốc gia, ngành và doanh
nghiệp phụ thuộc vào trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và năng
lực của đội ngũ lao động. Nêú không có sự phối hợp phát triển tốt nguồn nhân
lực thì các yếu tố vốn, công nghệ khó có thể phát huy tác dụng.
Trong một doanh nghiệp, khi xét đến các nhân tố tác động tới năng suất
lao động thì người ta thường đề cập đến các nhân tố như:
+ Biến động về mức và tốc độ năng suất lao động qua một số năm.
+ Kết cấu công nhân viên ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh
nghiệp như thế nào.
+ Khả năng giảm lượng lao động của sản phẩm để tăng năng suất lao

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHỦ
YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI
CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành, phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công
ty.
* Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cơ khí chính xác số I có trụ sở chính ở số 275 đường Nguyễn Trãi
quận Thanh Xuân – Hà Nội. Điện thoại liên lạc: 8584387 và 8581694
Tổng diện tích mặt bằng nhà máy là 21750 m
2
. Trong đó, diện tích văn
phòng và cửa hàng là 5950 m
2
, diện tích kho và nhà xưởng là 15800 m
2
.
Công ty cơ khí chính xác số I là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng công ty máy động lực, máy nông nghiệp thuộc bộ công nghiệp, có tư cách
pháp nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, được mở tài khoản tại
ngân hàng, có con dấu riêng theo quyết định của Nhà nước.
Trên cơ sở nhà máy cơ khí điện ảnh sát nhập với phân xưởng thuỷ lực của
nhà máy công cụ số I. Công ty cơ khí chính xác được mang tên thành lập theo
quyết định số 1091- CL/CB ngày 04/12/1978 của bộ trưởng bộ cơ khí luyện
kim.
Các giai đoạn phát triển của công ty:
Từ năm 1962-1978, công ty chuyên sản xuất máy chiếu phim, sản xuất
phụ tùng máy chiếu.
Từ năm 1979-1995, công ty chuyên sản xuất quạt điện, sản xuất tủ hồ sơ,
tủ văn phòng, sản xuất két bạc, sản xuất phụ tùng, linh kiện xe máy.

Chỉ tiêu Đơn
vị
1996 1997 1998 1999 2000 2001
1. Giá trị tổng sản lượng Triệu
đồng
1830
0
1400
0
1660
0
1970
0
2080
0
2300
0
2. Tổng doanh thu Triệu
đồng
1460
0
1103
0
1420
0
1520
0
1700
0
2000

4
30,7
3
37,8
1
39,5
3
44,4
4
8. NSLĐ bình quân 1 công
nhân sản xuất (8=1/3b,
hoặc 2/3b)
Triệu
đồng
36,3
2
33,6
2
42,1
4
48,7
2
50 56,1
8
9.Tiền lương bình quân
(9=4/3)
Triệu
đồng
3,62 4,22 4,76 5,72 5,58 5,77
Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm của công ty

tắc trả lương, tức là tốc độ tăng tiền lương bình quân định gốc nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân.
Ngoài thu nhập từ sản xuất kinh doanh, công ty còn có thêm nguồn thu nhập khác từ: cho thuê phân
xưởng, toà nhà cho thuê. Công ty còn có thêm nguồn vốn và tăng thu nhập cho người lao động: năm 2000 là 500
triệu đồng, năm 2001 là 700 triệu đồng nên đời sống của người lao động cũng được cải thiện. Năm 2000, thu
nhập bình quân của một lao động là 6,74 triệu đồng, năm 2001, thu nhập bình quân của một lao động là 7,33
triệu đồng.
Như vậy, công ty đã có những hoạt động với những tín hiệu đáng mừng nhưng chưa thật rõ ràng, vững
chắc. Trong những năm tới cần sự cố gắng nhiều hơn nữa của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty. Phải
đồng sức đồng lòng đưa công ty phát triển phù hợp với tiến trình toàn cầu hoá.
1.2.2. Thuận lợi và khó khăn của công ty.
* Thuận lợi:
Công ty là một đơn vị vừa quản lý vừa sản xuất kinh doanh nên một nửa sản lượng được ổn định bằng
vốn giao dế hoạch. Còn lại công ty sản xuất theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm làm ra công ty phải chịu trách nhiệm bán hàng, tự hạch toán chính điều này tạo ra sự độc lập
của công ty.
Công ty có bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển trên một địa bàn ổn định là khu vực
nội thành. Nằm trong trung tâm khu vực kinh tế, thuận lợi trong việc phân phối các mặt hàng.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất kinh doanh.
Công ty được sự quan tâm của các cấp các ngành chủ quản.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi, công ty còn gặp nhiều khó khăn như:
Về vấn đề vốn sản xuất thì công ty vẫn thiếu, phải đi vay thêm ở bên ngoài.
Các sản phẩm của công ty mang tính chất thời vụ, công ty cần mở rộng các sản phẩm hơn nữa.
Máy móc thiết bị phần lớn là rất cũ, sử dụng từ lâu, muốn đổi mới lại gặp khó khăn về vốn.
Trình độ văn hoá của công nhân nói chung là chưa cao.
2. Một số đặc điểm chủ yếu của công ty ảnh hưởng đến năng suất lao động.
2.1. Đặc điểm về quá trình công nghệ.
Hiện nay, công ty có bảy phân xưởng chính: Phân xưởng cơ khí II, phân xưởng cơ khí I, phân xưởng gò
dập, phân xưởng động cơ, phân xưởng sơn tĩnh điện, phân xưởng lắp ráp, phân xưởng cơ điện.
Công ty chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá trong điều kiện cơ sở vật chất chưa được đầu tư

phòng
kỹ thuật
phòng
kinh doanh
phòng
tổ chức
phòng
tài chính
phòng
tổng hợp
phòng
quản trị
phòng
bảo vệ
Kho bán
thành phẩm
Kho thành
phẩm
Px
cơ khí I
Px

Px
động cơ
Px sơn
tĩnh điện
Px
lắp ráp
Px
cơ điện

lao động thuê ngoài, tuy không phải đảm bảo các chính sách, chế độ đối với công nhân sản xuất trong biên
chế của công ty nhưng cũng không thể bỏ qua việc quan tâm đến vấn đề an toàn và sức khỏe của họ.
Lao động trong công ty biến đổi rất nhanh chóng. Do tính chất thời vụ, công việc đột xuất, do yêu
cầu đảm bảo tiến độ của đơn đặt hàng có khi cần một lực lượng lao động rất đông bao gồm nhiều ngành nghề
nhưng có khi lại rất ít lao động được sử dụng. Trong công ty, có những lao động có trong danh sách nhưng

Trích đoạn XÁC ĐỊNH RÕ CHỨC NĂNG CỦA TỪNG PHÒNG BAN, CŨNG NHƯ KẾT CẤU CÔNG NHÂN TẠO ĐỘNG LỰC KHUYẾN KHÍCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status