Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội. - Pdf 32

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Muốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu phải dựa vào
nâng cao năng suất lao động. Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để
nâng cao năng suất lao động là vấn đề luôn được quan tâm từ trước tới
nay.
Trước đây, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sử dụng chỉ tiêu
năng suất lao động để đánh giá chất lượng của các cơ sở kinh tế quốc
dân. Nhưng, từ khi đổỉ mới cơ chế kế hoạch hoá, chỉ tiêu năng suất lao
động ít được chú ý đến, tình hình này làm cho những nghiên cứu tính
toán của các chỉ tiêu năng suất lao động trong ngành cơ khí nói riêng
cũng như toàn nền kinh tế nói chung có phần bị sao nhãng. Vài năm gần
đây nhu cầu đánh giá, xác định hiện trạng của sự phát triển chung nền
kinh tế cũng như trong ngành cơ khí nước ta trong quan hệ giao lưu hợp
tác quốc tế mở rộng, thì các chỉ tiêu năng suất lao động trong ngành cơ
khí đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện hơn.
Với tinh thần đó sau quá trình thực tập tại công ty cơ khí chính xác
số I, em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất
lao động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội’’.
Do quá trình thực tập có hạn, bản chuyên đề của em không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế mong thầy cô giáo, ban lãnh đạo công ty
thông cảm và đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn.
Nội dung của chuyên đề gồm những phần sau:
Phần I: Những lý luận cơ bản về năng suất lao động.
Phần II: Phân tích năng suất lao động tại công ty CKCXI.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại công
ty.
1
PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT

1
. NXB Sự thật. H nà ội, 1960 - trang 26
Luận văn tốt nghiệp
đòi hỏi mối quan hệ lợi ích người lao động-doanh nghiệp-người tiêu dùng.
Tác động tổng hợp cuả năng suất lao động là hoàn thiện chất lượng cuộc sống
con người. Lợi ích từ năng suất được phân chia tốt hơn cho chủ sở hữu, người
lao động và khách hàng.
2. Tăng năng suất lao động.
Tăng năng suất lao động “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của
lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,
một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
một hàng hoá, sao cho số lượng lao động
h
ít hơn mà lại có được sức sản xuất
ra nhiều giá trị sử dụng hơn’’
(3)
.
II. PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT
Việc phân loại năng suất phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có
hai cách phân loại chủ yếu sau:
1. Căn cứ vào tính chất, năng suất chia thành ba loại: tổng năng suất,
năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất bộ phận.
a. Tổng năng suất.
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả các
yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà
không đi sâu phân tích đóng góp của từng yếu tố riêng và được tính theo công
thức sau:
Pt =Qt/ (L+C+R+Q)
Trong đó:
Pt là tổng năng suất.

Luận văn tốt nghiệp
động cá biệt ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống và hầu hết các doanh
nghiệp đều chấp nhận trả công lao động theo năng suất cá biệt hoặc theo
mức độ thực hiện của từng cá nhân.
b. Năng suất của doanh nghiệp.
Năng suất của doanh nghiệp là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp
với tổng đầu vào có điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian
nhất định. Vì thế, cạnh tranh scủa doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí và chất
lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp với chất lượng cao
của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tạo ra sự cạnh tranh của doanh
nghiệp.
c. Năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở một
nước cụ thể. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và
là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là
chỉ số của nền kinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước.
III. NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.
1. Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kính tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Hiệu
quả là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt động kinh
tế cuả doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của
các nước, khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng
suất được hiểu hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức
độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc
khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn.
Tính hiệu qủa chủ yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức
độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ bảo đảm các yêu cầu về xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu
quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và

Luận văn tốt nghiệp
nghề người lao động được nâng cao, tăng khả năng đầu tư vào mở rộng sản
xuất. Nhờ đó lại tạo điều kiện cho tăng năng suất và nó lại tiếp tục làm tăng
khả năng cạnh tranh. Đây là mối quan hệ trong trạng thái phát triển không
ngừng.
3. Mối quan hệ giữa năng suất với tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất và tăng việc làm.
Thực tế cho thấy, nếu không có khả năng tổ chức phát triển tốt, tăng năng suất
không dẫn đến giảm việc làm. Hầu hết các nước có trình độ năng suất cao lại
là những nước giải quyết tốt vấn đề việc làm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tăng năng suất và việc làm như sau:
GDP = (GDP/Việc làm)*Việc làm.
Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự
thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện
sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những
khu vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm, lao
động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
bản và là thước đo hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. Về nguyên
tắc, tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân. Bởi vì:
a. Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
7
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức

năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Nhưng mối
quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện
kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh
nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây.
∆t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
Trong đó : ∆t : là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất
lao động tăng lên.
I
Tl
: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào
phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu
sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá
trị; năng suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện
mức năng suất lao động cuả một công nhân hoặc một công nhân viên.
Công thức tính: W = Q/ T
9
Trong đó:
W là mức năng suất lao động một công nhân hay một công nhân viên.

nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của
doanh nghiệp. Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản
xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi
sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động.
3. Chỉ tiêu tính năng năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động.
Công thức tính là:
L=T/Q
Trong đó L là lượng lao động của sản phẩm (tính theo đơn vị thời gian).
T là thời gian lao động đã hao phí.
Q là số lượng sản phẩm.
Thời gian lao động đã hao phí được tính bằng cách tính thời gian hao
phí của các bước công việc, các chi tiết của sản phẩm và được phân chia
thành: lượng lao động công nghệ (L
cn
), lượng lao động chung(L
ch
), lượng lao
động sản xuất (L
sx
),lượng lao động đầy đủ (LL
đđ
)và được biểu hiện theo công
thức sau:
L
ch
= L
cn
+ L

ql
là lượng lao động quản lý sản
xuất bao gồm lượng thời gian lao động hao phí của cán bộ kỹ thuật, nhân viên
quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động
hao phí của từng bước công việc cũng như từng chi tiết sản phẩm.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời
gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó. Chỉ
tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một
doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Ngoài ba loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính
năng suất lao động khác. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng. Việc
lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng
doanh nghiệp.
V. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có những cách phân loại khác nhau về các yếu tố tác động tới năng
suất lao động. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động có thể được chia
thành ba nhóm sau: các yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người;
các yếu tố gắn liền với phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất; các yếu tố
gắn liền với điều kiện thiên nhiên.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ
nhất làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
thường bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc
thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho các náy
móc cũ.
Cùng với quá trình phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất, trình
độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động ngày một được nâng cao, các
nguyên vật liệu mới với các tính năng đa dạng, tiện lợi và hữu ích hơn ngày
một xuất hiện nhiều thay thế cho các nguyên vật liệu cũ đã kéo theo sự gia
Luận văn tốt nghiệp

năng suất lao động của doanh nghiệp. Việc phân tích những nhân tố nào là tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng không nhỏ
tới năng suất lao động. Sự ảnh hưởng của yếu tố này tới năng suất lao động là
một khách quan. Điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia khác nhau rất khác
nhau và tác động đến năng suất lao động cũng không giống nhau. Điều kiện
đó tạo ra những thuận lợi và khó khăn riêng và con người cần phát huy lợi thế
và hạn chế sự ảnh hưởng không có lợi của tự nhiên. Điều kiện khí hậu nóng
lạnh khác nhau đã tạo ra những sản phẩm khác nhau với giá trị không giống
nhau. Nếu như đất đai ảnh hưởng đến nông nghiệp rất lớn, tạo ra năng suất và
chủng loại cây trồng khác nhau thì sự giàu có về tài nguyên khoáng sản và địa
hình thuận lợi đã tạo điều kiện rất tốt cho công nghiệp khai khoáng với giá
thành rẻ hơn và năng suất khai thác cao hơn.
Con người đã khai thác những nguồn năng tiềm tàng của tự nhiên để
phục vụ cho cuộc sống với hiệu quả khai thác và sử dụng ngày càng cao. Và
việc hạn chế những tác hại của tự nhiên cũng đã được tiến hành từ khi xuất
hiện loài người. Tuy nhiên, con người vẫn chưa ngăn ngừa hoàn toàn được sự
tác hại của tự nhiên đối với sản xuất, cũng như chưa thể khai thác hết tiềm
năng của tự nhiên. Vì vậy, sự tác động của tự nhiên tới năng suất lao động vẫn
tồn tại một cách khách quan.
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ CHÍNH XÁC SỐ I THANH XUÂN HÀ NỘI
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành, phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của

năm 1979 đến nay, công ty đã có nhiều sản phẩm đa dạng:
Các loại quạt như: quạt bàn, quạt cây, quạt treo tường, quạt hút công
nghiệp.
Sản xuất động cơ, phụ tùng cơ khí, các sản phẩm ngành điện nhằm đáp
ứng nhu cầu thị trường tạo công ăn việc làm cho người lao động và tăng
doanh thu cho công ty.
Sản xuất bơm thuỷ lực, bơm nước, các phụ kiện lắp đặt ngành nước.
Dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng phương tiện vận tải đường bộ và kinh doanh
xe máy.
Các sản phẩm khác như: nhựa, bao bì, bàn nâng hạ xe máy…. giúp cho
công ty chủ động sản xuất kinh doanh ngay cả khi thị trường có biến động.
Công ty tổ chức lại hệ thống kinh doanh tiêu thụ sản phẩm để phù hợp
với yêu cầu của xu hướng của thời đại mới: mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi
mới phương pháp kinh doanh đưa hàng đến tận các đại lý, các hộ tiêu thụ, tổ
chức hội nghị khách hàng, tổ chức dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng sau bán hàng.
Đẩy mạnh công tác thị trường, thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, tham
gia hội chợ, triển lãm kinh tế kỹ thuật.
1.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh và những thuận lợi khó khăn.
1.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 1996-2001.
Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước làm ăn độc lập tự hạch toán. Từ
khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, do có sự thay đổi nên công ty
Luận văn tốt nghiệp
đã gặp không ít khó khăn nhưng nhờ sự quyết tâm, đồng sức đồng lòng của
các cán bộ và lao động trong công ty. Nhờ vậy, công ty đã dần vượt qua
những khó khăn bước đầu. Kết qủa sản xuất kinh doanh của công ty những
năm gần đây được đánh giá qua một số chỉ tiêu chủ yếu trong biểu dưới đây:
KẾT QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH QUA CÁC NĂM 1996-2001
Biểu số 1
Chỉ tiêu Đơn
vị

i
580 498 462 402 430 450
a. Lao động quản lý, CM,
KT
Ngườ
i
178 170 125 90 90 94
b. Công nhân sản xuất Ngườ
i
402 328 337 312 340 356
4. Tổng quỹ tiền lương Ngườ
i
2100 2100 2200 2300 2400 2600
5. Nộp ngân sách Triệu
đồng
231 435 649 856 1133 1300
6. Lợi nhuận Triệu
đồng
-
1352
-814 -152 3 30 100
7. NSLĐ bình quân (7=1/3,
7=2/3)
Triệu
đồng
25,1
7
22,1
4
30,7

các năm. Giá trị tổng sản lượng năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là
4700 triệu đồng, tăng tương đối là 25,68%. Giá trị tổng sản lượng năm 2001
tăng tuyệt đối so với năm 2000 là 2200 triệu đồng, tăng tương đối là 10,58%.
Tổng doanh thu năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là 5400 triệu đồng,
tăng tương đối là 36,99%. Tổng doanh thu năm 2001 so với năm 2000 tăng
tuyệt đối là 3000 triệu đồng, tăng tương đối là 17,65%.
Giá trị tổng sản lượng và doanh thu đều tăng dần qua các năm và tốc độ
tăng khá cao, trung bình từ 10% trở lên, mặc dù số lượng lao động giảm dần
qua các năm. Năm 2000 giảm 130 lao động so với năm 1996, tổng số cán bộ
công nhân viên năm 1999 giảm so với năm 1996 là 78 người. Lý do công ty
mở rộng sản xuất mua những máy móc hiện đại thay thế những máy móc cũ
kỹ lạc hậu, khấu hao tàu sản thì lớn, tống nguyên vật liệu, tốn điện. Với sự
đầu tư đó, công ty vừa tăng doanh thu giá trị tổng sản lượng, vừa tiết kiệm
được chi phí để sản xuất sản phẩm. Nhưng từ năm 2000, tăng lên 28 lao động
so với năm 1999, năm 2001 tăng 20 lao động so với năm 2000 do công ty
tuyển thêm những lao động có tay nghề, trình độ cao để đáp ứng được yêu
cầu đổi mới công nghệ sản xuất của công ty.
Giá trị tổng sản lượng và tổng doanh thu tăng qua các năm qua nhưng
lợi nhuận của công ty thu được ở mức thấp, thậm chí trong ba năm 1996-
1998, công ty còn làm ăn thua lỗ. Nhất là năm 1996, công ty bị thua lỗ cao
nhất là 1352 triệu đồng. Nhưng từ năm 1999-2000, lợi nhuận của công ty đã
có chiều hướng tăng lên khá nhanh. Năm 1999, lợi nhuận của công ty là 3
Luận văn tốt nghiệp
triệu đồng, đến năm 2001 tăng hơn 10 lần. Nguyên nhân là do năm 1996-
1997, công ty chưa kịp thời đổi mới nên sản phẩm không cạnh tranh được với
sản phẩm ngoại nhập từ Thái Lan, Trung Quốc. Nhưng từ năm 1999-2001,
công ty đã bắt đầu làm ăn có hiệu quả do sản phẩm đã được đổi mới, cải tiến
cạnh tranh được với sản phẩm ngoại nhập và dần lấy lại được uy tính của
công ty.
Năng suất lao động bình quân một công nhân viên năm 2001 so với

nửa sản lượng được ổn định bằng vốn giao dế hoạch. Còn lại công ty sản xuất
theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm làm ra công ty phải chịu trách nhiệm bán hàng, tự hạch toán
chính điều này tạo ra sự độc lập của công ty.
Công ty có bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển trên
một địa bàn ổn định là khu vực nội thành. Nằm trong trung tâm khu vực kinh
tế, thuận lợi trong việc phân phối các mặt hàng.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong việc
sản xuất kinh doanh.
Công ty được sự quan tâm của các cấp các ngành chủ quản.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi, công ty còn gặp nhiều khó khăn như:
Về vấn đề vốn sản xuất thì công ty vẫn thiếu, phải đi vay thêm ở bên
ngoài.
Các sản phẩm của công ty mang tính chất thời vụ, công ty cần mở rộng
các sản phẩm hơn nữa.
Máy móc thiết bị phần lớn là rất cũ, sử dụng từ lâu, muốn đổi mới lại
gặp khó khăn về vốn.
Trình độ văn hoá của công nhân nói chung là chưa cao.
2. Một số đặc điểm chủ yếu của công ty ảnh hưởng đến năng suất lao
Luận văn tốt nghiệp
động.
2.1. Đặc điểm về quá trình công nghệ.
Hiện nay, công ty có bảy phân xưởng chính: Phân xưởng cơ khí II,
phân xưởng cơ khí I, phân xưởng gò dập, phân xưởng động cơ, phân xưởng
sơn tĩnh điện, phân xưởng lắp ráp, phân xưởng cơ điện.
Công ty chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá trong điều kiện cơ
sở vật chất chưa được đầu tư thiết bị đổi mới. Hầu hết thiết bị đã xuống cấp,
công nghệ trở nên lạc hậu, năng suất lao động kém, cơ sở hạ tầng xuống cấp
nghiêm trọng. Đời sống của người lao động gặp không ít khó khăn đã ảnh

độ tay nghề của lao động trong công ty. Thực hiện chấm công hàng
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY
Ghi chú: → Quan hệ trực tiếp
↔ Quan hệ phối hợp
tháng để trả lương cho công nhân và chế độ chính sách của Nhà nước về lao
động tiền lương.
- Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất, ký hợp
đồng mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cung ứng vật tư sản xuất, công tác
quản lý hệ thống kho bán thành phẩm nội bộ và mua ngoài.
- Phòng kỹ thuật: thiết kế và chế tạo sản phẩm, xây dựng quy trình
công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm,
huấn luyện nông cao tay nghề công nhân.
- Phòng kinh doanh: tạo lập thị trường tiêu thụ, giới thiệu và quảng cáo
sản phẩm, quản lý hệ thống kho thành phẩm và tổ chức hệ thống bán buôn
bán lẻ.
- Phòng kế toán tài chính: quản lý tài sản của công ty. Tạo nguồn vốn
phục vụ sản xuất, sử dụng tài chính doanh nghiệp đúng chế độ. Thống kê sản
xuất kinh doanh, báo cáo theo quy định của công ty và Nhà nước, phân tích
hoạt động kinh tế giảm giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đảm
bảo cho sự phát triển của công ty.
- Văn phòng giám đốc: chịu trách nhiệm trong công tác xây dựng sơ
bản, chống nóng, chống giột, chống ngập, y tế, khám chữa bệnh chăm lo sức
khoẻ công nhân viên, công tác vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, tổ
chức ăn giữa ca, công tác văn phòng, công tác văn thư.
- Phòng bảo vệ: bảo vệ sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự trong công ty,
phòng ngừa kẻ xấu phá hoại. Bảo vệ chính trị nội bộ, phòng chống cháy nổ,
các tệ nạn xã hội và các công tác quốc phòng.
2.3 Đặc điểm nhân lực.
Năm 2002, tổng số cán bộ công nhân viên công ty là 458 người. Trong
đó, có 362 người là công nhân sản xuất trực tiếp, còn lại 96 người là cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status